Tính chính danh của triều đại tây sơn , xamer namky nghe xong khỏi cãi 🤮

  • Tạo bởi Tạo bởi Hssh
  • Start date Start date
Xét 1 cách công bằng tao thấy cả quang trung và nguyễn ánh đều đáng được ghi danh. Mỗi nên đều có cái được và cái không được. Nếu coi ánh vs huệ là hán sở tranh hùng thì sẽ nghĩ khác. Chẳng qua 1 lũ não phẳng bảo thủ, thằng đéo nào cũng cho mình là đúng, là nhất ( bản chất người việt nam rồi) nên mới chửi nhau như mấy thằng ngu kiểunnayf
Bản chất loài khỉ tư duy nhị nguyên mà
 
Cái loại vua mà đi sang nước ngoài dẫn quân đội nước ngoài về xâm lược nước nhà thì mất hết tính chính danh rồi con ạ, tao biết mày phe bảo hoàng thờ Nguyễn Ánh căm thù Quang Trung nên khi động đến vấn đề này mày luôn xù lông để bảo vệ nahf Nguyễn bất kể thế nào. Nhưng nên dùng con mắt khách quan mà đánh giá khi Quang Trung đánh quân Thanh là được tiếng chống ngoại xâm rồi nên tính chính dnah là rõ ràng.
Phò mã trung hoa mãi đỉnh 🇨🇳🇨🇳🇨🇳
 
địt cụ con chó lê chiêu thống là phản quốc đéo tính tiền nó gọi Hoa Hạ sang nên đánh chết nó vẫn được !
Giờ thằng Tổng Bí Thư gọi Hoa Hạ đem quân sang Hà Nội xem Quân Khu 5-7-9 có đập chết cụ Tổng Bí thư hay không !
Vua Đại Việt muốn đấm mà gọi giặc Hán sang là đấm chết cụ luôn chứ Vua muốn làm gì làm à !
Chính Lê Chiêu Thống đi nước cờ sai lầm khi gọi Đại Thanh sang nên Huệ mới có cớ tạo phản đấm chết cụ nhà Lê đó con chó!
Nếu không Huệ vẫn xưng Chúa phò Vua Lê rồi!
Thằng vua Lê nếu biết khôn thì ngồi im mà ăn oản !
Nó Lê Mạt !
Mầy xem có tên đường Lê Chiêu Thống + Nguyễn Ánh hay không ?
2 con chó đó gọi Giặc Thanh - Xiêm sang đánh đồng bào ! Tội phản quốc đáng chém đầu !

Lê Chiêu Thống (Lê Chiêu Thống) là vị vua cuối cùng của triều đại Hậu Lê Việt Nam, nổi tiếng với việc cầu viện nhà Thanh (Trung Quốc) chống Tây Sơn, dẫn đến thất bại và phải lưu vong, qua đời tại Yên Kinh (Bắc Kinh) ở tuổi 28 vào năm 1793. Ông được biết đến với biệt danh "vua cõng rắn cắn gà nhà", là nhân vật lịch sử gắn liền với sự sụp đổ của triều Hậu Lê và sự trỗi dậy của nhà Tây Sơ
“ Trong cuộc gặp của Hồ Chí Minh Mao Trạch Đông Trường Sa, Hồ Nam ngày 16/05/1965, ông Hồ xin Mao viện trợ xây 12 con đường ở Bắc Việt và được Mao đồng ý. Sau khi có lệnh cua Mao, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc nhanh chóng lên kế họach đưa 100 nghìn công binh sang xây đường cho Bắc Việt…

Ngay tháng 6/1965, đã có bảy sư đoàn công binh Trung Quốc bắt đầu lần lượt vào Việt Nam.

Sư đoàn CPVEF (quân tình nguyện) đầu tiên gồm 6 trung đoàn công binh và 10 tiểu đoàn phòng không…Quân số của sư đoàn này lên đến đỉnh cao là 32700 quân, ở Việt Nam từ 23/06/1965 đến cuối 1969…

Sư đoàn thứ 2 gồm ba trung đoàn công binh, một thủy lợi, một vận tải biển, một vận tải…để xây dựng tuyến phòng thủ ven biển, các trạm thông tin liên lạc trên 15 đảo ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ và 8 cứ điểm ven bờ…

Sư đoàn thứ 3 gồm toàn bộ ba trung đoàn công binh cho không quân, chủ yếu để xây sân bay Yên Bái…

Sư đoàn thứ 4, 5 và 6 chuyên xây cầu và các tuyến xa lộ nối Quảng Châu với Cao Bằng, Thái Nguyên và Hà Nội. Họ cũng xây đường nối Côn Minh với Yên Bái và các tuyến đường dọc biên giới Việt Trung. Tổng cộng cho đến tháng 10/1968, họ đã xây 1206 km đường, 395 cầu…

Sư đoàn thứ 7 vào thay sư đoàn 2, đến Việt Nam tháng 12/1966, gồm các trung đoàn công binh và bảy tiểu đoàn phòng không.

“Tháng 7/1965, Trung – Việt đạt thỏa thuận tăng cường quân Trung Quốc nhập Việt để lo công tác phòng không.

Ngày 9 tháng 8/1965, cao xạ Trung Quốc thuộc sư đoàn 61, đến đóng tại Yên Bái mới 4 ngày trước, đã bắn hạ máy bay Mỹ đầu tiên, một chiếc F-4, theo các tài liệu của phía Trung Quốc.

Ngày 23/08, sư đoàn 63 bảo vệ Kép lại bắn hạ một phi cơ Mỹ và làm hư hại một chiếc khác.

Nhìn chung, từ tháng 8/1965 đến tháng 3/1969, có tổng số 16 sư đoàn, gồm 63 trung đoàn quân Trung Quốc thuộc binh chủng phòng không (150 nghìn quân) tham chiến tại Việt Nam.

Áp dụng chiến thuật từ Cuộc chiến Triều Tiên, bộ tư lệnh Trung Quốc cho luân chuyển quân tại Việt Nam, mỗi đơn vị thường ở 6 tháng rồi được thay.

Phía Trung Quốc nêu ra các con số nói họ đã tham chiến 2154 trận và bắn rơi 1707 phi cơ Mỹ, làm hư hại 1608 chiếc.”
 
“ Trong cuộc gặp của Hồ Chí Minh Mao Trạch Đông Trường Sa, Hồ Nam ngày 16/05/1965, ông Hồ xin Mao viện trợ xây 12 con đường ở Bắc Việt và được Mao đồng ý. Sau khi có lệnh cua Mao, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc nhanh chóng lên kế họach đưa 100 nghìn công binh sang xây đường cho Bắc Việt…

Ngay tháng 6/1965, đã có bảy sư đoàn công binh Trung Quốc bắt đầu lần lượt vào Việt Nam.

Sư đoàn CPVEF (quân tình nguyện) đầu tiên gồm 6 trung đoàn công binh và 10 tiểu đoàn phòng không…Quân số của sư đoàn này lên đến đỉnh cao là 32700 quân, ở Việt Nam từ 23/06/1965 đến cuối 1969…

Sư đoàn thứ 2 gồm ba trung đoàn công binh, một thủy lợi, một vận tải biển, một vận tải…để xây dựng tuyến phòng thủ ven biển, các trạm thông tin liên lạc trên 15 đảo ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ và 8 cứ điểm ven bờ…

Sư đoàn thứ 3 gồm toàn bộ ba trung đoàn công binh cho không quân, chủ yếu để xây sân bay Yên Bái…

Sư đoàn thứ 4, 5 và 6 chuyên xây cầu và các tuyến xa lộ nối Quảng Châu với Cao Bằng, Thái Nguyên và Hà Nội. Họ cũng xây đường nối Côn Minh với Yên Bái và các tuyến đường dọc biên giới Việt Trung. Tổng cộng cho đến tháng 10/1968, họ đã xây 1206 km đường, 395 cầu…

Sư đoàn thứ 7 vào thay sư đoàn 2, đến Việt Nam tháng 12/1966, gồm các trung đoàn công binh và bảy tiểu đoàn phòng không.

