Có Hình Các triều đại ở Việt Nam tồn tại được bao nhiêu năm ?

MOSS

Chúa tể đa cấp
Aruba
images



Nhà Ngô: 26 năm
Nhà Đinh: 12 năm
Nhà Tiền Lê: 29 năm
Nhà Lý: 216 năm
Nhà Trần: 174 năm
Nhà Hồ: 7 năm
Nhà Hậu Lê: 99 năm
Nhà Lê Trung Hưng: 256 năm (Trịnh Nguyễn)
Nhà Tây Sơn: 24 năm
Nhà Nguyễn: 143 năm
 
Nó đã chia 2 nước rồi
Chia thành Đàng Trong-Đàng Ngoài thì biết, nhưng ngoại giao này nọ hình như vẫn chung mà

Mày khai sáng tao tí, các nước xung quanh nó nhìn vào thấy thế nào?

Sao lịch sử Việt Cộng vẫn gộp vào thời kì tranh đoạt mà không nói rõ nó là 2 nước luôn?
 
Chia thành Đàng Trong-Đàng Ngoài thì biết, nhưng ngoại giao này nọ hình như vẫn chung mà

Mày khai sáng tao tí, các nước xung quanh nó nhìn vào thấy thế nào?
2 quốc gia riêng từ lúc Nguyễn Phúc Nguyên đéo nộp thuế đéo triều cống và đéo nhận sắc phong rồi.
Ổng tự gửi thư giao tiếp với Nhật Bản luôn
Sau tự thu thuế tự đón thuyền buôn
Đến Nguyễn Phúc Khoát là xưng vua quốc vương rồi
 
2 quốc gia riêng từ lúc Nguyễn Phúc Nguyên đéo nộp thuế đéo triều cống và đéo nhận sắc phong rồi.
Ổng tự gửi thư giao tiếp với Nhật Bản luôn
Sau tự thu thuế tự đón thuyền buôn
Đến Nguyễn Phúc Khoát là xưng vua quốc vương rồi
Nói đúng hơn, cái này chắc @atlas05 ko biết, thì họ Nguyễn là lũ phản nghịch, còn nhà Lê thì yếu kém, ko đủ sức trừng phạt!

😊😊😊
 
Chia thành Đàng Trong-Đàng Ngoài thì biết, nhưng ngoại giao này nọ hình như vẫn chung mà

Mày khai sáng tao tí, các nước xung quanh nó nhìn vào thấy thế nào?

Sao lịch sử Việt Cộng vẫn gộp vào thời kì tranh đoạt mà không nói rõ nó là 2 nước luôn?
Theo t nghĩ thời đó cả 2 đàng đều thờ vua Lê, thằng nào đòi lật vua Lê là loạn thần tặc tử hết
 
Lịch sử nhìn chán đời nhỉ
Trong khi anh hai trải dài từ 2000 tcn thì đại việt đến gần năm 1000 cn mới có cái gọi là ghi chép
 
Với cái tình hình sưu cao, thuế nặng này thì tao nghi là nhà Sản cũng chỉ tồn tại được 100 là căng.
- 1945: Cách mạng tháng 8
- 2045: Có thể là cách mạng dân chủ ?
 
Bao nhiêu năm thì còn tuỳ vào nhân dân.
Dân ngu thì nhìn Triều Tiên là rõ.
Thời này súng, tank... nên đ có cái gọi là khởi nghĩa đâu.
Ngày xưa dễ có anh hùng vì vũ khí còn thô sơ, dễ nổi loạn. Giờ đám cs, chính quyền vũ khi tận răng mà dân thì tay trắng thì đúng là khó. Chứ với kiểu công an trị này dân cũng điên lắm rồi đó mà không làm gì được
 
images



Nhà Ngô: 26 năm
Nhà Đinh: 12 năm
Nhà Tiền Lê: 29 năm
Nhà Lý: 216 năm
Nhà Trần: 174 năm
Nhà Hồ: 7 năm
Nhà Hậu Lê: 99 năm
Nhà Lê Trung Hưng: 256 năm (Trịnh Nguyễn)
Nhà Tây Sơn: 24 năm
Nhà Nguyễn: 143 năm
Tính năm đéo đúng đâu, mày phải tính đời vua. Điểm chung của các triều đại ở trên là tới đời vua thứ 8,9 là bắt đầu suy tàn hoặc sụp luôn triều đại.

