Bài dự thi: Phi chính trị quân đội là mũi tên độc trong chiến lược " diễn biến hòa bình"

Thổ phỉ Đỏ

Địt xong chạy

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 2: Vấn đề “dân sự hóa” quân đội trong nước và quốc tế

Tác giả: HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU
HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU
Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.
Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây
Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.
“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 2: Vấn đề “dân sự hóa” quân đội trong nước và quốc tế
[td]
Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80. Ảnh minh họa: qdnd.vn
[/td]
Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự.
Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).
Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.
Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội
Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.
Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.
Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).
Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng ******** Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.
Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.
Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam
Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.
Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ******** Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.
Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.
Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.
Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này
 
Bài dự thi “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 1: Bản chất, âm mưu và những nguy cơ đối với Việt Nam

Tác giả: HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU
HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU
LTS: Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó Quân đội luôn là mục tiêu trọng điểm. Một trong những mũi tiến công nguy hiểm nhất là luận điệu đòi “dân sự hóa” quân đội với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đáng lo ngại là nhận thức về vấn đề này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Vì vậy, việc kịp thời nhận diện, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này là nhiệm vụ cấp thiết trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng hiện nay.
Bản chất “dân sự hóa” quân đội
Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Dân sự hóa” quân đội là thuật ngữ dùng để chỉ xu hướng chuyển hóa quân đội từ lực lượng vũ trang mang chức năng chính trị - quân sự đặc thù sang mô hình tương tự tổ chức dân sự, thông qua việc làm giảm vai trò, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng ********; coi quân đội như một thiết chế trung lập trong đời sống xã hội; chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo sự lãnh đạo của Đảng.
“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 1: Bản chất, âm mưu và những nguy cơ đối với Việt Nam
[td]

Khối xe - pháo quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Quốc khánh 2-9. Ảnh minh họa: qdnd.vn