“Tháng 7/1965, Trung – Việt đạt thỏa thuận tăng cường quân Trung Quốc nhập Việt để lo công tác phòng không.

Ngày 9 tháng 8/1965, cao xạ Trung Quốc thuộc sư đoàn 61, đến đóng tại Yên Bái mới 4 ngày trước, đã bắn hạ máy bay Mỹ đầu tiên, một chiếc F-4, theo các tài liệu của phía Trung Quốc.

Ngày 23/08, sư đoàn 63 bảo vệ Kép lại bắn hạ một phi cơ Mỹ và làm hư hại một chiếc khác.

Nhìn chung, từ tháng 8/1965 đến tháng 3/1969, có tổng số 16 sư đoàn, gồm 63 trung đoàn quân Trung Quốc thuộc binh chủng phòng không (150 nghìn quân) tham chiến tại Việt Nam.

Áp dụng chiến thuật từ Cuộc chiến Triều Tiên, bộ tư lệnh Trung Quốc cho luân chuyển quân tại Việt Nam, mỗi đơn vị thường ở 6 tháng rồi được thay.

Phía Trung Quốc nêu ra các con số nói họ đã tham chiến 2154 trận và bắn rơi 1707 phi cơ Mỹ, làm hư hại 1608 chiếc.”
cái Lồn má mầy ngu quá 1 bên đổ quân trực tiếp sang đánh 29 vạn quân chiếm hà nội so với mấy thằng công binh làm nhiệm vụ phá đường !
còn Bác Hồ đã dặn rồi nhận vũ khí + công binh chứ không nhận lính !
Gọi Lính sang thì ai kiểm soát đám lính đó !
Lính thì có súng đạn còn công binh thì chỉ có cuốc xẻng thôi con chó !
Mầy có hiểu binh sĩ Mỹ có qua làm nhiệm vụ cứu trợ thiên tai lũ lụt nó khác với tham chiến nhé con chó !
Đám VNCH thua vì cho Mỹ đổ quân tham chiến trực tiếp giết người Đại Việt là rõ !
Bên Bắc Việt mầy TÌM THẤY BẰNG CHỨNG NÀO TRUNG HOA GIẾT DÂN VIỆT NAM TRONG 1945-1975 CHƯA !
CHỨ THẢM SÁT BÊN HOA KỲ + ĐẠI HÀN THÌ QUÁ NHIỀU BẰNG CHỨNG NHÉ CON CHÓ PHÚC ÁNH GỌI XIÊM !
 
“ Trong cuộc gặp của Hồ Chí Minh Mao Trạch Đông Trường Sa, Hồ Nam ngày 16/05/1965, ông Hồ xin Mao viện trợ xây 12 con đường ở Bắc Việt và được Mao đồng ý. Sau khi có lệnh cua Mao, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc nhanh chóng lên kế họach đưa 100 nghìn công binh sang xây đường cho Bắc Việt…

Ngay tháng 6/1965, đã có bảy sư đoàn công binh Trung Quốc bắt đầu lần lượt vào Việt Nam.

Sư đoàn CPVEF (quân tình nguyện) đầu tiên gồm 6 trung đoàn công binh và 10 tiểu đoàn phòng không…Quân số của sư đoàn này lên đến đỉnh cao là 32700 quân, ở Việt Nam từ 23/06/1965 đến cuối 1969…

Sư đoàn thứ 2 gồm ba trung đoàn công binh, một thủy lợi, một vận tải biển, một vận tải…để xây dựng tuyến phòng thủ ven biển, các trạm thông tin liên lạc trên 15 đảo ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ và 8 cứ điểm ven bờ…

Sư đoàn thứ 3 gồm toàn bộ ba trung đoàn công binh cho không quân, chủ yếu để xây sân bay Yên Bái…

Sư đoàn thứ 4, 5 và 6 chuyên xây cầu và các tuyến xa lộ nối Quảng Châu với Cao Bằng, Thái Nguyên và Hà Nội. Họ cũng xây đường nối Côn Minh với Yên Bái và các tuyến đường dọc biên giới Việt Trung. Tổng cộng cho đến tháng 10/1968, họ đã xây 1206 km đường, 395 cầu…

Sư đoàn thứ 7 vào thay sư đoàn 2, đến Việt Nam tháng 12/1966, gồm các trung đoàn công binh và bảy tiểu đoàn phòng không.

“Tháng 7/1965, Trung – Việt đạt thỏa thuận tăng cường quân Trung Quốc nhập Việt để lo công tác phòng không.

Ngày 9 tháng 8/1965, cao xạ Trung Quốc thuộc sư đoàn 61, đến đóng tại Yên Bái mới 4 ngày trước, đã bắn hạ máy bay Mỹ đầu tiên, một chiếc F-4, theo các tài liệu của phía Trung Quốc.

Ngày 23/08, sư đoàn 63 bảo vệ Kép lại bắn hạ một phi cơ Mỹ và làm hư hại một chiếc khác.

Nhìn chung, từ tháng 8/1965 đến tháng 3/1969, có tổng số 16 sư đoàn, gồm 63 trung đoàn quân Trung Quốc thuộc binh chủng phòng không (150 nghìn quân) tham chiến tại Việt Nam.

Áp dụng chiến thuật từ Cuộc chiến Triều Tiên, bộ tư lệnh Trung Quốc cho luân chuyển quân tại Việt Nam, mỗi đơn vị thường ở 6 tháng rồi được thay.

Phía Trung Quốc nêu ra các con số nói họ đã tham chiến 2154 trận và bắn rơi 1707 phi cơ Mỹ, làm hư hại 1608 chiếc
cái lồn má mầy ngu quá 1 bên đổ quân trực tiếp sang đánh 29 vạn quân chiếm hà nội so với mấy thằng công binh làm nhiệm vụ phá đường !
còn Bác Hồ đã dặn rồi nhận vũ khí + công binh chứ không nhận lính !
Gọi Lính sang thì ai kiểm soát đám lính đó !
Lính thì có súng đạn còn công binh thì chỉ có cuốc xẻng thôi con chó !
Mầy có hiểu binh sĩ Mỹ có qua làm nhiệm vụ cứu trợ thiên tai lũ lụt nó khác với tham chiến nhé con chó !
Đám VNCH thua vì cho Mỹ đổ quân tham chiến trực tiếp giết người Đại Việt là rõ !
Bên Bắc Việt mầy TÌM THẤY BẰNG CHỨNG NÀO TRUNG HOA GIẾT DÂN VIỆT NAM TRONG 1945-1975 CHƯA !
CHỨ THẢM SÁT BÊN HOA KỲ + ĐẠI HÀN THÌ QUÁ NHIỀU BẰNG CHỨNG NHÉ CON CHÓ PHÚC ÁNH GỌI XIÊM !
Cái thằng atlas nó là rớt rãi của nhà Nguyên sót lại nên cứ động đến Quang Trung là nó nhảy ngược lên ý mà, bình thường nó lý luận cũng đc nhưng cứ động đến cụ tổ nhà nó là nó chả cần lý luận gì sất, toàn trích dẫn với nói huyên thuyên, xưa nó ở otofun cũng mở thớt nói xấu Quang Trung tôn vinh Nguyễn Ánh bị các cụ bên đấy bem cho ko ngóc đầu lên đc mới chui sang đây để chém.
 