Đéo tin cứ check. Tới chúa Trịnh, chúa Nguyễn cũng tồn tại được 9 đời. Nhà Mạc lay lắt cũng gần 9 đời rồi tàn. Cái xứ này nó ứng vào con số 8 và 9 :vozvn (19):
 
1. NHÀ LÝ (9 đời vua – Tồn tại 216 năm)
Nhà Lý lập quốc mạnh mẽ nhưng bắt đầu trượt dài từ đời vua thứ 7:
  • Đời 1: Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)
  • Đời 2: Lý Thái Tông
  • Đời 3: Lý Thánh Tông
  • Đời 4: Lý Nhân Tông
  • Đời 5: Lý Thần Tông
  • Đời 6: Lý Anh Tông
  • Đời 7: Lý Cao Tông (Bắt đầu suy tàn): Lên ngôi khi còn nhỏ, lớn lên lại chơi bời vô độ, bán quan buôn tước, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, giặc giã nổi lên khắp nơi.
  • Đời 8: Lý Huệ Tông (Khủng hoảng trầm trọng): Nhu nhược, bị bệnh điên, để cho ngoại thích là họ Trần (Trần Thủ Độ) thâu tóm toàn bộ quyền lực triều đình.
  • Đời 9: Lý Chiêu Hoàng (Sụp đổ): Nữ vương duy nhất, lên ngôi lúc 6 tuổi rồi nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, kết thúc triều đại.

2. NHÀ TRẦN (12 đời vua chính thức – Tồn tại 175 năm)
Nhà Trần hào hùng với 3 lần phá giặc Nguyên, nhưng cũng không tránh khỏi vết xe đổ từ đời vua thứ 7:
  • Đời 1: Trần Thái Tông
  • Đời 2: Trần Thánh Tông
  • Đời 3: Trần Nhân Tông
  • Đời 4: Trần Anh Tông
  • Đời 5: Trần Minh Tông
  • Đời 6: Trần Hiến Tông
  • Đời 7: Trần Dụ Tông (Bắt đầu suy tàn): Giai đoạn đầu trị vì khá tốt, nhưng nửa sau lại sa đọa, mê cờ bạc, rượu chè, xây cung điện nguy nga, bỏ bê chính sự khiến cơ nghiệp nhà Trần suy sụp nhanh chóng.
  • Đời 8: Trần Nghệ Tông (Bất lực): Nhu nhược, mù quáng tin dùng quyền thần Hồ Quý Ly, tạo điều kiện cho họ Hồ giết hại tông thất và lấn át quyền lực.
  • Đời 9 đến Đời 12: Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế (Thời kỳ suy thoái hoàn toàn, vua chỉ làm bù nhìn trước khi bị Hồ Quý Ly soán ngôi).

3. NHÀ LÊ SƠ (10 - 11 đời vua – Tồn tại 100 năm)
Nhà Lê Sơ đạt đỉnh cao thịnh trị ở đời thứ 5, nhưng đến đời thứ 8, 9 thì xuất hiện những hôn quân bạo chúa khét tiếng làm sập đổ triều đại:
  • Đời 1: Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
  • Đời 2: Lê Thái Tông
  • Đời 3: Lê Nhân Tông
  • Đời 4: Lê Nghi Dân (Cướp ngôi, ở ngôi 8 tháng)
  • Đời 5: Lê Thánh Tông (Đỉnh cao thịnh trị)
  • Đời 6: Lê Hiến Tông
  • Đời 7: Lê Túc Tông
  • Đời 8: Lê Uy Mục (Suy tàn & Bạo chúa): Được mệnh danh là "Vua Quỷ", tính tình tàn bạo, thích giết chóc, triều chính bắt đầu đại loạn.
  • Đời 9: Lê Tương Dực (Suy tàn & Trác táng): Được mệnh danh là "Vua Lợn", hoang dâm vô độ, bắt thợ xây Cửu Trùng Đài hao tốn tiền của, bị bề tôi đâm chết.
  • Đời 10 & Đời 11: Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng (Bù nhìn, bị Mạc Đăng Dung ép nhường ngôi, kết thúc thời Lê Sơ).

