darkhoodseto
Gió lạnh đầu buồi
BẮC CÂU-LƯ CHÂU: MÔ HÌNH XÃ HỘI ******** CHỦ NGHĨA TRONG HUYỀN THOẠI PHẬT GIÁO
****************************
Phật giáo là một tôn giáo lớn xây dựng dựa trên chiều kích đối lập với tư tưởng Bà-la-môn giáo (tiền thân của đạo Hindu) tại Ấn-độ, tuy nhiên, có khá nhiều “dưỡng chất” của Bà-la-môn giáo và văn hoá thần thoại Ấn được hấp thu vào Phật giáo, trong đó có câu chuyện thần thoại về sự tồn tại của Tứ đại bộ châu.
Thuyết Tứ đại bộ châu vốn đã có trước thời đạo Phật hình thành, xuất xứ từ trong các văn bản tôn giáo cổ đại của Phạm thư, sử thi Rāmāyaṇa và Mahābhārata. Trong đó, nó tưởng tượng rằng vũ trụ này bằng phẳng như tấm dĩa, bao quanh vũ trụ gồm có bốn biển lớn, chính giữa vũ trụ là một ngọn núi cao gọi là Sumeru (Tu-di sơn). Và chu vi của Sumeru gồm có 4 lục địa lớn: phía bắc của Sumeru chính là Bắc Câu-lư châu (Uttara-kuru), phía đông gọi là Đông Thắng Thân châu (Pūrva-videha), phía tây gọi là Tây Ngưu Hoá châu (Apara-godānīya) và phía nam gọi là Nam Thiệm-bộ châu (Jambu-dvīpa). Thực ra, 4 châu lục này được xây dựng trên khung tưởng tượng thần thoại, do đó nó sẽ không đúng với kiến thức khoa học địa lý hiện đại, cho nên khi đọc đến kiến thức thần thoại này chúng ta hãy tạm cất “khoa học” qua một bên đi.
Sau này, Phật giáo cũng hấp thu và cải biên về thuyết Tứ đại bộ châu này. Theo các ghi chép của họ, Đông Thắng Thân châu được hiểu theo nghĩa là “xứ sở của những kẻ khổng lồ,” thân hình của những cư dân tại châu lục này thường rất bự con, giống như người Viking ở Bắc Âu vậy, do đó họ thường mưu sinh bằng cách trở thành những chiến binh thiện chiến. Tây Ngưu Hoá châu mang nghĩa là “xứ sở của nghề bán bò,” những cư dân tại đây thuở ban đầu sinh hoạt bằng nghề bán bò, và thế mạnh của châu lục này là thương mại và mậu dịch. Nam Thiệm-bộ châu còn gọi là Diêm-phù-đề, nó có hình dạng tam giác ngược, và thật ra Diêm-phù-đề chính là nước Ấn-độ hiện nay, tuy nhiên các trường phái Phật giáo sau này lại mở rộng ranh giới cho rằng Diêm-phù-đề là toàn bộ Trái đất. Diêm-phù-đề được mô tả là có hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng với tám nhánh sông chảy tạo thành các lưu vực trù phú, người dân ở đây sống bằng cách trồng trọt nông nghiệp và xây dựng các xã hội văn minh. Tuy nhiên, trong thần thoại còn nói rằng thực ra có 1 nhánh sông thứ chín mà ít ai biết, dọc trên nhánh sông này có những khu rừng cây gọi là cây Jampu, loại cây này thường rơi lá xuống mặt sông, lá của chúng đọng lại và chất đầy trên mặt sông và dưới mặt sông rồi được kết tinh thành vàng ròng, do đó lá của cây Jampu được mệnh danh là “thắng kim.” Các quyển kinh Phật đều cho rằng cư dân ở xứ sở Diêm-phù-đề rất đa dạng, thiện thì cực thiện, ác thì cực ác, cho nên riêng tại xứ sở này, có thể xuất hiện một tên đại ác ma không việc ác nào không từ, nhưng cũng có thể xuất hiện bậc thánh nhân toàn thiện toàn mỹ, như đức Phật chẳng hạn.