cái lồn má mầy ngu quá 1 bên đổ quân trực tiếp sang đánh 29 vạn quân chiếm hà nội so với mấy thằng công binh làm nhiệm vụ phá đường !
còn Bác Hồ đã dặn rồi nhận vũ khí + công binh chứ không nhận lính !
Gọi Lính sang thì ai kiểm soát đám lính đó !
Lính thì có súng đạn còn công binh thì chỉ có cuốc xẻng thôi con chó !
Mầy có hiểu binh sĩ Mỹ có qua làm nhiệm vụ cứu trợ thiên tai lũ lụt nó khác với tham chiến nhé con chó !
Đám VNCH thua vì cho Mỹ đổ quân tham chiến trực tiếp giết người Đại Việt là rõ !
Bên Bắc Việt mầy TÌM THẤY BẰNG CHỨNG NÀO TRUNG HOA GIẾT DÂN VIỆT NAM TRONG 1945-1975 CHƯA !
CHỨ THẢM SÁT BÊN HOA KỲ + ĐẠI HÀN THÌ QUÁ NHIỀU BẰNG CHỨNG NHÉ CON CHÓ PHÚC ÁNH GỌI XIÊM !
Theo Hoàng Tùng viết trong hồi ký Những kỷ niệm về Bác Hồ thì: khi thấy cố vấn Trung Quốc bảo phải xử tử Nguyễn Thị Năm, Hoàng Quốc Việt (ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên ban lãnh đạo Cải cách Ruộng đất trung ương, phụ trách Cải cách ở Thái Nguyên) đến báo cáo với Hồ Chí Minh ý kiến của cố vấn. Hồ Chí Minh hứa với Hoàng Quốc Việt sẽ nói với Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo trong cải cách ruộng đất, nhưng ông không làm.Hơn nữa, Hồ Chí Minh đã giữ im lặng vì sợ gây mâu thuẫn với cố vấn Trung Quốc. Hồ Chí Minh nói: "Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, mà người phụ nữ ấy lại là người từng nuôi cán bộ ********, là mẹ một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức!". Cũng theo hồi ký của Hoàng Tùng thì: "Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc". Họp Bộ Chính trị, Hồ Chí Minh nói: "Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại giúp đỡ cho cách mạng.", "Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa".Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Hồ Chí Minh nói: "Thôi, tôi theo đa số chứ tôi vẫn cứ cho là không phải", và họ cứ thế làm
 
Theo Hoàng Tùng viết trong hồi ký Những kỷ niệm về Bác Hồ thì: khi thấy cố vấn Trung Quốc bảo phải xử tử Nguyễn Thị Năm, Hoàng Quốc Việt (ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên ban lãnh đạo Cải cách Ruộng đất trung ương, phụ trách Cải cách ở Thái Nguyên) đến báo cáo với Hồ Chí Minh ý kiến của cố vấn. Hồ Chí Minh hứa với Hoàng Quốc Việt sẽ nói với Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo trong cải cách ruộng đất, nhưng ông không làm.Hơn nữa, Hồ Chí Minh đã giữ im lặng vì sợ gây mâu thuẫn với cố vấn Trung Quốc. Hồ Chí Minh nói: "Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, mà người phụ nữ ấy lại là người từng nuôi cán bộ ********, là mẹ một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức!". Cũng theo hồi ký của Hoàng Tùng thì: "Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc". Họp Bộ Chính trị, Hồ Chí Minh nói: "Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại giúp đỡ cho cách mạng.", "Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa".Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Hồ Chí Minh nói: "Thôi, tôi theo đa số chứ tôi vẫn cứ cho là không phải", và họ cứ thế làm
Lồn chính sách thì tùy thời mỗi thời mỗi quan điểm nhưng không được rước giặc về giết dân Đại Việt !
Bất cứ kẻ nào phạm tội là phản quốc ! Chém đầu !
 
lồn chính sách thì tùy thời mỗi thời mỗi quan điểm nhưng không được rước giặc về giết dân Đại Việt !
Bất cứ kẻ nào phạm tội là phản quốc ! Chém đầu !

46 năm Thủ tướng Hun Sen tìm đường cứu nước​

Thạch Thông (Phóng viên THVN tại Campuchia)GoogleNews


0.5x0.75x1.00x1.25x1.5x

Nữ miền BắcNam miền BắcNam miền NamNữ miền Nam

VTV.vn - Cách đây 46 năm, Trung tá Hun Sen khi đó 25 tuổi cùng đồng đội đã sang Việt Nam để tìm sự giúp đỡ lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot.​



Sáng nay, Campuchia long trọng tổ chức kỷ niệm 46 năm ngày Thủ tướng Hun Sen vượt biên giới sang Việt Nam tìm sự cứu giúp nhằm giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng Pol Pot.

Vào ngày 20/6/1977, tại làng Koh Tha-mor, xã Tunloung, huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, giáp với tỉnh Bình Phước, Trung tá Hun Sen khi đó 25 tuổi cùng 4 đồng đội của mình đã vượt qua biên giới sang Việt Nam để tìm sự giúp đỡ lật đổ chế độ diệt chủng bạo tàn Pol Pot.

Theo Thủ tướng Campuchia Hun Sen, quyết định vượt biên giới sang Việt Nam của ông được thực hiện trong tâm trạng giằng xé khi bỏ lại người vợ đang mang thai và dù hy vọng tìm được sự giúp đỡ từ chính quyền Việt Nam rất nhỏ, nhưng để cứu đất nước và nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, ông phải đánh đổi và cược cả tính mạng của mình.

lồn chính sách thì tùy thời mỗi thời mỗi quan điểm nhưng không được rước giặc về giết dân Đại Việt !
Bất cứ kẻ nào phạm tội là phản quốc ! Chém đầu !
Bên Bắc Việt mầy TÌM THẤY BẰNG CHỨNG NÀO TRUNG HOA GIẾT DÂN VIỆT NAM TRONG 1945-1975 CHƯA !
CHỨ THẢM SÁT BÊN HOA KỲ + ĐẠI HÀN THÌ QUÁ NHIỀU BẰNG CHỨNG NHÉ CON CHÓ PHÚC ÁNH GỌI XIÊM !
 

46 năm Thủ tướng Hun Sen tìm đường cứu nước​

Thạch Thông (Phóng viên THVN tại Campuchia)GoogleNews


0.5x0.75x1.00x1.25x1.5x

Nữ miền BắcNam miền BắcNam miền NamNữ miền Nam

VTV.vn - Cách đây 46 năm, Trung tá Hun Sen khi đó 25 tuổi cùng đồng đội đã sang Việt Nam để tìm sự giúp đỡ lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot.​



Sáng nay, Campuchia long trọng tổ chức kỷ niệm 46 năm ngày Thủ tướng Hun Sen vượt biên giới sang Việt Nam tìm sự cứu giúp nhằm giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng Pol Pot.

Vào ngày 20/6/1977, tại làng Koh Tha-mor, xã Tunloung, huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, giáp với tỉnh Bình Phước, Trung tá Hun Sen khi đó 25 tuổi cùng 4 đồng đội của mình đã vượt qua biên giới sang Việt Nam để tìm sự giúp đỡ lật đổ chế độ diệt chủng bạo tàn Pol Pot.

