8Lake
Thần điêu đại bịp
Mấy bữa nay trời oi bức, tôi ngồi ở quán cà phê ven sông, nghe ông Tư kể chuyện cũ. Ông Tư giờ ngoài sáu mươi, hai tay cụt hai bàn, lúc nào cũng giấu trong ống tay áo rộng thùng thình. Người ta nói ông từng là tay bốc mộ nổi tiếng miền Tây, nhưng nghỉ ngang sau một vụ “làm ăn” kỳ dị.
Ông đưa điếu thuốc lên miệng bằng hai cái cùi tay rồi bình thản kể:
T.a.o bốc mộ từ hồi còn trẻ tới lúc năm mươi mấy tuổi, cơm t.a.o ăn toàn là ở nghĩa địa. Không phải vì t.a.o không còn đất sống, mà vì đó là cái nghề, cái nhà rồi.
Hồi đó ở miệt này, ai có mộ ông bà, cha mẹ muốn sang cát, xây mới hay dời đi, thường kêu t.a.o. Nghề này cực, dơ, lại bị nhiều người kiêng, nhưng tiền công thì không ít.
T.a.o làm riết cũng chai mặt với mấy chuyện mùi tử khí, xương cốt, hay mấy cái “lời đồn” về mộ kết, rắn vàng, dây tơ hồng… T.a.o nghe nhiều, gặp cũng có, nhưng chưa bao giờ bị tới mức phải bỏ nghề. Chỉ trừ một lần… mà bây giờ nhớ lại, da gà t.a.o vẫn nổi.
Chuyện xảy ra cách đây sáu, bảy năm gì đó. Một bữa tối, có thằng thanh niên lạ tới nhà t.a.o. Nó nói nhỏ, là cháu của một bà ở xã bên, nhờ t.a.o bốc mộ. Nghe tới đây, t.a.o gạt liền:
“Chôn được mấy năm?”
Nó nói: “Mới hơn hai năm…”
T.a.o lắc đầu. Luật nhà nước rõ ràng, chưa ba năm là không được bốc, trừ khi có lý do chính đáng. Hơn nữa, dưới ba năm thì mùi tử khí nó còn nặng, làm không kỹ dễ bệnh. T.a.o định từ chối thẳng, nhưng nó lại ghé sát, nói:
“Gia đình con trả chú…. hai trăm triệu… chỉ mở nắp hòm thôi, còn lại tụi con làm hết.”
T.a.o nghe mà ngần ngừ. Hai trăm triệu hồi đó với t.a.o là số tiền đủ để bỏ nghề luôn. Nó lại nói thêm:
“Bà con… không bình thường đâu chú. Chú chịu nghe con kể hông?”
Bà này, theo lời nó, hồi còn sống buôn bán giàu có, nhưng theo hệ bùa chú Campuchia. Trong phòng ngủ, bà thờ một hình nhân vải, mặt trắng, mắt đỏ, môi tô son, mặc áo đỏ. Bà chăm nó kỹ như chăm con: mỗi ngày cúng trầu, rượu, trứng gà. Người nhà nói bà tin nó “giữ của” và “xua xui”.
Bà vẫn sinh hoạt bình thường với gia đình, nhưng tới lúc c.h.ế.t thì chuyện kỳ lạ xảy ra liên tiếp. Đêm bà mất, nến đốt lúc tụng kinh luôn tắt, dù trời lặng gió. Con mèo già gắn bó với bà, chỉ vài giờ sau khi bà tắt thở, nó chui vào gầm quan tài, nằm im rồi c.h.ế.t luôn trong đó.
Ngày đưa đi chôn, cả đám chó hàng chục con từ đâu kéo tới, vây quanh huyệt, sủa như điên. Không con nào chịu lui, mà ai cũng sợ, không dám đuổi. Chôn xong, gia đình khóa phòng bà, không ai dám đụng tới hình nhân.