Trái với Diêm-phù-đề đầy rẫy những khổ đau và bất mãn, có một khu vực mà các kinh điển Phật giáo thường mô tả là một xã hội cực kỳ lý tưởng, không có đau khổ, không có bất công xã hội, và cũng không phân chia giai cấp. Đó là Bắc Câu-lư châu, trong tiếng Phạn gọi là Uttara-kuru, nghĩa là “xứ sở của sự cao quý.” Trước Phật giáo, Bà-la-môn giáo bắt đầu từ quyển Phạm thư Aitareya đã mô tả Bắc Câu-lư châu là một lãnh thổ có thật, nơi đó người ta không xây dựng mô hình nhà nước quân chủ phong kiến mà xây dựng theo mô hình cộng hoà (vairajiya). Các sách vở Bà-la-môn sau này cũng có khai thác về đề tài Bắc Câu-lư châu, chẳng hạn Vãng thế thư Matsya mô tả Bắc Câu-lư châu như là một cõi Tịnh độ mà người ta sẽ trở về khi được thanh tẩy nhơ uế. Vùng đất này vốn được xem là xứ sở thần tiên, nơi mà sự sống con người không có bóc lột, không có áp bức, đầy phước lành và vinh quang. Theo nhiều nhà nghiên cứu cho biết, mô hình Bắc Câu-lư châu là một dạng xã hội lý tưởng Utopia trong tưởng tượng của người Ấn-độ, gửi gắm mơ ước của họ muốn thực hiện một xã hội như vậy ở chốn trần gian.
Phật giáo cũng không ngoại lệ, khi tiếp thu thuyết Bắc Câu-lư châu, Phật giáo cũng cho rằng đây là một xứ sở đáng mơ ước, nơi mà nhân loại ở đây đã hoàn thành xong giai đoạn quá độ và thực sự trở thành một “xã hội ******** chủ nghĩa.” Theo mô tả trong thần thoại Phật giáo, Bắc Câu-lư châu được mô tả là có địa lý hình vuông, có núi Thất Kim và núi Đại Thiết Vi bao quanh, mặt đất được lợp bằng vàng ròng ngày đêm sáng bóng. Khí hậu ở vùng đất này là ôn đới, quanh năm mát mẻ, không có lụt lội, hạn hán, mưa bão.
Xứ sở này được diễn tả là đã đạt đến một xã hội thịnh vượng, có rất nhiều khoáng sản, ngành kỹ nghệ rất phát đạt, có thể dùng các châu báu và kim loại quý để chế tác thành các loại đồ xa xỉ phẩm cũng như dụng cụ sinh hoạt, chẳng hạn như đồ bằng vàng, bằng bạc, kim cương, lưu ly, thuỷ tinh, xa cừ, mã não v.v… Đây là một xã hội cộng hoà không có sự phân biệt giai cấp, nam nữ bình quyền, nhân dân bình đẳng, không phân chia tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị.
Thậm chí xã hội này được khắc hoạ “********” đến mức không có bất kỳ mọi sở hữu tư nhân nào, kể cả hôn nhân. Người dân ở đây không thiết lập chế độ hôn nhân và ràng buộc vợ chồng, nó làm chúng ta nhớ đến một câu nói của đạo sư Osho bên Ấn-độ: “Hôn nhân là một trong những phát minh ngu xuẩn nhất của nhân loại.” Chính vì vậy, ở đây không có nghi thức kết hôn lẫn ra toà ly hôn.
Phụ nữ ở Bắc Câu-lư châu được bình quyền, thậm chí thượng đẳng hơn cả nam giới. Khi các cô gái lớn lên, cô ta có quyền lựa chọn người đàn ông mà mình thích, sau đó sẽ cặp kè với anh ta đến một khu nghỉ dưỡng nào đó để cặp đôi cùng ăn uống, khiêu vũ, mua vui và quan hệ tình dục. Sau một mùa ân ái mặn nồng, nếu người phụ nữ mang thai, cô ta sẽ được chăm sóc chu đáo theo chính sách bảo dưỡng của khu nghỉ dưỡng. Đến khi sinh con xong, người phụ nữ không cần phải có nghĩa vụ nuôi con, việc duy nhất của cô ta là ký giấy xác nhận đã sinh con và gửi lại đứa bé cho các Trung tâm Bảo trợ Xã hội. Sau đó, cô gái sẽ chia tay người đàn ông và đường ai nấy đi. Nếu như sau này, cô gái không thích chàng trai đó nữa, cô ta lại có thể tự do cặp kè với người đàn ông khác và lại đến một khu nghỉ dưỡng nào bất kỳ để mua vui tiếp. Không có ràng buộc vợ chồng nào ở đây cả.