Theo Thủ tướng Campuchia Hun Sen, quyết định vượt biên giới sang Việt Nam của ông được thực hiện trong tâm trạng giằng xé khi bỏ lại người vợ đang mang thai và dù hy vọng tìm được sự giúp đỡ từ chính quyền Việt Nam rất nhỏ, nhưng để cứu đất nước và nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, ông phải đánh đổi và cược cả tính mạng của mình.
Hunsen cũng là thằng phản quốc thôi mời ngoại bang vào giết dân Cam!
Nó xứng đáng chém đầu !
 
Hunsen cũng là thằng phản quốc thôi mời ngoại bang vào giết dân Cam!
Nó xứng đáng chém đầu !
Vậy sao các anh kêu là nó đi tìm đường cứu nước.
Thế Hồ Chí Minh thì sao?
 
lồn chính sách thì tùy thời mỗi thời mỗi quan điểm nhưng không được rước giặc về giết dân Đại Việt !
Bất cứ kẻ nào phạm tội là phản quốc ! Chém đầu !


Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: Ảnh Hưởng Của Cố Vấn Trung Quốc (phần 1)


Hình ảnh một vụ đấu tố trong thời cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam​

Được mô phỏng theo kinh nghiệm của Trung Quốc, cải cách ruộng đất do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện giai đoạn 1953-56 có lẽ là chính sách đối nội quan trọng nhất của cách mạng ******** Việt Nam. Tuy nhiên, vì sự khan hiếm của các nguồn tài liệu chính, có rất ít thông tin về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc đối với chính sách này. Khuyến nghị của La Quý Ba về việc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất là một trong số rất ít tài liệu được biết đến do một cố vấn hàng đầu của Trung Quốc soạn thảo cho giới lãnh đạo ******** Việt Nam. Việc cung cấp tài liệu này giúp bạn đọc có một cái nhìn rõ hơn về quan điểm và sự đánh giá của Trung Quốc về tình hình Việt Nam vào đầu những năm 1950. Nó cũng làm sáng tỏ khía cạnh về vai trò và ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc trong quan hệ Trung – Việt vào thập kỷ đó, cũng như đối với những quyết định của Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giới lãnh đạo đảng ******** Việt Nam, đặc biệt trong chương trình cải cách ruộng đất, vốn đã gây nhiều tranh cãi hơn nửa thế kỷ qua.



Vào ngày 9 tháng 10 năm 1952, một tài liệu dài bảy trang, viết bằng tiếng Việt với tựa “Ý kiến sơ bộ về vận động quần chúng năm 1953” đã được chuyển đến Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Trực tiếp và có kế hoạch, bản khuyến nghị đã vạch ra các bước vận động quần chúng. Có thể lập luận bản khuyến nghị này là khuôn mẫu cho cuộc vận động quần chúng và cải cách ruộng đất do Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐ Việt Nam) thực hiện từ năm 1953 đến năm 1956. Cuộc vận động đã thúc đẩy sự ủng hộ của nông dân với chính quyền, điều vô cùng cần thiết cho việc đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 và tạo điều kiện cho Đảng Lao động củng cố quyền lực của mình ở miền Bắc. Cuộc vận động quần chúng cũng là một chiến dịch bạo lực mang lại sự thay đổi “long trời lở đất” mà hầu hết người Việt Nam ở nông thôn miền Bắc đã trải qua trong những năm 1950.

Bản khuyến nghị gởi đến Hồ Chí Minh tầm đầu tháng 10, được ký vào ngày 3 tháng 9 năm 1952 bởi “Quý” – viết tắt của La Quý Ba, trưởng đoàn Cố vấn Chính trị Trung Quốc tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1951 đến năm 1954, và là đại sứ đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) từ năm 1954 đến năm 1957.

Số lượng nghiên cứu lịch sử về các cuộc chiến ở Việt Nam trong thế kỷ XX rất lớn và đang phát triển, nhưng rất ít bài viết về mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946–54) và Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1959-75). Một số ít nghiên cứu được xuất bản có xu hướng nhấn mạnh mối quan hệ giữa và quá trình ra quyết định, chính sách của các nhà lãnh đạo tầm quốc gia, những chủ đề như tình đồng chí giữa Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh hay ảnh hưởng ngoại giao của Chu Ân Lai đối với việc đàm phán Hiệp định Geneva 1954. Một số tài liệu thảo luận về sự hiện diện của các cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam, và đặc biệt là ảnh hưởng của họ trong trận Điện Biên Phủ và chiến dịch cải cách ruộng đất của VNDCCH. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong số này thường chỉ phân nhóm các nhân sự Trung Quốc được cử sang Việt Nam một cách mơ hồ với cụm từ “cố vấn Trung Quốc” nhưng rất ít nỗ lực để giải thích những cố vấn này là ai, họ đóng vai trò cụ thể nào trong việc ảnh hưởng giới lãnh đạo của ĐLĐ Việt Nam và VNDCCH.

Nhấn mạnh bản ý kiến của La Quý Ba gởi cho giới lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam và đặc biệt là Hồ Chí Minh, tôi lập luận về sự cần thiết nên phổ biến và nghiên cứu bản tài liệu lịch sử quan trọng này. Lý do vì nó làm sáng tỏ vai trò và ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc trong quan hệ Việt – Trung trong những năm 1950, đặc biệt là về chiến dịch cải cách ruộng đất gây tranh cãi của VNDCCH. Tài liệu này quan trọng vì một số lý do. Thứ nhất, nó bối cảnh hóa mối quan hệ giữa ******** Trung Quốc và VNDCCH trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, đặc biệt khi mối quan hệ đó liên quan đến việc tiếp thu kinh nghiệm và thực hành mô hình của Trung Quốc vào Việt Nam thông qua các cố vấn Trung Quốc và các khuyến nghị của họ. Thứ hai, nó mô tả vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp của các cố vấn Trung Quốc trong việc hình thành và thực hiện chính sách cải cách ruộng đất ở Việt Nam từ 1953 đến 1956.​


Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: Ảnh Hưởng Của Cố Vấn Trung Quốc (phần 2)


Cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam 1953 – 1956​

Khuyến nghị sơ bộ​

La Quý Ba trình bày đề xuất của mình vào thời điểm Đảng Lao Động Việt Nam đã thu hút được sự ủng hộ của cả Liên Xô và CHND Trung Quốc, những quốc gia ******** hùng mạnh nhất thế giới. Sự hỗ trợ này làm giảm bớt nhu cầu của ĐLĐ Việt Nam phải dựa vào giới địa chủ và nông dân khá giả để có nguồn lực chống lại Pháp. Nó đã tạo cho ĐLĐ Việt Nam sự ủng hộ để thực hiện cải cách ruộng đất như một chiến lược xã hội, kinh tế và chính trị hầu củng cố quyền lực địa lý và chính trị ở nông thôn. Đề xuất này cũng được đưa ra hai năm sau khi CHND Trung Quốc bắt đầu thực hiện chương trình cải cách ruộng đất của riêng họ vào mùa hè năm 1950. Do đó, CHND Trung Quốc và các cố vấn được cử sang Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm liên quan. Chưa kể trước đấy, La Quý Ba cũng đã có được kinh nghiệm của riêng mình khi thực hiện cải cách ruộng đất ở Giang Tây và Diên An trong những năm 1930. Kinh nghiệm này cho La Quý Ba đủ điều kiện để đề xuất với giới lãnh đạo Việt Nam đường lối vận động quần chúng và tiến hành cải cách ruộng đất.