Nhưng vài tháng sau, chuyện làm ăn của nhà con sụt xuống hẳn. Một người em trai bà vào phòng của bà ném con hình nhân đi giờ đổ bệnh, nằm ở bệnh viện, mê sảng suốt ngày, nói thấy bà đứng cạnh giường, trên tay ôm hình nhân đỏ, giờ ổng nhập viện tâm thần rồi.
Cuối cùng, gia đình phải mời thầy về rước hình nhân đi. Hôm đem con hình nhân đi, Thầy còn bị đụng xe ngoài ngõ mà không sao.
Tưởng xong chuyện, ấy vậy mà mấy nay ba con mơ thấy con hình nhân liên tục, sợ quá nên gọi lại thầy thì thầy có tới xem, bảo là hồi trước lúc tung xe xong thì không thấy con hình nhân nữa, thầy sợ quá nên cũng không báo gia đình, thầy cũng yểm bùa trấn con hình nhân rồi nên chắc mẩm không sao, giờ xảy ra cơ sự thì chắc nên đào mộ bà lên xem thử.
Nghe tới đây, t.a.o thấy gai gai, nhưng trong đầu đã lóe lên con số trăm triệu. Cả đời làm nghề, t.a.o biết ca này phạm nhiều điều cấm: mộ chưa đủ năm, lại làm ban đêm, lại liên quan tới bùa chú. Nhưng nghĩ bụng, làm xong nghỉ luôn, coi như “lần cuối” bỏ túi số vốn.
T.a.o dặn:
“Chỉ mở nắp thôi, tao hổng bốc, hổng lấy xương. Mấy việc còn lại tụi bây tự làm. Tao không ở lâu.”
Thằng cháu gật đầu lia lịa.
đêm đó… trời âm u, gió không mạnh mà cứ hun hút. Tụi t.a.o đào mộ tới khuya. Tới khi lưỡi xẻng chạm vô nắp hòm, t.a.o thấy tay mình cứ lạnh toát, mà mồ hôi ướt hết lưng áo.
Ông thầy pháp – ông này gầy nhom, da sạm, mắt sâu hoắm – ổng đứng trên, miệng lầm rầm. Gia đình bả cầm đèn pin đứng vòng quanh. T.a.o cúi xuống, ráng nạy cái nắp hòm. Cái tiếng “kẹt” nghe như ai cào gỗ.
Nắp vừa bật lên… t.a.o khựng lại.
Bà Tư Sương nằm đó, hai tay ôm cứng lấy một con hình nhân đen thui. Ngón trỏ của nó… trời đất q.u.ỷ thần ơi… vẫn chĩa thẳng vô mặt t.a.o, như đã chờ t.a.o từ trước. Lúc đó, một luồng gió lạnh bạo liệt từ đâu thốc thẳng vô mặt, khiến t.a.o lảo đảo. Mà đêm đó… xung quanh yên ắng, không hề có gió lớn.
Rọi đèn vô… lớp t.h.ị.t bà đã rữa, dính đầy mùn bấy nhầy, nhưng trong đó… lại cựa quậy mấy con cá trê to bằng bắp chân, nhớt nháp, quẫy trơn nhẫy. Chỗ đó cách sông mấy cây số, cá trê ở đâu ra?
Gia đình vừa thấy đã la thất thanh, buông đèn chạy tán loạn, bỏ t.a.o kẹt dưới mộ. T.a.o cuống cuồng chắp tay niệm Phật, mắt không dám nhìn kỹ. Chỉ còn ông thầy pháp đứng trên, vẫn bình tĩnh niệm chú, rồi ổng hất xuống một ca m.á.u gà.
M.á.u bắn lên con hình nhân. Ngay lập tức, từ chỗ nó, một thứ tiếng rít the thé vang lên trong đầu t.a.o, không phải tai nghe mà như vọng trong óc. Hình nhân bắt đầu co giật, thân nó tét ra như bị xé, từng mảng đen rơi xuống, bên trong là thứ gì đỏ au, hôi thối khủng khiếp. M.á.u gà dính cả lên mặt t.a.o, tanh lợm giọng tới mức muốn ói.