4. NHÀ NGUYỄN (13 đời vua – Tồn tại 143 năm)
Nhà Nguyễn giữ được nền độc lập tự chủ quốc gia đến đời thứ 4, từ đời thứ 5 trở đi lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị tột cùng:
  • Đời 1: Gia Long
  • Đời 2: Minh Mạng
  • Đời 3: Thiệu Trị
  • Đời 4: Tự Đức
  • Đời 5: Dục Đức / Đời 6: Hiệp Hòa / Đời 7: Kiến Phúc / Đời 8: Hàm Nghi (Khủng hoảng & Suy tàn cực điểm): Giai đoạn bi kịch mang tên "Tứ nguyệt tam vương" (4 tháng thay 3 vua). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết liên tục phế lập, đầu độc các vua đời 5, 6, 7 để nắm quyền. Triều đình rối loạn, tạo cơ hội cho Pháp áp đặt ách đô hộ. Vua đời 8 (Hàm Nghi) phải chạy ra chiến khu Tân Sở chống Pháp.
  • Đời 9 đến Đời 13: Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại (Thời kỳ mất nước, các vua hầu hết là bù nhìn do Pháp sắp đặt, cho đến khi Bảo Đại thoái vị năm 1945).
5. CÁC CHÚA TRỊNH (12 đời chúa – Tồn tại 243 năm)
Cai trị Đàng Ngoài, nắm toàn bộ thực quyền nhưng vẫn mượn danh nghĩa "Phù Lê" (vua Lê chỉ làm bù nhìn). Cơ nghiệp suy tàn rõ rệt từ đời chúa thứ 8:
  • Đời 1: Trịnh Kiểm (Thế tổ Minh Khang Thái vương)
  • Đời 2: Trịnh Tùng (Bắt đầu xưng Vương, nắm quyền bính)
  • Đời 3: Trịnh Tráng
  • Đời 4: Trịnh Tạc
  • Đời 5: Trịnh Căn
  • Đời 6: Trịnh Cương
  • Đời 7: Trịnh Giang
  • Đời 8: Trịnh Doanh / Đời 9: Trịnh Sâm (Bắt đầu suy tàn): Trịnh Sâm là vị chúa có tài nhưng kiêu ngạo, cuối đời sa vào tửu sắc, sủng ái Đặng Thị Huệ, phế trưởng lập thứ gây nên loạn kiêu binh. Chính sự Đàng Ngoài từ đây đại loạn, kinh tế kiệt quệ, khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi.
  • Đời 10 đến Đời 12: Trịnh Cán, Trịnh Khải, Trịnh Bồng (Thời kỳ sụp đổ hoàn toàn, kiêu binh làm loạn, bất lực trước sức tiến quân của nhà Tây Sơn).

6. CÁC CHÚA NGUYỄN (9 đời chúa – Tồn tại 219 năm)
Cai trị Đàng Trong, mở mang bờ cõi về phương Nam. Vương triều hưng thịnh cho đến đời chúa thứ 8 thì suy vong cực kỳ nhanh chóng:
  • Đời 1: Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên)
  • Đời 2: Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi)
  • Đời 3: Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng)
  • Đời 4: Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền)
  • Đời 5: Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa)
  • Đời 6: Nguyễn Phúc Chu (Chúa Minh)
  • Đời 7: Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh)
  • Đời 8: Nguyễn Phúc Khoát (Bắt đầu suy tàn): Giai đoạn đầu có công xưng vương, hoàn thiện hệ thống hành chính. Tuy nhiên, cuối đời sa vào hưởng lạc, phong lưu trác táng, tin dùng hoạn quan Trương Phúc Loan, đẩy Đàng Trong vào cảnh lầm than.
  • Đời 9: Nguyễn Phúc Thuần (Sụp đổ): Lên ngôi lúc 12 tuổi, quyền hành hoàn toàn nằm trong tay "Quốc phó" tham lam Trương Phúc Loan. Lòng dân căm phẫn, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ (1771) quét sạch cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

7. NHÀ MẠC (10 đời vua – Tồn tại 150 năm)
Nhà Mạc có một số cải cách tiến bộ nhưng chỉ hưng thịnh ở 3 đời đầu khi cai trị tại Thăng Long, sau đó suy tàn ở đời thứ 5 và sống "lay lắt" ở Cao Bằng cho đến đời thứ 10:
  • Đời 1: Mạc Đăng Dung (Mạc Thái Tổ)
  • Đời 2: Mạc Đăng Doanh
  • Đời 3: Mạc Phúc Hải
  • Đời 4: Mạc Phúc Nguyên
  • Đời 5: Mạc Mậu Hợp (Suy tàn ở Thăng Long): Lên ngôi khi mới 2 tuổi, lớn lên sa đọa, thiếu năng lực quân sự, để nội bộ triều đình rạn nứt nghiêm trọng. Nhà Mạc mất Thăng Long vào tay quân Lê - Trịnh, Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị xử tử.
  • Đời 6 đến Đời 10: Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ, Mạc Kính Hỷ (Thời kỳ "lay lắt" tại vùng núi Cao Bằng, sụt giảm quyền lực, phụ thuộc vào sự che chở của nhà Minh/nhà Thanh trước khi bị triều đình Lê - Trịnh xóa sổ hoàn toàn vào năm 1677).