Được chia thành sáu phần, bản khuyến nghị của La Quý Ba nêu ra mục đích, yêu cầu và các bước cần thiết để lãnh đạo phong trào vận động quần chúng, tổ chức lại hệ thống làng-xã và giành ưu thế chính trị ở nông thôn. Mục tiêu cơ bản được đề ra là kích động quần chúng tấn công lật đổ tầng lớp địa chủ, giành quyền kiểm soát chính trị ở nông thôn, xoa dịu nông dân, tăng gia sản xuất nông nghiệp và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp. Mục tiêu rộng hơn của đề xuất này là phác thảo các bước cần thiết nhằm tích lũy tài nguyên và sự ủng hộ của số đông để ĐLĐ Việt Nam củng cố vị trí của mình. Nó được viết ra (đặc biệt là các nguyên tắc cơ bản được đặt ra trong phân đoạn thứ tư) dựa trên quan điểm của cố vấn Trung Quốc nhằm thúc giục lãnh đạo Việt Nam áp dụng “lập trường vững” và “thái độ rõ rệt” để vượt qua nỗi sợ hãi rằng việc huy động quần chúng sẽ làm cho mặt trận thống nhất bị hoang mang và chia rẽ, dẫn đến những phản ứng không lành từ giai cấp địa chủ.

Sự khuyến khích này từ La Quý Ba dường như đã đóng một vai trò trong việc khởi xướng động thái của ĐLĐ Việt Nam từ mục tiêu “kéo địa chủ về phe kháng chiến” sang nhấn mạnh vào việc “trung lập một số địa chủ, đánh đuổi đế quốc và đại địa chủ phong kiến phản động.” Nó cũng thể hiện sự trấn an của cố vấn Trung Quốc đối với ban lãnh đạo ĐLĐ Việt Nam rằng việc đổi mặt đối các tầng lớp giàu có và đặc quyền đã từng ủng hộ chính quyền VNDCCH và cuộc kháng chiến trước đây sẽ không gây ra rủi ro quá đáng, vì CHND Trung Quốc (cũng như Liên Xô) sẽ thay thế các nhóm này làm hậu thuẫn về mặt quân sự và tài chính chính cho cuộc cách mạng của ĐLĐ Việt Nam.

clip_image001

Văn bản Ý kiến sơ bộ về vận động quần chúng của cố vấn Trung Quốc La Quý Ba. Hình do tác giả cung cấp​

 

Sự hiện diện của La Quý Ba và các cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam​

La Quý Ba đã chuẩn bị bản “Ý kiến sơ bộ về vận động quần chúng năm 1953” vào thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đang cần nhất sự viện trợ của CHND Trung Quốc dưới hình thức vũ khí, vật chất cũng như những cố vấn chính trị và quân sự. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần củng cố quyền lực và giành được sự ủng hộ của số đông quần chúng để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ba năm trước, vào năm 1949, Đảng Lao động dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã sa lầy vào cuộc chiến tranh du kích kéo dài với người Pháp. Liên Xô, ngọn hải đăng của chủ nghĩa ******** quốc tế đã quan tâm đến châu Âu hơn là với những diễn biến cách mạng ở Đông Nam Á. Cùng lúc, Mao Trạch Đông và Đảng ******** Trung Quốc (ĐCSTQ) thì lại bận rộn với cuộc nội chiến dữ dội chống lại chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch. Mãi đến khi Mao Trạch Đông chiến thắng và tuyên bố thành lập nước CHND Trung Quốc vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, hy vọng cách mạng của Hồ Chí Minh và ĐLĐ Việt Nam mới được hồi sinh. Tháng 12 năm 1949, Hồ Chí Minh cử hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy sang Bắc Kinh để đề nghị Trung Quốc hỗ trợ và công nhận ngoại giao đối với chính phủ của ông.

clip_image001[7]

Văn bản ý kiến sơ bộ về vận động quần chúng của chuyên gia Trung Quốc La Quý Ba. Hình tư liệu do tác giả cung cấp​

Khi nhận được yêu cầu của Hồ Chí Minh, quyền chủ tịch của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ Lưu Thiếu Kỳ đã triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị ĐCSTQ vào ngày 24 tháng 12 nhằm xem xét tình hình Đông Dương. Bốn ngày sau, Lưu Thiếu Kỳ thay mặt cho Ủy ban Trung ương ĐCSTQ gọi điện cho Hồ Chí Minh để nêu rõ rằng CHND Trung Quốc sẽ đồng ý thành lập quan hệ ngoại giao với VNDCCH và rằng Chính phủ CHND Trung Quốc sẽ cử một nhóm đại diện sang Việt Nam nhằm đánh giá các nhu cầu của VNDCCH. Đến đầu năm 1950, Trung Quốc đã mở cửa liên lạc với Việt Nam. Lưu Thiếu Kỳ, được sự ủy quyền của Mao Trạch Đông khi ông ấy đang trên đường thăm Matxcơva, đã chọn La Quý Ba làm lãnh đạo đại diện liên lạc của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ. La Quý Ba được chọn bởi kinh nghiệm cách mạng và lãnh đạo du kích của mình. Ngày 16 tháng 1 năm 1950, La Quý Ba chính thức lên đường sang Việt Nam.

Sinh ngày 14 tháng 7 năm 1908 tại huyện Nam Khang – tỉnh Giang Tây, La Quý Ba trở thành đảng viên của ĐCSTQ vào tháng 1 năm 1927. Từ năm 1927 đến năm 1934, ông là một chỉ huy quân sự và là một trong những thành viên sáng lập của Căn cứ Cách mạng Xô viết Nam Giang Tây. Từ tháng 11 năm 1930 đến tháng 5 năm 1931, ông tham gia vào cuộc phản công của Hồng quân Công nhân và Nông dân Trung Quốc chống lại chiến dịch bao vây lần thứ nhất và thứ hai của chính phủ Quốc dân đảng ở Giang Tây. Sau sự sụp đổ của căn cứ Nam Giang Tây, La Quý Ba tham gia cuộc vạn lý trường chinh dài một năm đến Diên An từ tháng 10 năm 1934 đến tháng 10 năm 1935, và ông nằm trong số tám nghìn người ước tính còn sống sót sau cuộc rút lui lịch sử này. Trong chiến dịch quân sự ngày 20 tháng 8 đến ngày 5 tháng 12 năm 1940 chống lại lực lượng Nhật Bản ở miền Trung Trung Quốc, được gọi là "Đại chiến Bách Đoàn," La Quý Ba giữ chức Tư lệnh Mặt trận quân Nam của Khu vực biên giới Sơn Tây – Tuy Viễn. Trước khi được bổ nhiệm làm đại diện liên lạc của Trung Quốc tại Việt Nam, La Quý Ba từng là tổng đốc của Tổng văn phòng Ủy ban Quân sự Trung ương của CHND Trung Quốc.

clip_image001[5]

Một trang trong ý kiến sơ bộ về vận động quần chúng của chuyên gia Trung Quốc La Quý Ba. Hình do tác giả cung cấp​

Với tư cách là đại diện liên lạc của CHND Trung Quốc với VNDCCH, nhiệm vụ của La Quý Ba bao gồm thiết lập liên lạc với lãnh đạo ******** Việt Nam, điều tra tình hình chung ở Việt Nam và báo cáo những phát hiện của ông cho Bắc Kinh để các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể đưa ra quyết định hỗ trợ VNDCCH. Trước chuyến đi, La Quý Ba đã gặp gỡ các đại biểu Việt Nam tại Bắc Kinh để làm quen với các phong tục và tập quán Việt Nam. Tháp tùng La Quý Ba trong chuyến đi Việt Nam có 8 nhân viên, bao gồm nhân viên điện báo, thư ký và bảo vệ. La Quý Ba cùng cộng sự đến Việt Nam vào ngày 26 tháng 2 năm 1950. Đến nơi, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Bí thư ĐLĐ Việt Nam Trường Chinh đón tiếp. Chuyến đi tưởng chỉ chừng ba tháng của La Quý Ba đã kéo dài thành bảy năm.