Còn khuôn mặt bà Tư Sương… trời ơi, nó biến dạng ngay trước mắt. Cái m.i.ệ.n.g ngoác dài tới mang tai, hai hốc mắt đen ngòm như không đáy, m.ô.i rách toạc nhưng cứ cười bậm bậm. T.a.o hoảng loạn, cố leo lên, nhưng cơn gió lúc này mạnh như bão, ép t.a.o chúi xuống.
T.a.o trượt chân, té chúi vô trong hòm. Hai tay chạm trúng đám t.h.ị.t nhầy nhớt, trơn tuột, bên dưới còn mấy con cá trê quẫy mạnh, cạ ngạnh vô da t.a.o rát buốt. Cái mùi hôi cộng với cảm giác trơn nhẫy khiến t.a.o chỉ muốn phát điên.
T.a.o lấy hết sức, bám mép mộ mà leo lên. Ngó quanh, chỉ còn ông thầy pháp đứng đó. Không còn bóng dáng ai trong gia đình.
T.a.o chẳng nói một tiếng, bỏ chạy một mạch ra khỏi nghĩa địa, mặc cho cái gió phía sau vẫn rít từng hồi như đuổi theo.
Tưởng đâu xong chuyện. Ai dè, từ hôm đó, hai bàn tay ông t.a.o bắt đầu nhức nhối lạ lùng. Lúc đầu chỉ tê cứng, sau nổi mủ vàng, sưng tấy, mùi hôi thối như t.h.ị.t c.h.ế.t. T.a.o chạy hết thầy thuốc tây, đông y, tốn gần hết tiền thù lao mà bệnh càng nặng. Cuối cùng, bác sĩ buộc tháo khớp cả hai bàn tay để giữ mạng.
Giờ, ngồi ở quán cà phê, ông Tư cười méo xệch:
“Tiền trăm triệu… không còn một xu. Mất luôn đôi tay, coi như trả giá. Tới giờ, t.a.o cũng không hiểu… ngón trỏ của hình nhân chỉ t.a.o là… cảnh báo hay nguyền rủa.”
Ông dụi điếu thuốc bằng hai cái cùi tay trông rất chuyên nghiệp, nhìn ra sông. Đêm miền Tây lặng như tờ, chỉ nghe tiếng nước vỗ bờ. Tôi rùng mình, nghĩ thầm… có lẽ cái nghề bốc mộ không chỉ đào đất lấy x.á.c đâu, còn đào cả cái linh thiêng mà người c.h.ế.t mang theo nữa.
………………..
Trong giới làm nghề bốc mả, có một điều cấm kỵ không ai dám thử — đó là đụng vào mồ của người thờ q.u.ỷ. “Thờ q.u.ỷ” ở đây không phải chỉ là mê tín đơn thuần, mà là nuôi dưỡng một thực thể. Nó thường trú ngụ trong một vật trung gian: hình nhân gỗ, búp bê, tượng đất hoặc thậm chí là một khúc xương được “khai nhãn”. Chủ nhân mỗi ngày sẽ nuôi nó bằng máu gà, nhang trầm, đôi khi cả thịt sống, để nó trở thành “người bạn” hoặc “người bảo hộ” trong bóng tối.
Thực thể này không thuộc về Phật hay Thần, mà thuộc về một miền khác, nơi mà luật lệ loài người không chạm tới. Khi chủ nhân chết, nếu hình nhân chưa bị phá, nó sẽ bám theo xác như cái bóng.
Người ta kể rằng, nếu kẻ lạ động mả mà chưa cắt đứt sự liên kết giữa hình nhân và chủ nhân, thực thể ấy sẽ nhận kẻ đó là “kẻ xâm phạm”. Nó không giết ngay, mà trừng phạt từ từ — thường bằng cách lấy đi thứ quý nhất mà người đó cần để sống. Có phu bốc mộ bị mù, có người bỗng mất giọng, có kẻ cả đời không bao giờ còn ngửi được mùi gì ngoài mùi xác mục.