Tại xứ sở này, các Trung tâm Bảo trợ Xã hội được thiết lập để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, trong đó có vấn đề nuôi dạy trẻ em. Trẻ em ở Bắc Câu-lư châu sau khi được sinh ra, chúng sẽ được gửi đến các Trung tâm này, nơi có những bảo mẫu sẽ chăm sóc chúng. Trong quy định pháp luật ở đây, trách nhiệm nuôi trẻ em không thuộc về ông bố bà mẹ nào cả, nó là trách nhiệm chung của xã hội, do đó bất kỳ người trưởng thành nào cũng phải có quyền và nghĩa vụ chăm sóc trẻ em. Những đứa trẻ này sẽ được nuôi dưỡng cẩn thận tại các nhà bảo nhi của Trung tâm, hàng ngày hàng tuần sẽ có các hiệp hội từ thiện xã hội, hiệp hội các bảo mẫu chăm sóc trẻ, hiệp hội bảo trợ trẻ em đến phát quà và cấp dưỡng sữa, thức ăn, đồ chơi v.v… Trung tâm Bảo trợ Xã hội sẽ có trách nhiệm đăng ký khai sinh và làm thủ tục căn cước công dân cho đứa trẻ. Khi đến tuổi đi học, những đứa trẻ sẽ được vào trường lớp, nơi đó các thầy cô sẽ không dạy những bài học về gia đình, mà họ sẽ dạy những đứa trẻ về lòng yêu nước, tôn thờ lãnh đạo, trách nhiệm công dân, và các kiến thức khoa học công nghệ v.v… Tiền nuôi cho những đứa trẻ này ăn học sẽ được trích ra từ các khoản thuế phí của toàn dân dành cho công tác bồi dưỡng và giáo dục.
Khi đứa trẻ lớn lên, nó sẽ được tự do đăng ký các ngành nghề mà nó muốn. Ở Bắc Câu-lư châu, nghề nghiệp là tự do lựa chọn, không có sự ràng buộc về lĩnh vực của trường đào tạo nào cả. Trẻ em ở Bắc Câu-lư châu được đi học miễn phí do xã hội chu cấp từ Tiểu học đến hết Trung học, và trợ cấp một nửa khi học Đại học. Đứa trẻ đã thành nhân thì nó sẽ tuỳ ý làm công việc mình thích. Thậm chí, ở Bắc Câu-lư châu, nếu bạn thất nghiệp bạn cũng sẽ được nhận trợ cấp thất nghiệp, và số tài sản trợ cấp đó đủ để nuôi sống bạn, đủ để cho bạn đi chơi, đi du lịch, hoặc là mua xe. Tuy nhiên, người dân ở đây quan niệm rằng “ăn không ngồi rồi” mà không cống hiến gì cho xã hội là điều nhục nhã, do đó họ châm biếm những kẻ lười nhác đi nhận trợ cấp thất nghiệp, nhờ đó mà ở xứ sở này hình như cũng không ai dám để mình thất nghiệp cả.
Dân chúng ở đây mặc dù đi làm nhưng họ không phải lo lắng về đồng lương hay mưu sinh, đúng nghĩa với câu “đi làm vì đam mê, vì cống hiến.” Bởi vì xã hội ở đây có rất nhiều các khoản tiện nghi, trợ cấp, chu cấp, của cải sản xuất xã hội dư thừa cho nên có khá nhiều các kho dự trữ để công dân tuỳ nghi đến lấy tài sản. Các kho dự trữ này giống như các cây ATM, kinh Phật gọi nó là cây Như ý (Anuruddha) – tên gọi này không dễ hiểu, nhưng có thể diễn dịch nó theo ý nghĩa hiện đại thì dễ hiểu hơn, nghĩa là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.” Ở các trụ cây ATM “Như ý” này, các nhân viên công quyền thường thu gom các vật dụng và tài sản sản xuất ở các công xưởng, nhà máy, nơi chế tác trên khắp cả nước về và bố trí ở đó, giống như các “siêu thị miễn phí” vậy. Người dân khi có nhu cầu có thể đến đó lấy bất kỳ vật dụng, đồ đạc nào mình cần thiết. Nếu hết tiền, họ cũng có thể đăng ký rút tiền tại cây ATM này và sau đó dùng tiền đi mua sắm thời trang các loại theo sở thích của mình.