Trong những năm đầu ở Việt Nam, La Quý Ba đã giúp thành lập Nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc và Nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc. Với tư cách là người đứng đầu Nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc, La Quý Ba lãnh đạo hơn một trăm cố vấn có chuyên môn về tài chính, ngân hàng và cung cấp ngũ cốc để tư vấn cho VNDCCH về các vấn đề quân sự, tài chính và kinh tế, an ninh công cộng, văn hóa và giáo dục, và các vấn đề như hoạt động của mặt trận thống nhất, hợp nhất đảng và pháp luật cải cách. Công việc của họ bao gồm giới thiệu kinh nghiệm của Trung Quốc cho Việt Nam; phát triển các chiến lược cấp vĩ mô và các thủ tục hoạch định chính sách; đưa ra khuyến nghị về các vấn đề liên quan đến các quy tắc, quy định và chỉ thị; và giúp giới lãnh đạo Việt Nam thực hiện các chương trình. Đến năm 1952, những cố vấn này đã trở thành công cụ giúp Hồ Chí Minh và chính phủ của ông thành lập các bộ máy pháp lý và các chính sách để củng cố quyền lực quân sự và chính trị xã hội.

Xem kế hoạch của La Quý Ba về huy động quần chúng và thực hiện giai đoạn thử nghiệm của cải cách ruộng đất năm 1953 sẽ cho thấy ảnh hưởng của Trung Quốc đối với VNDCCH tại thời điểm này. Sau khi ký vào ngày 3 tháng 9 năm 1952, La Quý Ba đã gởi bản ý kiến sơ bộ của mình cho “Thận” – tức Lê Văn Thận, một tên khác của Trường Chinh, người sau này làm trưởng ban chỉ đạo Ủy ban chỉ đạo Cải cách ruộng đất. Không rõ bản ký kiến này được chuyển cho Trường Chinh trong hoàn cảnh nào, nhưng rất có thể nó đã được chuyển đến tay tổng bí thư Đảng Lao động trước hoặc trong dịp La Quý Ba được mời tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị Đảng Lao động vào đầu-giữa tháng 9 năm 1952. Ngày 9 tháng 10 năm 1952, Trường Chinh ra lệnh cho nhân viên văn phòng của mình chuyển bản ý kiến của La Quý Ba cho Hồ Chí Minh, ngay lúc ông Hồ đang trên một chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh và Matxcơva. Hồ Chí Minh đã rời Việt Nam vào giữa tháng 9 và đến Bắc Kinh vào ngày 29 tháng 9. Thời gian ở lại Bắc Kinh của ông chủ yếu là để thảo luận với các nhà lãnh đạo Trung Quốc về Chiến dịch Tây Bắc và các kế hoạch chiến lược khác, bao gồm cả cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh và ĐLĐ Việt Nam có thể đã sắp xếp chuyến đi để kịp thời cho ông tham gia đi cùng trong phái đoàn của CHND Trung Quốc sang tham dự Đại hội lần thứ mười chín của Đảng ******** Liên Xô.

Do đó, bản ý kiến của La Quý Ba có thể đã đến tay Hồ Chí Minh khi ông đang ở Matxcơva tham dự đại hội (từ ngày 5 đến ngày 14 tháng 10 năm 1952) và gặp trực tiếp Joseph Stalin – lãnh tụ tối cao của Liên bang Xô Viết, để thông báo cho ông ấy về tình hình Việt Nam, bao gồm mục tiêu cách mạng ở Việt Nam và vấn đề cải cách ruộng đất. Sau cuộc gặp với Stalin vào ngày 28 tháng 10, Hồ Chí Minh đã gửi hai bức thư cho Stalin vào ngày 30 và 31 tháng 10, để thông báo về tiến độ của chương trình cải cách ruộng đất của Việt Nam và kêu gọi sự trợ giúp của ông ta. Trong bức thư đầu tiên, Hồ Chí Minh nói rằng ông đã bắt đầu phát triển chương trình cải cách ruộng đất ở Việt Nam và ông sẽ trình bày nó với Stalin. Trong bức thư thứ hai, Hồ Chí Minh vạch ra chương trình cải cách ruộng đất của ĐLĐ Việt Nam và yêu cầu Stalin xem xét và cho chỉ thị. Hồ Chí Minh cho biết ông đã lên kế hoạch cho chương trình với sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ và Vương Giá Tường, đại sứ CHND Trung Quốc tại Liên Xô từ năm 1949 đến 1951. Trong các cuộc trao đổi này, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Stalin cử các quan chức Liên Xô sang Việt Nam để khảo sát điều kiện và yêu cầu bổ sung 10 tấn thuốc trị sốt rét, vũ khí và cho phép Việt Nam gửi từ 50 đến một trăm sinh viên Việt Nam sang Liên Xô để huấn luyện quân sự và tư tưởng. Ngày 29 tháng 11, trong thư từ biệt Stalin, Hồ Chí Minh viết rằng ông sẽ làm việc siêng năng để thực hiện cải cách ruộng đất và tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh chống Pháp. Ông bày tỏ hy vọng sẽ trở lại Matxcơva sau hai hoặc ba năm để báo cáo về kết quả của những nỗ lực đó.

 
Vậy sao các anh kêu là nó đi tìm đường cứu nước.
Thế Hồ Chí Minh thì sao?
Hồ không kéo giặc Nga Hán vào Đại Việt giết dân Việt nhé mầy !
Thằng nào kêu ngoại bang vào giết dân là chém đầu !
 
Chiến tranh,làm chính trị thì phải bất chấp thủ đoạn.Đòi làm quân tử thì có cức
 
Hồ không kéo giặc Nga Hán vào Đại Việt giết dân Việt nhé mầy !
Thằng nào kêu ngoại bang vào giết dân là chém đầu !
Bản dịch bức thư viết ngày 30/10/1952


Đồng chí I. V. Stalin kính mến

Tôi đã bắt đầu soạn bản dự thảo chương trình ruộng đất[5] của Đảng Lao Động Việt Nam, bản dự tháo này sẽ được đệ trình đồng chí muộn một chút.

Tôi xin gửi tới đồng chí các yêu cầu dưới đây, hy vọng nhận được chỉ thị của đồng chí về các yêu cầu đó:


  1. Biệt phái một hoặc hai đồng chí Liên Xô đến Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu tình hình nơi ấy. Nếu các đồng chí đó biết tiếng Pháp thì họ có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi cần khoảng 10 ngày đi đường.
  2. Nên chăng chúng tôi có thể gửi 50-100 học sinh đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam tới Liên Xô để học tập, trong số họ có người là đảng viên và không đảng viên, độ tuổi của họ từ 17 đến 22. Đồng chí đồng ý về vấn đề này chứ?
  3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc Ký ninh trong một năm để dùng cho quân đội và dân chúng, có nghĩa là 5 tấn trong mỗi nửa năm.
  4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau:
(a) Pháo phòng không 37 mm cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

(b) Pháo dã chiến 76,2 mm cho hai trung đoàn, tất cả 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

(c) Súng máy phòng không 12,7 mm – 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

Sau khi nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moskva vào ngày 8 hoặc 9 tháng Mười Một.