- Trích Bùa Chú – Trần Lang, xuất bản 194
Ông đưa điếu thuốc lên miệng bằng hai cái cùi tay rồi bình thản kể:
T.a.o bốc mộ từ hồi còn trẻ tới lúc năm mươi mấy tuổi, cơm t.a.o ăn toàn là ở nghĩa địa. Không phải vì t.a.o không còn đất sống, mà vì đó là cái nghề, cái nhà rồi.
Hồi đó ở miệt này, ai có mộ ông bà, cha mẹ muốn sang cát, xây mới hay dời đi, thường kêu t.a.o. Nghề này cực, dơ, lại bị nhiều người kiêng, nhưng tiền công thì không ít.
T.a.o làm riết cũng chai mặt với mấy chuyện mùi tử khí, xương cốt, hay mấy cái “lời đồn” về mộ kết, rắn vàng, dây tơ hồng… T.a.o nghe nhiều, gặp cũng có, nhưng chưa bao giờ bị tới mức phải bỏ nghề. Chỉ trừ một lần… mà bây giờ nhớ lại, da gà t.a.o vẫn nổi.
Chuyện xảy ra cách đây sáu, bảy năm gì đó. Một bữa tối, có thằng thanh niên lạ tới nhà t.a.o. Nó nói nhỏ, là cháu của một bà ở xã bên, nhờ t.a.o bốc mộ. Nghe tới đây, t.a.o gạt liền:
“Chôn được mấy năm?”
Nó nói: “Mới hơn hai năm…”
T.a.o lắc đầu. Luật nhà nước rõ ràng, chưa ba năm là không được bốc, trừ khi có lý do chính đáng. Hơn nữa, dưới ba năm thì mùi tử khí nó còn nặng, làm không kỹ dễ bệnh. T.a.o định từ chối thẳng, nhưng nó lại ghé sát, nói:
“Gia đình con trả chú…. hai trăm triệu… chỉ mở nắp hòm thôi, còn lại tụi con làm hết.”
T.a.o nghe mà ngần ngừ. Hai trăm triệu hồi đó với t.a.o là số tiền đủ để bỏ nghề luôn. Nó lại nói thêm:
“Bà con… không bình thường đâu chú. Chú chịu nghe con kể hông?”
Bà này, theo lời nó, hồi còn sống buôn bán giàu có, nhưng theo hệ bùa chú Campuchia. Trong phòng ngủ, bà thờ một hình nhân vải, mặt trắng, mắt đỏ, môi tô son, mặc áo đỏ. Bà chăm nó kỹ như chăm con: mỗi ngày cúng trầu, rượu, trứng gà. Người nhà nói bà tin nó “giữ của” và “xua xui”.
Bà vẫn sinh hoạt bình thường với gia đình, nhưng tới lúc c.h.ế.t thì chuyện kỳ lạ xảy ra liên tiếp. Đêm bà mất, nến đốt lúc tụng kinh luôn tắt, dù trời lặng gió. Con mèo già gắn bó với bà, chỉ vài giờ sau khi bà tắt thở, nó chui vào gầm quan tài, nằm im rồi c.h.ế.t luôn trong đó.
Ngày đưa đi chôn, cả đám chó hàng chục con từ đâu kéo tới, vây quanh huyệt, sủa như điên. Không con nào chịu lui, mà ai cũng sợ, không dám đuổi. Chôn xong, gia đình khóa phòng bà, không ai dám đụng tới hình nhân.
Nhưng vài tháng sau, chuyện làm ăn của nhà con sụt xuống hẳn. Một người em trai bà vào phòng của bà ném con hình nhân đi giờ đổ bệnh, nằm ở bệnh viện, mê sảng suốt ngày, nói thấy bà đứng cạnh giường, trên tay ôm hình nhân đỏ, giờ ổng nhập viện tâm thần rồi.