 
1. NHÀ LÝ (9 đời vua – Tồn tại 216 năm)
Nhà Lý lập quốc mạnh mẽ nhưng bắt đầu trượt dài từ đời vua thứ 7:
  • Đời 1: Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)
  • Đời 2: Lý Thái Tông
  • Đời 3: Lý Thánh Tông
  • Đời 4: Lý Nhân Tông
  • Đời 5: Lý Thần Tông
  • Đời 6: Lý Anh Tông
  • Đời 7: Lý Cao Tông (Bắt đầu suy tàn): Lên ngôi khi còn nhỏ, lớn lên lại chơi bời vô độ, bán quan buôn tước, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, giặc giã nổi lên khắp nơi.
  • Đời 8: Lý Huệ Tông (Khủng hoảng trầm trọng): Nhu nhược, bị bệnh điên, để cho ngoại thích là họ Trần (Trần Thủ Độ) thâu tóm toàn bộ quyền lực triều đình.
  • Đời 9: Lý Chiêu Hoàng (Sụp đổ): Nữ vương duy nhất, lên ngôi lúc 6 tuổi rồi nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, kết thúc triều đại.

2. NHÀ TRẦN (12 đời vua chính thức – Tồn tại 175 năm)
Nhà Trần hào hùng với 3 lần phá giặc Nguyên, nhưng cũng không tránh khỏi vết xe đổ từ đời vua thứ 7:
  • Đời 1: Trần Thái Tông
  • Đời 2: Trần Thánh Tông
  • Đời 3: Trần Nhân Tông
  • Đời 4: Trần Anh Tông
  • Đời 5: Trần Minh Tông
  • Đời 6: Trần Hiến Tông
  • Đời 7: Trần Dụ Tông (Bắt đầu suy tàn): Giai đoạn đầu trị vì khá tốt, nhưng nửa sau lại sa đọa, mê cờ bạc, rượu chè, xây cung điện nguy nga, bỏ bê chính sự khiến cơ nghiệp nhà Trần suy sụp nhanh chóng.
  • Đời 8: Trần Nghệ Tông (Bất lực): Nhu nhược, mù quáng tin dùng quyền thần Hồ Quý Ly, tạo điều kiện cho họ Hồ giết hại tông thất và lấn át quyền lực.
  • Đời 9 đến Đời 12: Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế (Thời kỳ suy thoái hoàn toàn, vua chỉ làm bù nhìn trước khi bị Hồ Quý Ly soán ngôi).

3. NHÀ LÊ SƠ (10 - 11 đời vua – Tồn tại 100 năm)
Nhà Lê Sơ đạt đỉnh cao thịnh trị ở đời thứ 5, nhưng đến đời thứ 8, 9 thì xuất hiện những hôn quân bạo chúa khét tiếng làm sập đổ triều đại:
  • Đời 1: Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
  • Đời 2: Lê Thái Tông
  • Đời 3: Lê Nhân Tông
  • Đời 4: Lê Nghi Dân (Cướp ngôi, ở ngôi 8 tháng)
  • Đời 5: Lê Thánh Tông (Đỉnh cao thịnh trị)
  • Đời 6: Lê Hiến Tông
  • Đời 7: Lê Túc Tông
  • Đời 8: Lê Uy Mục (Suy tàn & Bạo chúa): Được mệnh danh là "Vua Quỷ", tính tình tàn bạo, thích giết chóc, triều chính bắt đầu đại loạn.
  • Đời 9: Lê Tương Dực (Suy tàn & Trác táng): Được mệnh danh là "Vua Lợn", hoang dâm vô độ, bắt thợ xây Cửu Trùng Đài hao tốn tiền của, bị bề tôi đâm chết.
  • Đời 10 & Đời 11: Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng (Bù nhìn, bị Mạc Đăng Dung ép nhường ngôi, kết thúc thời Lê Sơ).

