Các câu chuyện hay về chiến tranh, về lịch sử VN và thế giới @@@

  • Tạo bởi Tạo bởi Cqson
  • Start date Start date

Cqson

Địt Bùng Đạo Tổ
Nếu có ai ủng hộ thì sẽ bắt đầu các sưu tầm
Thông qua các câu chuyện này sẽ giúp MN hiểu hơn về lịch sử, về giá trị hòa bình và cuộc sống
Nếu ai có sẵn thì cùng góp cho phong phú !!!
 
Nếu có ai ủng hộ thì sẽ bắt đầu các sưu tầm
Thông qua các câu chuyện này sẽ giúp MN hiểu hơn về lịch sử, về giá trị hòa bình và cuộc sống
Nếu ai có sẵn thì cùng góp cho phong phú !!!
T mún bít chiến tranh vn, đánh pháp ,đủi mĩ ntn,và ponpot
 
Máy Enigma
Enigma được ra đời năm 1918, song tới năm 1926, Hải quân Đức đã mua lại nó và sau đó 3 năm, Đức Quốc xã sử dụng rộng rãi với mục đích quân sự. Đây là cỗ máy được dùng để mã hoá tất cả những thư tín liên lạc, giữ bảo mật hoàn toàn các thông tin quân sự của Đức. Cùng với năng lực quân sự mạnh mẽ, nước Đức khi đó một mình chiến đấu với toàn bộ châu Âu và trước tình thế này, quân đội Anh phải tìm cách phá bộ giải mã của Enigma để tìm kiếm cơ hội ngăn chặn sự bành trướng của người Đức.
Quân Đức được lệnh hủy máy mã hóa Enigma nếu bị thua, phải rút quân hoặc bị bắt nhằm tránh để lọt bí mật vào tay quân Đồng minh. Chính vì vậy mà ngày nay còn rất ít máy Enigma còn sót lại. Chính bộ phim “The Imitaion Game” cũng góp phần làm cho số người săn lùng Enigma càng đông đảo hơn.
Theo NBC New, một cỗ máy trong tình trạng tốt, sản xuất năm 1943 được đưa ra bán đấu giá với mức giá 232.015 USD, gấp đôi giá dự định ban đầu.
 
Máy mã hóa Enigma - mảnh ghép bí ẩn của Đức Quốc xã
Một chiếc máy trông như một máy đánh chữ được đặt trong một hộp gỗ, với hệ thống các bánh xe chữ và bảng cáp điện nhằm hoán vị các chữ cái. Với vẻ bề ngoài tưởng chừng như đơn giản, Enigma che giấu khả năng mã hóa vĩ đại của nó. Enigma không phải cỗ máy mã hóa đầu tiên trên thế giới, nhưng là cỗ máy hoàn thiện nhất thế giới. Nó có khả năng tạo ra 159 triệu triệu triệu khả năng khác nhau.
Nếu có 10 người cùng ngồi thử từng thuật toán mã hoá của Enigma, làm việc suốt 24/7 thì phải mất 20 triệu năm mới giải mã được một bức mật hàm. Trong Thế chiến thứ II, quân Đồng Minh chỉ có tối đa 18 tiếng để giải mã, vì cứ sau nửa đêm các cỗ máy Enigma lại được thông báo thay đổi cấu trúc và tạo thành 159 triệu triệu triệu khả năng hoàn toàn khác.
Máy mã hóa Enigma là một sự kết hợp của các hệ thống cơ khí và điện. Các hệ thống cơ khí bao gồm một bàn phím; một tập hợp các đĩa có bánh răng được gọi là rotor cùng một trục quay nhằm mã hóa những chữ cái thành mật mã và một bảng gồm những bóng đèn nhấp nháy thể hiện những chữ cái được mã hóa đó.
 