Gửi đồng chí lời chào cộng. sản và lời chúc tốt đẹp nhất!

Hồ Chí Minh

Ngày 30 tháng Mười năm 1952

Bản dịch bức thư viết ngày 31/10/1952


Đồng chí I.V. Stalin kính mến
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Chương trình ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo chương trình này do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường[6] Đề nghị đồng chí xem xét bản dự thảo này và cho chỉ thị về văn bản đó.

Gửi đồng chí lời chào cộng .sản!

Hồ Chí Minh

Ngày 31 tháng Mười năm 1952.

Chữ ký tiếng Việt

[Mấy chữ Nga viết rất nhỏ và không rõ ở dưới cùng có lẽ là ghi chú của cơ quan tiếp nhận thư này: Các bản sao gửi cho Malenkov, Molotov và Grigorian (?). 1/11/1952…]

Hồ Anh Hải sưu tầm, biên dịch và ghi chú
 
Hồ không kéo giặc Nga Hán vào Đại Việt giết dân Việt nhé mầy !
Thằng nào kêu ngoại bang vào giết dân là chém đầu !
586.000 nạn nhân trong cải cách ruộng đất.

Trong đợt cải cách ruộng đất đẫm máu diễn ra trong các năm 1955-1956 ở miềm Bắc có 586.000 nạn nhân của cải cách ruộng đất.

Gần đây, đảng ******** lại đưa ra con số nạn nhân “chính xác nhất” là 172.008 người, trong đó có 123.266 người (71,66%) được chính thức xác nhận là oan. Con số này ghi trong một tài liệu được biên soạn rất công phu, in ấn rất thẩm mỹ nhưng có lẽ ít ai đọc: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản. Có lẽ vì rất ít người đọc, nên con số rất quan trọng này chưa được ai nhắc lại. Tuy nhiên con số này cũng còn mang tính mù mờ.

Trước hết, con số 172.008 này là những người bị đem xét xử? Tài liệu không nói rõ, nhưng giả thuyết đúng nhất vẫn là những người bị giết vì ít nhất ba lý do:

1. Tài liệu nói rằng, đợt cải cách được thực hiện tại 3.563 xã với mười triệu dân và tỷ lệ được qui định trước là 5,68% (trang 85, tập II), một con số tùy tiện nhưng lại có dáng dấp như kết quả của một tính toán rất chính xác. Tỷ lệ này được các cai đội cải cách ruộng đất thi hành một cách máy móc, vì tài liệu nói các xã cố “truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một qui định bắt buộc” (trang 86, Tập II). Nếu như vậy, tổng số người bị xét xử phải trên 500.000 người chứ không phải 172.008 người.

2. Không có, hay chỉ có rất ít người bị xử án tù, vì ngay sau năm 1956 đợt cải cách ruộng đất đã bị coi là một sai lầm. Cũng không thấy tài liệu nào nói đến trường hợp những người bị đem xét xử được trắng án hay bị xử tử cả. Như vậy, phải hiểu rằng đã có khoảng 586.000 người bị xét xử, trong đó 172.008 người bị giết, những người khác đã bị hành hạ và sau đó được tha trong chính sách sửa sai.

3. Có một mâu thuẫn lớn giữa bản thống kê và báo cáo của bộ chính trị Đảng ******** Việt Nam tháng 10-1956 về số đảng viên bị xét xử. Theo bảng thống kê thì tổng số nạn nhân “thuộc thành phần kháng chiến” là 586 người (trong đó có 290 người sau đó được coi là oan), trong khi theo báo cáo của bộ chính trị thì tổng số đảng viên bị “xử trí” lên tới 84.000 người Đây là một sai biệt quá lớn. Như vậy phải hiểu rằng nạn nhân của bảng thống kê là những người đã bị giết. Bản báo cáo cũng ghi nhận : “hàng vạn đảng viên có nhiều công lao bị xử oan, phải chịu những nhục hình rất tàn khốc dã man”. Như vậy rõ ràng con số 586 người “thuộc thành phần kháng chiến” bị giết chứ không phải bị “xử trí” hay bắt giam, con số 172.008 nạn nhân ghi trong bảng thống kê là những người bị giết.

Về thành phần của con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau : Địa chủ cường hào gian ác : 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%). Địa chủ thường : 82.777 người, trong đó 51.480 người bị oan (62%). Địa chủ kháng chiến : 586 người, trong đó 290 bị oan (49%). Phú nông : 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%). Tổng cộng : 172.008 nạn nhân, trong đó 123.266 người bị oan : 71,66%.

Cũng cần lưu ý rằng đây chỉ là những nạn nhân thuộc thành phần nông dân. Ngoài ra còn có một đợt cải tạo “tư sản mại bản” cũng đẫm máu không kém nhưng số nạn nhân ít hơn vì giới buôn bán chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.

Đợt cải cách ruộng đất này là một cuộc thảm sát hàng loạt và một tội ác đối với loài người theo công ước quốc tế, vì một trong những tội ác đối với loài người được qui định rõ ràng là hành hạ, ngược đãi hoặc giết một số người vì thành phần xã hội, tín ngưỡng hoặc quan điểm của họ.

Tố Hữu, trưởng ban tuyên truyền trung ương, người được cho là tác giả của câu thơ:

“Giết, giết nữa bàn tay không chút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong”;

Tố Hữu sau đó tiếp tục lên tới chức Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, tức Phó Thủ tướng thứ nhất nước Việt Nam thống nhất. Sau này, khi đã về già, Tố Hữu viết trong hồi ký (xuất bản năm 2000) như sau:

“Không thể kể hết những cảnh tượng bi thảm mà những người bị qui oan là địa chủ, ác bá phải chịu đựng ở những nơi được phát động”, nhưng không nói gì đến những người “không bị qui oan”.
 
cái Lồn đó đéo phải kéo giặc Nga + Hán vào đấm dân chết !
Thằng rước Hoa Kỳ + Đại Hàn vào giết 5 triệu lính Đại Việt là bọn VNCH Thiệu xứng đáng chém đầu !
586.000 nạn nhân trong cải cách ruộng đất.

Trong đợt cải cách ruộng đất đẫm máu diễn ra trong các năm 1955-1956 ở miềm Bắc có 586.000 nạn nhân của cải cách ruộng đất.

Gần đây, đảng ******** lại đưa ra con số nạn nhân “chính xác nhất” là 172.008 người, trong đó có 123.266 người (71,66%) được chính thức xác nhận là oan. Con số này ghi trong một tài liệu được biên soạn rất công phu, in ấn rất thẩm mỹ nhưng có lẽ ít ai đọc: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản. Có lẽ vì rất ít người đọc, nên con số rất quan trọng này chưa được ai nhắc lại. Tuy nhiên con số này cũng còn mang tính mù mờ.

Trước hết, con số 172.008 này là những người bị đem xét xử? Tài liệu không nói rõ, nhưng giả thuyết đúng nhất vẫn là những người bị giết vì ít nhất ba lý do:

1. Tài liệu nói rằng, đợt cải cách được thực hiện tại 3.563 xã với mười triệu dân và tỷ lệ được qui định trước là 5,68% (trang 85, tập II), một con số tùy tiện nhưng lại có dáng dấp như kết quả của một tính toán rất chính xác. Tỷ lệ này được các cai đội cải cách ruộng đất thi hành một cách máy móc, vì tài liệu nói các xã cố “truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một qui định bắt buộc” (trang 86, Tập II). Nếu như vậy, tổng số người bị xét xử phải trên 500.000 người chứ không phải 172.008 người.