Các phương tiện giao thông công cộng tại xứ sở này cũng không cần phải sở hữu tư nhân, các cơ quan hành chính sẽ mua sắm các phương tiện xe đạp, xe máy, xe ô-tô xếp vào các bãi đỗ xe công cộng, và khi tuỳ nghi, công dân có thể ra đó lấy bất kỳ loại xe nào mình mong muốn và lái xe đi đến các nhà hàng, quán bar, quán café, vũ trường, nhà sách v.v… để hưởng thụ và tiêu dùng. Sau khi đỗ xe tại đó và sử dụng xong, họ có thể để xe lại quán, xe đó dựa trên biển số đăng ký sẽ có nhân viên thu gom đưa xe về lại nơi cất giữ ban đầu.
Ở Bắc Câu-lư châu, xã hội đã đạt đến trình độ ******** thuần tuý, do đó cũng không cần đến sự tồn tại của Nhà nước. Hay nói cách khác, Nhà nước đã tự nó tiêu vong. Ở đây, người dân bầu ra Đại hội Quốc dân để tiến hành lập pháp, đồng thời thiết lập các Toà án độc lập để quản lý tư pháp, xét xử, kiện tụng. Tuy nhiên, người ta không thiết lập chính phủ để quản lý hành pháp, các vấn đề hành chính và xã hội được trao lại cho các Trung tâm xã hội, các cơ quan an ninh và hành chính, hay các tổ chức được dân sự hoá, do đó, ở đây không cần thiết có sự tồn tại của chính phủ hay nội các thủ tướng nào cả. Người dân cũng sẽ bầu cử một người nào đó làm lãnh tụ quốc gia, có thể gọi là Tổng thống hay Tổng nguyên soái danh dự nào đó, nhưng ông ta hay bà ta chỉ là biểu tượng để thực hiện các nghi thức quốc lễ và ngoại giao, chứ không nắm bất cứ quyền lực chuyên chính nào.
****************************
Phật giáo là một tôn giáo lớn xây dựng dựa trên chiều kích đối lập với tư tưởng Bà-la-môn giáo (tiền thân của đạo Hindu) tại Ấn-độ, tuy nhiên, có khá nhiều “dưỡng chất” của Bà-la-môn giáo và văn hoá thần thoại Ấn được hấp thu vào Phật giáo, trong đó có câu chuyện thần thoại về sự tồn tại của Tứ đại bộ châu.
Thuyết Tứ đại bộ châu vốn đã có trước thời đạo Phật hình thành, xuất xứ từ trong các văn bản tôn giáo cổ đại của Phạm thư, sử thi Rāmāyaṇa và Mahābhārata. Trong đó, nó tưởng tượng rằng vũ trụ này bằng phẳng như tấm dĩa, bao quanh vũ trụ gồm có bốn biển lớn, chính giữa vũ trụ là một ngọn núi cao gọi là Sumeru (Tu-di sơn). Và chu vi của Sumeru gồm có 4 lục địa lớn: phía bắc của Sumeru chính là Bắc Câu-lư châu (Uttara-kuru), phía đông gọi là Đông Thắng Thân châu (Pūrva-videha), phía tây gọi là Tây Ngưu Hoá châu (Apara-godānīya) và phía nam gọi là Nam Thiệm-bộ châu (Jambu-dvīpa). Thực ra, 4 châu lục này được xây dựng trên khung tưởng tượng thần thoại, do đó nó sẽ không đúng với kiến thức khoa học địa lý hiện đại, cho nên khi đọc đến kiến thức thần thoại này chúng ta hãy tạm cất “khoa học” qua một bên đi.