[/td]
Thực chất, nội dung cốt lõi của “dân sự hóa” quân đội bao gồm các quá trình: Thay đổi chức năng quân sự sang chức năng và mục tiêu dân sự hoặc phi quân sự, phi vũ trang, chịu sự kiểm soát, quản lý của tổ chức dân sự. Giảm hoặc loại bỏ tính chính trị và sự lãnh đạo của chủ thể cầm quyền là Đảng ********, người chỉ huy cao nhất trong quân đội là dân sự, không phải là tướng lĩnh. Phi trung tâm hóa cơ chế chỉ huy, kỷ luật và quản lý quân đội, chẳng hạn biến bộ tổng tham mưu như một tổ chức xã hội, phủ nhận vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Đồng nhất quân đội với tổ chức dân sự về vị trí, vai trò và tính chất hoạt động; đòi công khai các hoạt động quân sự như dân sự. Biến đổi mục tiêu sử dụng lực lượng từ bảo vệ quốc gia sang phục vụ lợi ích phi quốc phòng.
Trên thế giới, quan điểm “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Để tránh quân đội can dự vào các tranh chấp chính trị, các nhà nước tư sản quy định quân đội phải “đứng trên đảng phái”, "đứng ngoài đảng phái", chịu sự chỉ huy trực tiếp của nguyên thủ quốc gia mà không chịu sự lãnh đạo hay chi phối của bất kỳ đảng phái nào. Ở mỗi nước, cách thức thực hiện và nội hàm cụ thể của vấn đề “dân sự hóa” quân đội có sự khác biệt, nhưng điểm chung là khẳng định quân đội phải là lực lượng vũ trang của quốc gia, phục vụ lợi ích đất nước.
Dựa trên “học thuyết phân quyền”, giới lập pháp ở nhiều nước đã ban hành hàng loạt đạo luật với kỳ vọng tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, họ tin rằng chế định “dân sự quản lý quân sự” được luật hóa sẽ bảo đảm mọi vấn đề của quân đội đều do lực lượng dân sự quyết định, không liên quan tới bất kỳ đảng phái hay thiết chế quân sự nào.
Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện lợi ích của giai cấp và của nhân dân lao động. Vì vậy, quân đội được lãnh đạo trực tiếp bởi đảng của giai cấp công nhân. Chính điều này khiến các nước tư bản lo ngại và tìm cách làm suy yếu vai trò lãnh đạo ấy bằng cách cổ xúy luận điệu “dân sự hóa” quân đội nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Đối với Việt Nam, đây là một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Thực chất của luận điệu này nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về chính trị, chúng phủ nhận vai trò của các tổ chức đảng, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về pháp lý-tổ chức, chúng xuyên tạc rằng Quân đội là công cụ của toàn xã hội, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không mang bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, chỉ chịu sự quản lý của các thiết chế dân sự và phải được “dân sự hóa” triệt để.
Mục tiêu của các thế lực thù địch là gây nhiễu loạn nhận thức, lung lạc ý chí, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; làm sai lệch mục tiêu xây dựng và chiến đấu, tạo ra sự hoài nghi về chức năng, bản chất và vai trò của Quân đội ta; nhạt hóa niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Xa hơn là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến Quân đội phai nhạt bản chất cách mạng và suy giảm sức mạnh chiến đấu bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân để dễ bề can thiệp, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Âm mưu, thủ đoạn “dân sự hóa” quân đội
“Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân”, cho nên các thế lực thù địch lợi dụng vào đó để ngụy biện rằng Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phụng sự nhân dân, do nhân dân chỉ huy, quản lý; Quân đội không phụ thuộc vào một đảng phái nào mà là của chung nhân dân, dân tộc. Chúng còn đưa ra những yêu sách phi lý như đòi công khai toàn bộ vấn đề quân sự, quốc phòng, ngân sách quốc phòng; đòi nhân dân được giám sát và quyết định các vấn đề quân sự; xuyên tạc chủ trương hiện đại hóa Quân đội, bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế-quốc phòng của Quân đội. Chúng tìm cách gieo rắc lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, coi thường kỷ luật, thờ ơ chính trị nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để dễ bề thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ bên trong...
Để hiện thực hóa âm mưu đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm.
Trước hết, chúng tấn công trực diện vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bóp méo cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội.
Dưới chiêu bài “quân đội quốc gia”, “quân đội phục tùng hiến pháp”, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Từ đó, chúng đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” thuần túy cho Quốc hội, Chính phủ như mô hình quân đội các nước tư sản. Chúng còn dẫn chứng những hiện tượng “bề ngoài” để biện hộ cho quan điểm “dân sự hóa quân đội” và “khuyên răn” Việt Nam làm theo, như: Bộ trưởng quốc phòng nhiều nước không phải quân nhân; áp dụng thuyết “tam quyền phân lập”, một số nước đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái... Để tạo sự mơ hồ, dễ bề chuyển hóa khái niệm này, chúng ra sức tô hồng mô hình quân đội các nước tư sản mà bỏ qua một thực tế rõ ràng ở những nước này, các chính đảng nắm quyền vẫn thông qua người của đảng mình nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền, chi phối lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính sách quân sự, quốc phòng.
Thứ hai, cố tình bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng của Quân đội.
Bằng những lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch quy chụp nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng thành “làm kinh tế thuần túy”, rồi từ đó vu cáo Quân đội “lợi ích nhóm”, “đặc quyền đặc lợi” (?!) Từ đó, chúng phủ nhận những đóng góp quan trọng của Quân đội trong lĩnh vực kinh tế, rêu rao rằng Quân đội đã “đánh mất bản chất cách mạng”, bị “tha hóa bởi kinh tế thị trường” nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.