Cuối cùng, gia đình phải mời thầy về rước hình nhân đi. Hôm đem con hình nhân đi, Thầy còn bị đụng xe ngoài ngõ mà không sao.
Tưởng xong chuyện, ấy vậy mà mấy nay ba con mơ thấy con hình nhân liên tục, sợ quá nên gọi lại thầy thì thầy có tới xem, bảo là hồi trước lúc tung xe xong thì không thấy con hình nhân nữa, thầy sợ quá nên cũng không báo gia đình, thầy cũng yểm bùa trấn con hình nhân rồi nên chắc mẩm không sao, giờ xảy ra cơ sự thì chắc nên đào mộ bà lên xem thử.
Nghe tới đây, t.a.o thấy gai gai, nhưng trong đầu đã lóe lên con số trăm triệu. Cả đời làm nghề, t.a.o biết ca này phạm nhiều điều cấm: mộ chưa đủ năm, lại làm ban đêm, lại liên quan tới bùa chú. Nhưng nghĩ bụng, làm xong nghỉ luôn, coi như “lần cuối” bỏ túi số vốn.
T.a.o dặn:
“Chỉ mở nắp thôi, tao hổng bốc, hổng lấy xương. Mấy việc còn lại tụi bây tự làm. Tao không ở lâu.”
Thằng cháu gật đầu lia lịa.
đêm đó… trời âm u, gió không mạnh mà cứ hun hút. Tụi t.a.o đào mộ tới khuya. Tới khi lưỡi xẻng chạm vô nắp hòm, t.a.o thấy tay mình cứ lạnh toát, mà mồ hôi ướt hết lưng áo.
Ông thầy pháp – ông này gầy nhom, da sạm, mắt sâu hoắm – ổng đứng trên, miệng lầm rầm. Gia đình bả cầm đèn pin đứng vòng quanh. T.a.o cúi xuống, ráng nạy cái nắp hòm. Cái tiếng “kẹt” nghe như ai cào gỗ.
Nắp vừa bật lên… t.a.o khựng lại.
Bà Tư Sương nằm đó, hai tay ôm cứng lấy một con hình nhân đen thui. Ngón trỏ của nó… trời đất q.u.ỷ thần ơi… vẫn chĩa thẳng vô mặt t.a.o, như đã chờ t.a.o từ trước. Lúc đó, một luồng gió lạnh bạo liệt từ đâu thốc thẳng vô mặt, khiến t.a.o lảo đảo. Mà đêm đó… xung quanh yên ắng, không hề có gió lớn.
Rọi đèn vô… lớp t.h.ị.t bà đã rữa, dính đầy mùn bấy nhầy, nhưng trong đó… lại cựa quậy mấy con cá trê to bằng bắp chân, nhớt nháp, quẫy trơn nhẫy. Chỗ đó cách sông mấy cây số, cá trê ở đâu ra?
Gia đình vừa thấy đã la thất thanh, buông đèn chạy tán loạn, bỏ t.a.o kẹt dưới mộ. T.a.o cuống cuồng chắp tay niệm Phật, mắt không dám nhìn kỹ. Chỉ còn ông thầy pháp đứng trên, vẫn bình tĩnh niệm chú, rồi ổng hất xuống một ca m.á.u gà.
M.á.u bắn lên con hình nhân. Ngay lập tức, từ chỗ nó, một thứ tiếng rít the thé vang lên trong đầu t.a.o, không phải tai nghe mà như vọng trong óc. Hình nhân bắt đầu co giật, thân nó tét ra như bị xé, từng mảng đen rơi xuống, bên trong là thứ gì đỏ au, hôi thối khủng khiếp. M.á.u gà dính cả lên mặt t.a.o, tanh lợm giọng tới mức muốn ói.