Sau này, Phật giáo cũng hấp thu và cải biên về thuyết Tứ đại bộ châu này. Theo các ghi chép của họ, Đông Thắng Thân châu được hiểu theo nghĩa là “xứ sở của những kẻ khổng lồ,” thân hình của những cư dân tại châu lục này thường rất bự con, giống như người Viking ở Bắc Âu vậy, do đó họ thường mưu sinh bằng cách trở thành những chiến binh thiện chiến. Tây Ngưu Hoá châu mang nghĩa là “xứ sở của nghề bán bò,” những cư dân tại đây thuở ban đầu sinh hoạt bằng nghề bán bò, và thế mạnh của châu lục này là thương mại và mậu dịch. Nam Thiệm-bộ châu còn gọi là Diêm-phù-đề, nó có hình dạng tam giác ngược, và thật ra Diêm-phù-đề chính là nước Ấn-độ hiện nay, tuy nhiên các trường phái Phật giáo sau này lại mở rộng ranh giới cho rằng Diêm-phù-đề là toàn bộ Trái đất. Diêm-phù-đề được mô tả là có hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng với tám nhánh sông chảy tạo thành các lưu vực trù phú, người dân ở đây sống bằng cách trồng trọt nông nghiệp và xây dựng các xã hội văn minh. Tuy nhiên, trong thần thoại còn nói rằng thực ra có 1 nhánh sông thứ chín mà ít ai biết, dọc trên nhánh sông này có những khu rừng cây gọi là cây Jampu, loại cây này thường rơi lá xuống mặt sông, lá của chúng đọng lại và chất đầy trên mặt sông và dưới mặt sông rồi được kết tinh thành vàng ròng, do đó lá của cây Jampu được mệnh danh là “thắng kim.” Các quyển kinh Phật đều cho rằng cư dân ở xứ sở Diêm-phù-đề rất đa dạng, thiện thì cực thiện, ác thì cực ác, cho nên riêng tại xứ sở này, có thể xuất hiện một tên đại ác ma không việc ác nào không từ, nhưng cũng có thể xuất hiện bậc thánh nhân toàn thiện toàn mỹ, như đức Phật chẳng hạn.
Trái với Diêm-phù-đề đầy rẫy những khổ đau và bất mãn, có một khu vực mà các kinh điển Phật giáo thường mô tả là một xã hội cực kỳ lý tưởng, không có đau khổ, không có bất công xã hội, và cũng không phân chia giai cấp. Đó là Bắc Câu-lư châu, trong tiếng Phạn gọi là Uttara-kuru, nghĩa là “xứ sở của sự cao quý.” Trước Phật giáo, Bà-la-môn giáo bắt đầu từ quyển Phạm thư Aitareya đã mô tả Bắc Câu-lư châu là một lãnh thổ có thật, nơi đó người ta không xây dựng mô hình nhà nước quân chủ phong kiến mà xây dựng theo mô hình cộng hoà (vairajiya). Các sách vở Bà-la-môn sau này cũng có khai thác về đề tài Bắc Câu-lư châu, chẳng hạn Vãng thế thư Matsya mô tả Bắc Câu-lư châu như là một cõi Tịnh độ mà người ta sẽ trở về khi được thanh tẩy nhơ uế. Vùng đất này vốn được xem là xứ sở thần tiên, nơi mà sự sống con người không có bóc lột, không có áp bức, đầy phước lành và vinh quang. Theo nhiều nhà nghiên cứu cho biết, mô hình Bắc Câu-lư châu là một dạng xã hội lý tưởng Utopia trong tưởng tượng của người Ấn-độ, gửi gắm mơ ước của họ muốn thực hiện một xã hội như vậy ở chốn trần gian.
Phật giáo cũng không ngoại lệ, khi tiếp thu thuyết Bắc Câu-lư châu, Phật giáo cũng cho rằng đây là một xứ sở đáng mơ ước, nơi mà nhân loại ở đây đã hoàn thành xong giai đoạn quá độ và thực sự trở thành một “xã hội ******** chủ nghĩa.” Theo mô tả trong thần thoại Phật giáo, Bắc Câu-lư châu được mô tả là có địa lý hình vuông, có núi Thất Kim và núi Đại Thiết Vi bao quanh, mặt đất được lợp bằng vàng ròng ngày đêm sáng bóng. Khí hậu ở vùng đất này là ôn đới, quanh năm mát mẻ, không có lụt lội, hạn hán, mưa bão.
