Về bản chất dân Tây Nguyên tồn tại dưới hình thức các bộ lạc Nguyên Thủy từ thời loài người mới hình thành
Có rất nhiều bộ lạc như thế ở Tây Nguyên
Triều đại đầu tiên xác nhận chủ quyền Tây Nguyên là vương quốc Chân lạp của đế chế yayavarman
Đế chế này là các vua kiệt xuất đã tạo nên đế chế Chân Lạp chinh phục cả Chiêm Thành Bồn Man lẫn toàn bộ vùng Xiêm La ngày nay
Đế chế này cũng nhiều lần tấn công Đại Việt ở vùng Thanh Nghệ cho đến khi cái chết của suriyavarman II ở Vụ Quang.
Sau đó đế quốc Chân Lạp suy tàn dần và bị Xiêm La là một thuộc quốc của họ tiêu diệt.
Chưa kể bị người Chiêm đánh bại ở vùng Tây Nguyên đất Tây Nguyên thuộc vương quốc Chiêm Thành.
Hiện tại ở Tây Nguyên có rất nhiều chứng tích và tháp Chăm pa có niên đại từ thế kỷ 13 đến 15
Sau đó Đại Việt bắt đầu lớn mạnh và đỉnh điểm là Lê Thánh Tông đánh bại Chiêm thành chia Chiêm thành làm 3 vương quốc
Một nhóm hoàng tộc Chăm chạy lên Tây Nguyên thành lập vương quốc Nam Bàn
Vương quốc này chỉ tồn tại trên danh nghĩa vì họ không thể kiểm soát được các bộ lạc nguyên thủy của Tây Nguyên cư trú trong rừng già.
Cho đến thế kỷ 18 anh em Nhạc Huệ khởi nghĩa
Địa bàn đầu tiên của nhóm này là ở Tây Nguyên
Nhạc Huệ có nhận gốc Chăm để liên lạc với các thủ lĩnh dân tộc bản địa ở Tây Nguyên làm căn cứ cho cuộc khởi nghĩa
Sau khi Tây Sơn thất bại thì Tây Nguyên tồn tại dưới dạng các bộ lạc nguyên thủy như xưa mà sử nhà Nguyễn gọi chung là vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá.
Căn cứ mộc bản nhà Nguyễn
Theo Mộc bản sách Đại Nam thực lục thì nước Thủy Xá và Hỏa Xá xưa gọi là Nam Bàn, là dòng dõi Chiêm Thành, Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, lập cho con cháu vua nước ấy gọi là nước Nam Bàn, ở phía tây núi Thạch Bi, cắt đất từ núi Thạch Bi trở về phía Tây ban cho. Nước có độ hơn 50 thôn, trong nước có núi Bà Nam rất cao, Thủy vương ở phía Đông núi, Hỏa vương ở phía Tây núi. Bản triều ta thời sơ quốc cho là địa giới giáp Phú Yên, nên 5 năm một lần sai người đến nước đó ban cho các phẩm vật.
Tháng 4 năm 1840, vua Minh Mạng sai người đi xem xét bờ cõi, núi sông của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá. Trấn Tây dâng sớ tâu: Hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá ở gần nhau, nếu đi từ phía Đông huyện Sơn Bốc, trải qua 15 hôm mới đến chỗ Quốc trưởng nước Thủy Xá ở. Đất ấy phía Đông giáp nước Hỏa Xá, phía Tây giáp huyện Sơn Bốc, phía Nam giáp man Đen Đen, phía Bắc giáp man Lai. Chỗ ở ba mặt có núi ngăn trở, một mặt là cánh đồng rộng, trong có nhà dân ước 100 nóc. Còn Quốc trưởng nước Hỏa Xá thì ở cách Thủy Xá ước độ 3 ngày. Đất của Hỏa Xá toàn là cánh đồng rộng, không có núi sông hiểm trở.
Bản triều ta buổi đầu cho là địa giới của Thủy Xá và Hỏa giáp Phú Yên, nên 5 năm một lần sai người tới nước đó cho các phẩm vật như áo mũ gấm, nồi đồng, xanh đồng và đồ sứ như chén dĩa. Hai nước được ban phẩm vật liền mang các vật phẩm của địa phương như kỳ nam, sáp vàng, lộc nhung, mật gấu và voi đực sang dâng.
Năm Tân Mùi, Thế Tông Hoàng đế năm thứ 13 (1751), hai nước đến cống, vua hậu đãi rồi cho về. Về sau họ cứ theo lệ thường, đến cống. Tới khi có loạn Tây Sơn, hai nước không đến cống nữa. Đầu năm Gia Long, sứ hai nước đến Phú Yên nộp lễ vật, vua thết đãi sứ giả rồi cho về.
Minh Mạng năm đầu, Quốc trưởng Thủy Xá là Ma Ất sai sứ mang các vật đã được ban cho là đồng thau, sáp vàng làm tin, tới bảo Phúc Sơn, trấn Phú Yên, nộp lễ vật xin cống. Năm Nhâm Ngọ, Minh Mạng thứ 3 (1822), Ma Ất chết, việc sang cống không làm xong. Năm Quý Mùi, Minh Mạng thứ 4 (1823), người trong nước suy tôn em của Ma Ất là Ma Mú lên làm vua, Ma Mú cố từ chối, chỉ tạm thay làm việc nước. Ma Mú lại sai sứ xin cống nhưng chưa đi thì Ma Mú chết, em Ma Mú là Ma Lam nối dựng, thường muốn sang thông hiếu nhưng không tìm được người để sai đi sứ.
Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), tháng 5, gặp lễ tứ tuần vạn thọ đại khánh tiết của Hiến Tổ Chương Hoàng đế, hai nước sai sứ sang cung tiến 2 lễ: Lễ vật chúc mừng và cống phẩm vật tiến cống.
Năm Kỷ Mão, Tự Đức thứ 32 (1879), vua hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá sai Sơn Ngôi, Kiều Tầm đến dâng lễ chúc mừng là 2 chiếc ngà voi, vua liền ban cho vua hai nước ấy sắc Dụ và phẩm vật gồm kim tiền hạng vừa có 2 con rồng, mỗi người 1 đồng; kim tiền có chữ “Vạn sự như ý”, mỗi người 1 đồng; ngân tiền phi long hạng lớn, hạng nhỏ đều 1 đồng; ngân tiền có 2 con rồng hạng nhỏ đều 1 đồng; tiền đồng lớn mỹ hiệu mạ bạc 10 đồng; sa vũ hoa sắc đỏ 2 tấm, sa hoa chính tơ 2 tấm; chén uống rượu bằng pha lê trắng đều 1 bộ, chén độc bạt sắc trắng vẽ vàng của nước Tây 4 cái; ấm pha chè bằng sứ vẽ hoa văn cây mẫu đơn và con phượng 2 cái; đĩa hạng vừa bằng đồ sứ hình bầu dục vẽ hình con voi, con hổ, cổ đồ, hoa cỏ 2 cái.