Còn khuôn mặt bà Tư Sương… trời ơi, nó biến dạng ngay trước mắt. Cái m.i.ệ.n.g ngoác dài tới mang tai, hai hốc mắt đen ngòm như không đáy, m.ô.i rách toạc nhưng cứ cười bậm bậm. T.a.o hoảng loạn, cố leo lên, nhưng cơn gió lúc này mạnh như bão, ép t.a.o chúi xuống.
T.a.o trượt chân, té chúi vô trong hòm. Hai tay chạm trúng đám t.h.ị.t nhầy nhớt, trơn tuột, bên dưới còn mấy con cá trê quẫy mạnh, cạ ngạnh vô da t.a.o rát buốt. Cái mùi hôi cộng với cảm giác trơn nhẫy khiến t.a.o chỉ muốn phát điên.
T.a.o lấy hết sức, bám mép mộ mà leo lên. Ngó quanh, chỉ còn ông thầy pháp đứng đó. Không còn bóng dáng ai trong gia đình.
T.a.o chẳng nói một tiếng, bỏ chạy một mạch ra khỏi nghĩa địa, mặc cho cái gió phía sau vẫn rít từng hồi như đuổi theo.
Tưởng đâu xong chuyện. Ai dè, từ hôm đó, hai bàn tay ông t.a.o bắt đầu nhức nhối lạ lùng. Lúc đầu chỉ tê cứng, sau nổi mủ vàng, sưng tấy, mùi hôi thối như t.h.ị.t c.h.ế.t. T.a.o chạy hết thầy thuốc tây, đông y, tốn gần hết tiền thù lao mà bệnh càng nặng. Cuối cùng, bác sĩ buộc tháo khớp cả hai bàn tay để giữ mạng.
Giờ, ngồi ở quán cà phê, ông Tư cười méo xệch:
“Tiền trăm triệu… không còn một xu. Mất luôn đôi tay, coi như trả giá. Tới giờ, t.a.o cũng không hiểu… ngón trỏ của hình nhân chỉ t.a.o là… cảnh báo hay nguyền rủa.”
Ông dụi điếu thuốc bằng hai cái cùi tay trông rất chuyên nghiệp, nhìn ra sông. Đêm miền Tây lặng như tờ, chỉ nghe tiếng nước vỗ bờ. Tôi rùng mình, nghĩ thầm… có lẽ cái nghề bốc mộ không chỉ đào đất lấy x.á.c đâu, còn đào cả cái linh thiêng mà người c.h.ế.t mang theo nữa.
………………..
Trong giới làm nghề bốc mả, có một điều cấm kỵ không ai dám thử — đó là đụng vào mồ của người thờ q.u.ỷ. “Thờ q.u.ỷ” ở đây không phải chỉ là mê tín đơn thuần, mà là nuôi dưỡng một thực thể. Nó thường trú ngụ trong một vật trung gian: hình nhân gỗ, búp bê, tượng đất hoặc thậm chí là một khúc xương được “khai nhãn”. Chủ nhân mỗi ngày sẽ nuôi nó bằng máu gà, nhang trầm, đôi khi cả thịt sống, để nó trở thành “người bạn” hoặc “người bảo hộ” trong bóng tối.
Thực thể này không thuộc về Phật hay Thần, mà thuộc về một miền khác, nơi mà luật lệ loài người không chạm tới. Khi chủ nhân chết, nếu hình nhân chưa bị phá, nó sẽ bám theo xác như cái bóng.
Người ta kể rằng, nếu kẻ lạ động mả mà chưa cắt đứt sự liên kết giữa hình nhân và chủ nhân, thực thể ấy sẽ nhận kẻ đó là “kẻ xâm phạm”. Nó không giết ngay, mà trừng phạt từ từ — thường bằng cách lấy đi thứ quý nhất mà người đó cần để sống. Có phu bốc mộ bị mù, có người bỗng mất giọng, có kẻ cả đời không bao giờ còn ngửi được mùi gì ngoài mùi xác mục.
- Trích Bùa Chú – Trần Lang, xuất bản 194