Xứ sở này được diễn tả là đã đạt đến một xã hội thịnh vượng, có rất nhiều khoáng sản, ngành kỹ nghệ rất phát đạt, có thể dùng các châu báu và kim loại quý để chế tác thành các loại đồ xa xỉ phẩm cũng như dụng cụ sinh hoạt, chẳng hạn như đồ bằng vàng, bằng bạc, kim cương, lưu ly, thuỷ tinh, xa cừ, mã não v.v… Đây là một xã hội cộng hoà không có sự phân biệt giai cấp, nam nữ bình quyền, nhân dân bình đẳng, không phân chia tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị.
Thậm chí xã hội này được khắc hoạ “********” đến mức không có bất kỳ mọi sở hữu tư nhân nào, kể cả hôn nhân. Người dân ở đây không thiết lập chế độ hôn nhân và ràng buộc vợ chồng, nó làm chúng ta nhớ đến một câu nói của đạo sư Osho bên Ấn-độ: “Hôn nhân là một trong những phát minh ngu xuẩn nhất của nhân loại.” Chính vì vậy, ở đây không có nghi thức kết hôn lẫn ra toà ly hôn.
Phụ nữ ở Bắc Câu-lư châu được bình quyền, thậm chí thượng đẳng hơn cả nam giới. Khi các cô gái lớn lên, cô ta có quyền lựa chọn người đàn ông mà mình thích, sau đó sẽ cặp kè với anh ta đến một khu nghỉ dưỡng nào đó để cặp đôi cùng ăn uống, khiêu vũ, mua vui và quan hệ tình dục. Sau một mùa ân ái mặn nồng, nếu người phụ nữ mang thai, cô ta sẽ được chăm sóc chu đáo theo chính sách bảo dưỡng của khu nghỉ dưỡng. Đến khi sinh con xong, người phụ nữ không cần phải có nghĩa vụ nuôi con, việc duy nhất của cô ta là ký giấy xác nhận đã sinh con và gửi lại đứa bé cho các Trung tâm Bảo trợ Xã hội. Sau đó, cô gái sẽ chia tay người đàn ông và đường ai nấy đi. Nếu như sau này, cô gái không thích chàng trai đó nữa, cô ta lại có thể tự do cặp kè với người đàn ông khác và lại đến một khu nghỉ dưỡng nào bất kỳ để mua vui tiếp. Không có ràng buộc vợ chồng nào ở đây cả.
Tại xứ sở này, các Trung tâm Bảo trợ Xã hội được thiết lập để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, trong đó có vấn đề nuôi dạy trẻ em. Trẻ em ở Bắc Câu-lư châu sau khi được sinh ra, chúng sẽ được gửi đến các Trung tâm này, nơi có những bảo mẫu sẽ chăm sóc chúng. Trong quy định pháp luật ở đây, trách nhiệm nuôi trẻ em không thuộc về ông bố bà mẹ nào cả, nó là trách nhiệm chung của xã hội, do đó bất kỳ người trưởng thành nào cũng phải có quyền và nghĩa vụ chăm sóc trẻ em. Những đứa trẻ này sẽ được nuôi dưỡng cẩn thận tại các nhà bảo nhi của Trung tâm, hàng ngày hàng tuần sẽ có các hiệp hội từ thiện xã hội, hiệp hội các bảo mẫu chăm sóc trẻ, hiệp hội bảo trợ trẻ em đến phát quà và cấp dưỡng sữa, thức ăn, đồ chơi v.v… Trung tâm Bảo trợ Xã hội sẽ có trách nhiệm đăng ký khai sinh và làm thủ tục căn cước công dân cho đứa trẻ. Khi đến tuổi đi học, những đứa trẻ sẽ được vào trường lớp, nơi đó các thầy cô sẽ không dạy những bài học về gia đình, mà họ sẽ dạy những đứa trẻ về lòng yêu nước, tôn thờ lãnh đạo, trách nhiệm công dân, và các kiến thức khoa học công nghệ v.v… Tiền nuôi cho những đứa trẻ này ăn học sẽ được trích ra từ các khoản thuế phí của toàn dân dành cho công tác bồi dưỡng và giáo dục.