Phát xít Đức đã nhanh chóng cải tiến cỗ máy này với hệ thống hoán đổi plugboard. Đây là một hệ thống điện, để hoán đổi các chữ cái thêm một lần nữa, tối đa là 6 kết nối. Tuy nhiên điểm đặc biệt của hệ thống này là nó chống lại việc suy ngược các ký tự. Tức là từ A thành B, nhưng ngược lại từ B lại ra C.
Hệ thống này đã tăng khả năng mã hóa của Enigma lên con số 100.391.791.500 cách. Năm 1939, phát xít Đức tiếp tục cải tiến Enigma một lần nữa, với việc tăng từ 3 lên 5 rotor và hệ thống hoán đổi plugboard từ 6 lên 10 kết nối. Điều này đã khiến cho cỗ máy mã hóa này có thể tạo ra 159 triệu triệu triệu kết quả.
 
Chỉ có một cỗ máy mới có thể đánh bại một cỗ máy
Sức mạnh của mật mã Enigma đã khiến cho quân Đức hoàn toàn tin tưởng vào sự an toàn của những bức mật thư. Ngay cả khi phải đối mặt với bằng chứng rõ ràng rằng mật mã Enigma đã bị phá vỡ, họ vẫn kiên quyết từ chối và tiếp tục tin tưởng nó. Thay vào đó quân Đức cho rằng những thất bại đó là do các điệp viên hoặc do sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.
Vào tháng 12/1932, Marian Rejewski, một nhà toán học tại Cục Mật mã Ba Lan đã dựng lại hệ thống phân tích mật mã dựa trên toán học. Đây có thể coi là đột phá lớn nhất trong lịch sử phân tích mật mã. Rejewski đã cùng với các đồng sự của mình tiếp tục nghiên cứu và bắt nhịp với những tiến hóa trong các thành phần hệ thống cũng như các thủ tục mật mã hóa.