2. Không có, hay chỉ có rất ít người bị xử án tù, vì ngay sau năm 1956 đợt cải cách ruộng đất đã bị coi là một sai lầm. Cũng không thấy tài liệu nào nói đến trường hợp những người bị đem xét xử được trắng án hay bị xử tử cả. Như vậy, phải hiểu rằng đã có khoảng 586.000 người bị xét xử, trong đó 172.008 người bị giết, những người khác đã bị hành hạ và sau đó được tha trong chính sách sửa sai.

3. Có một mâu thuẫn lớn giữa bản thống kê và báo cáo của bộ chính trị Đảng ******** Việt Nam tháng 10-1956 về số đảng viên bị xét xử. Theo bảng thống kê thì tổng số nạn nhân “thuộc thành phần kháng chiến” là 586 người (trong đó có 290 người sau đó được coi là oan), trong khi theo báo cáo của bộ chính trị thì tổng số đảng viên bị “xử trí” lên tới 84.000 người Đây là một sai biệt quá lớn. Như vậy phải hiểu rằng nạn nhân của bảng thống kê là những người đã bị giết. Bản báo cáo cũng ghi nhận : “hàng vạn đảng viên có nhiều công lao bị xử oan, phải chịu những nhục hình rất tàn khốc dã man”. Như vậy rõ ràng con số 586 người “thuộc thành phần kháng chiến” bị giết chứ không phải bị “xử trí” hay bắt giam, con số 172.008 nạn nhân ghi trong bảng thống kê là những người bị giết.

Về thành phần của con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau : Địa chủ cường hào gian ác : 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%). Địa chủ thường : 82.777 người, trong đó 51.480 người bị oan (62%). Địa chủ kháng chiến : 586 người, trong đó 290 bị oan (49%). Phú nông : 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%). Tổng cộng : 172.008 nạn nhân, trong đó 123.266 người bị oan : 71,66%.

Cũng cần lưu ý rằng đây chỉ là những nạn nhân thuộc thành phần nông dân. Ngoài ra còn có một đợt cải tạo “tư sản mại bản” cũng đẫm máu không kém nhưng số nạn nhân ít hơn vì giới buôn bán chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.

Đợt cải cách ruộng đất này là một cuộc thảm sát hàng loạt và một tội ác đối với loài người theo công ước quốc tế, vì một trong những tội ác đối với loài người được qui định rõ ràng là hành hạ, ngược đãi hoặc giết một số người vì thành phần xã hội, tín ngưỡng hoặc quan điểm của họ.

Tố Hữu, trưởng ban tuyên truyền trung ương, người được cho là tác giả của câu thơ:

“Giết, giết nữa bàn tay không chút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong”;

Tố Hữu sau đó tiếp tục lên tới chức Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, tức Phó Thủ tướng thứ nhất nước Việt Nam thống nhất. Sau này, khi đã về già, Tố Hữu viết trong hồi ký (xuất bản năm 2000) như sau:

“Không thể kể hết những cảnh tượng bi thảm mà những người bị qui oan là địa chủ, ác bá phải chịu đựng ở những nơi được phát động”, nhưng không nói gì đến những người “không bị qui oan”.
 
cái lồn đó đéo phải kéo giặc Nga + Hán vào đấm dân chết !
Thằng rước Hoa Kỳ + Đại Hàn vào giết 5 triệu lính Đại Việt là bọn VNCH Thiệu xứng đáng chém đầu !
Thế gọi là gì?
Thế bọn rước tàu xô vào giết dân Việt Nam thì gọi là gì
 
Thế gọi là gì?
Thế bọn rước tàu xô vào giết dân Việt Nam thì gọi là gì
Quân Vương có quyền thiết quân luật thằng nào không nghe chém đầu miễn sao không rước giặc vào nước giết dân là được !
Con chó Phúc Ánh rước Xiêm xứng đáng bị chém đầu !
 
Quân Vương có quyền thiết quân luật thằng nào không nghe chém đầu miễn sao không rước giặc vào nước giết dân là được !
Con chó Phúc Ánh rước Xiêm xứng đáng bị chém đầu !
Quân vương kiểu gì phải xin chỉ thị của ngoại bang để lôi dân Việt Nam ra giết
Lịch sử Việt Nam có quân vương nào xin chỉ thị ngoại bang rước ngoại bang vào giết dân Việt Nam công khai như thế không?

Quân Vương có quyền thiết quân luật thằng nào không nghe chém đầu miễn sao không rước giặc vào nước giết dân là được !
Con chó Phúc Ánh rước Xiêm xứng đáng bị chém đầu !
Đồng chí I.V. Stalin kính mến
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Chương trình ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo chương trình này do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường[6] Đề nghị đồng chí xem xét bản dự thảo này và cho chỉ thị về văn bản đó.

Gửi đồng chí lời chào cộng .sản!

Hồ Chí Minh

Ngày 31 tháng Mười năm 1952.
 
cái lồn đó đéo phải kéo giặc Nga + Hán vào đấm dân chết !
Thằng rước Hoa Kỳ + Đại Hàn vào giết 5 triệu lính Đại Việt là bọn VNCH Thiệu xứng đáng chém đầu !
Ở diễn đàn khác khi có min mod bảo kê đe dọa xóa bài khóa nick bọn mày có thể thắng
Còn ở xam khi mọi thứ tự do và không có min mod bảo kê thì bọn mày đéo có cơ hội gì đâu
 
Quân vương kiểu gì phải xin chỉ thị của ngoại bang để lôi dân Việt Nam ra giết
Lịch sử Việt Nam có quân vương nào xin chỉ thị ngoại bang rước ngoại bang vào giết dân Việt Nam công khai như thế không?


Đồng chí I.V. Stalin kính mến
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Chương trình ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo chương trình này do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường[6] Đề nghị đồng chí xem xét bản dự thảo này và cho chỉ thị về văn bản đó.

Gửi đồng chí lời chào cộng .sản!

Hồ Chí Minh

Ngày 31 tháng Mười năm 1952.
Cẹc Lồn
 
Quân vương kiểu gì phải xin chỉ thị của ngoại bang để lôi dân Việt Nam ra giết
Lịch sử Việt Nam có quân vương nào xin chỉ thị ngoại bang rước ngoại bang vào giết dân Việt Nam công khai như thế không?


Đồng chí I.V. Stalin kính mến
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Chương trình ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo chương trình này do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường[6] Đề nghị đồng chí xem xét bản dự thảo này và cho chỉ thị về văn bản đó.

Gửi đồng chí lời chào cộng .sản!

Hồ Chí Minh

Ngày 31 tháng Mười năm 1952.
Cẹc Lồn Quân Vương có quyền giết bất cứ thằng dân đen nào dám chống đối chế độ !
Hiện tại mỗi năm biết bao nhiêu vụ tai nạn giao thông chết 1 vạn người mỗi năm đấy con chó !
Đéo ai kêu ca chế độ cả !
Khi nào rước ngoại bang vào giết dân mới tính là phản quốc !
Luật xưa giờ thế rồi !
Thằng nào làm sai thì chém đầu !

 

Có thể bạn quan tâm

Top