Khi đứa trẻ lớn lên, nó sẽ được tự do đăng ký các ngành nghề mà nó muốn. Ở Bắc Câu-lư châu, nghề nghiệp là tự do lựa chọn, không có sự ràng buộc về lĩnh vực của trường đào tạo nào cả. Trẻ em ở Bắc Câu-lư châu được đi học miễn phí do xã hội chu cấp từ Tiểu học đến hết Trung học, và trợ cấp một nửa khi học Đại học. Đứa trẻ đã thành nhân thì nó sẽ tuỳ ý làm công việc mình thích. Thậm chí, ở Bắc Câu-lư châu, nếu bạn thất nghiệp bạn cũng sẽ được nhận trợ cấp thất nghiệp, và số tài sản trợ cấp đó đủ để nuôi sống bạn, đủ để cho bạn đi chơi, đi du lịch, hoặc là mua xe. Tuy nhiên, người dân ở đây quan niệm rằng “ăn không ngồi rồi” mà không cống hiến gì cho xã hội là điều nhục nhã, do đó họ châm biếm những kẻ lười nhác đi nhận trợ cấp thất nghiệp, nhờ đó mà ở xứ sở này hình như cũng không ai dám để mình thất nghiệp cả.
Dân chúng ở đây mặc dù đi làm nhưng họ không phải lo lắng về đồng lương hay mưu sinh, đúng nghĩa với câu “đi làm vì đam mê, vì cống hiến.” Bởi vì xã hội ở đây có rất nhiều các khoản tiện nghi, trợ cấp, chu cấp, của cải sản xuất xã hội dư thừa cho nên có khá nhiều các kho dự trữ để công dân tuỳ nghi đến lấy tài sản. Các kho dự trữ này giống như các cây ATM, kinh Phật gọi nó là cây Như ý (Anuruddha) – tên gọi này không dễ hiểu, nhưng có thể diễn dịch nó theo ý nghĩa hiện đại thì dễ hiểu hơn, nghĩa là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.” Ở các trụ cây ATM “Như ý” này, các nhân viên công quyền thường thu gom các vật dụng và tài sản sản xuất ở các công xưởng, nhà máy, nơi chế tác trên khắp cả nước về và bố trí ở đó, giống như các “siêu thị miễn phí” vậy. Người dân khi có nhu cầu có thể đến đó lấy bất kỳ vật dụng, đồ đạc nào mình cần thiết. Nếu hết tiền, họ cũng có thể đăng ký rút tiền tại cây ATM này và sau đó dùng tiền đi mua sắm thời trang các loại theo sở thích của mình.
Các phương tiện giao thông công cộng tại xứ sở này cũng không cần phải sở hữu tư nhân, các cơ quan hành chính sẽ mua sắm các phương tiện xe đạp, xe máy, xe ô-tô xếp vào các bãi đỗ xe công cộng, và khi tuỳ nghi, công dân có thể ra đó lấy bất kỳ loại xe nào mình mong muốn và lái xe đi đến các nhà hàng, quán bar, quán café, vũ trường, nhà sách v.v… để hưởng thụ và tiêu dùng. Sau khi đỗ xe tại đó và sử dụng xong, họ có thể để xe lại quán, xe đó dựa trên biển số đăng ký sẽ có nhân viên thu gom đưa xe về lại nơi cất giữ ban đầu.
Ở Bắc Câu-lư châu, xã hội đã đạt đến trình độ ******** thuần tuý, do đó cũng không cần đến sự tồn tại của Nhà nước. Hay nói cách khác, Nhà nước đã tự nó tiêu vong. Ở đây, người dân bầu ra Đại hội Quốc dân để tiến hành lập pháp, đồng thời thiết lập các Toà án độc lập để quản lý tư pháp, xét xử, kiện tụng. Tuy nhiên, người ta không thiết lập chính phủ để quản lý hành pháp, các vấn đề hành chính và xã hội được trao lại cho các Trung tâm xã hội, các cơ quan an ninh và hành chính, hay các tổ chức được dân sự hoá, do đó, ở đây không cần thiết có sự tồn tại của chính phủ hay nội các thủ tướng nào cả. Người dân cũng sẽ bầu cử một người nào đó làm lãnh tụ quốc gia, có thể gọi là Tổng thống hay Tổng nguyên soái danh dự nào đó, nhưng ông ta hay bà ta chỉ là biểu tượng để thực hiện các nghi thức quốc lễ và ngoại giao, chứ không nắm bất cứ quyền lực chuyên chính nào.