Thứ ba, trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch tìm cách cổ xúy lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, thiếu trách nhiệm, xem nhẹ kỷ luật, xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Một khi những biểu hiện này len lỏi vào đời sống quân nhân sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hình thành; đồng thời tạo điều kiện để các tư tưởng thù địch thâm nhập và từng bước phá vỡ sự trong sạch, vững mạnh của Quân đội.
Thứ tư, đối với chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng đây là khoản đầu tư “lãng phí”, rằng thời bình và để “chống chạy đua vũ trang”, Việt Nam mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế không còn nguy cơ xung đột, chiến tranh nên không cần hiện đại hóa Quân đội. Dưới chiêu bài “dân chủ”, chúng đòi đưa các vấn đề quân sự, quốc phòng ra bàn luận công khai để nhân dân giám sát và quyết định. Nhằm gieo rắc hoài nghi và chia rẽ trong xã hội, chúng xuyên tạc rằng ngân sách quốc phòng “quá cao” so với nhiều lĩnh vực dân sinh; phủ nhận tính đặc thù của hoạt động quân sự, đánh đồng Quân đội với một cơ quan hành chính thông thường, biến việc quân sự thành việc của dân sự. Từ đó, chúng kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng để “tiết kiệm nguồn lực đầu tư cho phát triển” hoặc huy động đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đề xuất “dân sự hóa hoạt động quân sự”.
Về phương thức, không gian mạng là “mũi tiến công mềm” được các thế lực thù địch khai thác triệt để. Chúng tung tin giả, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc về Quân đội; tạo lập tài khoản ảo, tán phát “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư” với giọng điệu giả danh trí thức để gây nhiễu loạn nhận thức, thao túng dư luận. Mỗi sự cố nhỏ đều bị thổi phồng nhằm gây chia rẽ nội bộ, kích động bất mãn, hạ thấp hình ảnh Quân đội trong mắt nhân dân. Chúng xuyên tạc việc cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn là “diễn”, rằng “tại sao phải mặc quân phục khi giúp đỡ nhân dân, giúp hay chỉ làm màu, khoe mẽ”...
Về lực lượng, các thế lực thù địch móc nối với các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, được các kênh truyền thông chống phá như BBC, VOA, RFA... "hà hơi, tiếp sức", lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc và một bộ phận cư dân mạng dễ bị kích động để lan truyền tin giả, thông tin độc hại.
Nguy cơ “tự diễn biến” từ vấn đề “dân sự hóa” quân đội
Những âm mưu, thủ đoạn trên nếu không bị đấu tranh và loại bỏ, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Nó thẩm thấu, làm suy yếu từ bên trong đối với vai trò của tổ chức đảng; dẫn đến khoảng trống ý thức hệ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dụng, cá nhân chủ nghĩa thâm nhập; bào mòn bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; hạ thấp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, giảm sút uy tín và niềm tin của Quân đội trong lòng nhân dân.
Một số người chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đánh đồng Quân đội với cơ quan dân sự về giờ giấc, chế độ đãi ngộ, rồi thổi phồng trên mạng xã hội, tạo thành những luồng dư luận nhiễu loạn, tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội.
Từ sự hời hợt trong nhận thức đến thái độ phủ nhận vai trò, chức năng đội quân chiến đấu chỉ cách nhau một bước nhỏ. Và chính sự lệch lạc này trở thành mảnh đất cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Giảm niềm tin vào Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; coi Quân đội như “nghề công chức vũ trang”, không phải lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu của Đảng. Bài học về sự tan rã của Liên Xô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi đó, 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu “phi chính trị hóa” của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết-chính thể sinh ra mình sụp đổ. Hay gần đây, sự sụp đổ của chính phủ nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông trước sức ép của các cuộc bạo loạn chính trị mang tên “Mùa xuân Arab” cũng có nguyên nhân từ việc mất kiểm soát đối với quân đội.
Một biểu hiện đáng lo ngại của “tự diễn biến” hiện nay là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đánh giá hời hợt, thậm chí giản đơn những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường an ninh thế giới và khu vực, nơi các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược luôn tiềm ẩn cả nguy hại trực tiếp lẫn lâu dài. Nhận thức lệch lạc ấy dẫn tới thái độ xem nhẹ vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh ấy, những “kiến nghị” đòi cắt giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng để dành nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ đi ngược xu thế chung của thế giới mà còn mâu thuẫn với yêu cầu củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.
Trong bối cảnh nhiệm vụ quân sự ngày càng nặng nề và tác động phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, quân nhân nếu không kiên định lập trường, kém tu dưỡng rèn luyện, sẽ bị cuốn vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các doanh nghiệp, bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế, không nên xem nhẹ vấn đề kỷ luật, duy trì môi trường rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất của quân nhân. Bởi nếu tư duy kinh tế lấn át tư duy quân sự, kỷ luật dễ bị buông lỏng, hoạt động của doanh nghiệp dễ rơi vào xu hướng “dân sự hóa”. Điều này tạo nguy cơ khiến cán bộ, nhân viên dễ bị tác động bởi cám dỗ vật chất, sa sút trách nhiệm, thiếu rèn luyện, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng và hành động.
(còn nữa)
 

Có thể bạn quan tâm

Top