4. NHÀ NGUYỄN (13 đời vua – Tồn tại 143 năm)
Nhà Nguyễn giữ được nền độc lập tự chủ quốc gia đến đời thứ 4, từ đời thứ 5 trở đi lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị tột cùng:
  • Đời 1: Gia Long
  • Đời 2: Minh Mạng
  • Đời 3: Thiệu Trị
  • Đời 4: Tự Đức
  • Đời 5: Dục Đức / Đời 6: Hiệp Hòa / Đời 7: Kiến Phúc / Đời 8: Hàm Nghi (Khủng hoảng & Suy tàn cực điểm): Giai đoạn bi kịch mang tên "Tứ nguyệt tam vương" (4 tháng thay 3 vua). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết liên tục phế lập, đầu độc các vua đời 5, 6, 7 để nắm quyền. Triều đình rối loạn, tạo cơ hội cho Pháp áp đặt ách đô hộ. Vua đời 8 (Hàm Nghi) phải chạy ra chiến khu Tân Sở chống Pháp.
  • Đời 9 đến Đời 13: Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại (Thời kỳ mất nước, các vua hầu hết là bù nhìn do Pháp sắp đặt, cho đến khi Bảo Đại thoái vị năm 1945).
5. CÁC CHÚA TRỊNH (12 đời chúa – Tồn tại 243 năm)
Cai trị Đàng Ngoài, nắm toàn bộ thực quyền nhưng vẫn mượn danh nghĩa "Phù Lê" (vua Lê chỉ làm bù nhìn). Cơ nghiệp suy tàn rõ rệt từ đời chúa thứ 8:
  • Đời 1: Trịnh Kiểm (Thế tổ Minh Khang Thái vương)
  • Đời 2: Trịnh Tùng (Bắt đầu xưng Vương, nắm quyền bính)
  • Đời 3: Trịnh Tráng
  • Đời 4: Trịnh Tạc
  • Đời 5: Trịnh Căn
  • Đời 6: Trịnh Cương
  • Đời 7: Trịnh Giang
  • Đời 8: Trịnh Doanh / Đời 9: Trịnh Sâm (Bắt đầu suy tàn): Trịnh Sâm là vị chúa có tài nhưng kiêu ngạo, cuối đời sa vào tửu sắc, sủng ái Đặng Thị Huệ, phế trưởng lập thứ gây nên loạn kiêu binh. Chính sự Đàng Ngoài từ đây đại loạn, kinh tế kiệt quệ, khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi.
  • Đời 10 đến Đời 12: Trịnh Cán, Trịnh Khải, Trịnh Bồng (Thời kỳ sụp đổ hoàn toàn, kiêu binh làm loạn, bất lực trước sức tiến quân của nhà Tây Sơn).

6. CÁC CHÚA NGUYỄN (9 đời chúa – Tồn tại 219 năm)
Cai trị Đàng Trong, mở mang bờ cõi về phương Nam. Vương triều hưng thịnh cho đến đời chúa thứ 8 thì suy vong cực kỳ nhanh chóng:
  • Đời 1: Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên)
  • Đời 2: Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi)
  • Đời 3: Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng)
  • Đời 4: Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền)
  • Đời 5: Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa)
  • Đời 6: Nguyễn Phúc Chu (Chúa Minh)
  • Đời 7: Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh)
  • Đời 8: Nguyễn Phúc Khoát (Bắt đầu suy tàn): Giai đoạn đầu có công xưng vương, hoàn thiện hệ thống hành chính. Tuy nhiên, cuối đời sa vào hưởng lạc, phong lưu trác táng, tin dùng hoạn quan Trương Phúc Loan, đẩy Đàng Trong vào cảnh lầm than.
  • Đời 9: Nguyễn Phúc Thuần (Sụp đổ): Lên ngôi lúc 12 tuổi, quyền hành hoàn toàn nằm trong tay "Quốc phó" tham lam Trương Phúc Loan. Lòng dân căm phẫn, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ (1771) quét sạch cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

7. NHÀ MẠC (10 đời vua – Tồn tại 150 năm)
Nhà Mạc có một số cải cách tiến bộ nhưng chỉ hưng thịnh ở 3 đời đầu khi cai trị tại Thăng Long, sau đó suy tàn ở đời thứ 5 và sống "lay lắt" ở Cao Bằng cho đến đời thứ 10:
  • Đời 1: Mạc Đăng Dung (Mạc Thái Tổ)
  • Đời 2: Mạc Đăng Doanh
  • Đời 3: Mạc Phúc Hải
  • Đời 4: Mạc Phúc Nguyên
  • Đời 5: Mạc Mậu Hợp (Suy tàn ở Thăng Long): Lên ngôi khi mới 2 tuổi, lớn lên sa đọa, thiếu năng lực quân sự, để nội bộ triều đình rạn nứt nghiêm trọng. Nhà Mạc mất Thăng Long vào tay quân Lê - Trịnh, Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị xử tử.
  • Đời 6 đến Đời 10: Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ, Mạc Kính Hỷ (Thời kỳ "lay lắt" tại vùng núi Cao Bằng, sụt giảm quyền lực, phụ thuộc vào sự che chở của nhà Minh/nhà Thanh trước khi bị triều đình Lê - Trịnh xóa sổ hoàn toàn vào năm 1677).





Điểm chung các triều trên: tới đời vua thứ 7,8,9 là bắt đầu suy tàn hoặc sập triều đại
 

Có thể bạn quan tâm

Top