25_mot167.jpg
Một máy mã hóa Enigma với các rotor được trưng bày trong bảo tàng.
Các chuyên viên mật mã Ba Lan đã phát minh ra máy giải mã cơ điện đầu tiên “bẻ gãy” hệ thống mã hóa Enigma. Họ phát minh ra thiết bị này vào năm 1938 và gọi sáng chế này là “bombe”. Các bombe gồm 6 máy Enigma được kết nối, vì vậy mà tất cả 6 cài đặt rotor có thể được kiểm tra cùng một lúc. Sử dụng bombe, người Ba Lan đã có thể xác định cài đặt rotor Enigma và giải mã các thông điệp của Đức Quốc xã trong vòng hai giờ.
Thật không may, khi cuộc xâm lược Ba Lan bắt đầu, quân Đức đã thêm 2 cánh quạt mới, tăng sự kết hợp có thể có của rotor. Điều này đã làm bombe Ba Lan không hiệu quả, trận chiến của trí thông minh đã nghiêng về các chuyên gia Đức Quốc xã. Nhưng những kết quả bước đầu này được cung cấp cho cơ quan tình báo vô tuyến Anh.
Các thành viên chủ chốt của Cục Mật mã Ba Lan đã hợp tác với các nhà mật mã học của Anh tại Bletchley Park. Những người Anh, trong đó bao gồm những tên tuổi lớn của ngành mật mã học như Gordon Welchman và Alan Turing, người sáng lập khái niệm khoa học điện toán hiện đại, đã góp công lớn trong việc phát triển các kỹ thuật phá mã hệ thống máy Enigman.
Sau khi hợp tác, dưới sự lãnh đạo của Alan Turing, một máy giải mã cơ điện có tên là Turing Bomb được chế tạo thành công. Thời đó, các bombe Anh là một kỳ quan của kỹ thuật cơ khí và điện. Nó có chức năng tương đương với 36 máy Enigma và có khả năng tính toán các cài đặt rotor cho các phím trong khoảng 12 giờ mỗi ngày.
Từ thời điểm đó, tất cả các tin nhắn có thể được đọc trong thời gian thực. Có tới 210 bombe Anh được xây dựng trong thời gian chiến tranh và tất cả đã bị phá hủy vào những ngày cuối của cuộc chiến. Khi Mỹ tham chiến, họ đã xây dựng một bombe để giải mã máy Enigma 4 rotor của hải quân Đức.
Bombe này được thiết kế để có thể giải mã nhanh hơn sự kết hợp lớn hơn các thiết lập của loại máy 4 rotor của hải quân Đức. So với loại Enigma 3 rotor, số lượng kết hợp rotor tăng 60-336 (8 x 7 x 6). Hệ thống này của người Mỹ nhanh hơn các đối tác Anh tới 34 lần. Những bombe này thực sự khổng lồ và nặng tới 2.5 tấn, đã có 121 bombe của Mỹ được xây dựng trong chiến tranh.
Trước khi Mỹ tham chiến, tàu ngầm của Đức Quốc xã là mối đe dọa lớn nhất đối với nước Anh. Họ phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ Mỹ, và Đức quốc xã với chiến lược “wolfpacks - bầy sói” đã đánh chìm trung bình 60 tàu mỗi tháng.
Ngày 9/5/1941, tàu khu trục HMS Bulldog của Anh đã trục vớt được tàu ngầm U110 của Đức và lấy được sách mã Enigman cùng với hai máy mật mã và nhiều tài liệu quan trọng khác. Dựa trên kết quả của việc giải mã, quân Đồng minh đã chiếm lợi thế trong trận hải chiến Đại Tây Dương.
Một điều đáng kinh ngạc đối với Enigma là bí mật được duy trì trong nhiều thập kỷ sau Thế chiến thứ II. Khoảng 11.000 người tại Bletchley Park và 4.000 ở Mỹ đã làm việc để giải mã Enigma. Mặc dù đông người tham gia như vậy, nhưng những bí mật không được tiết lộ cho đến khi chính phủ Anh công khai thừa nhận việc này vào năm 1974, tức là gần 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Nhóm giải mã Bletchley Park từng được tôn vinh như những người hùng trên truyền hình, được dựng phim và viết tiểu thuyết. Giờ đây, các cựu nhân viên khi xưa vẫn chưa hề có ý định đóng lại quyển sách Thế chiến thứ II, và luôn mong có người giải được những tin nhắn mật mã còn sót lại. Và họ nhường quyền đó lại cho những người thật sự đam mê.
 
tao thích những chuyện thâm cung bí sử hơn, m có không :pudency:
Chỉ có một cỗ máy mới có thể đánh bại một cỗ máy
Sức mạnh của mật mã Enigma đã khiến cho quân Đức hoàn toàn tin tưởng vào sự an toàn của những bức mật thư. Ngay cả khi phải đối mặt với bằng chứng rõ ràng rằng mật mã Enigma đã bị phá vỡ, họ vẫn kiên quyết từ chối và tiếp tục tin tưởng nó. Thay vào đó quân Đức cho rằng những thất bại đó là do các điệp viên hoặc do sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.
Vào tháng 12/1932, Marian Rejewski, một nhà toán học tại Cục Mật mã Ba Lan đã dựng lại hệ thống phân tích mật mã dựa trên toán học. Đây có thể coi là đột phá lớn nhất trong lịch sử phân tích mật mã. Rejewski đã cùng với các đồng sự của mình tiếp tục nghiên cứu và bắt nhịp với những tiến hóa trong các thành phần hệ thống cũng như các thủ tục mật mã hóa.

25_mot167.jpg
Một máy mã hóa Enigma với các rotor được trưng bày trong bảo tàng.
Các chuyên viên mật mã Ba Lan đã phát minh ra máy giải mã cơ điện đầu tiên “bẻ gãy” hệ thống mã hóa Enigma. Họ phát minh ra thiết bị này vào năm 1938 và gọi sáng chế này là “bombe”. Các bombe gồm 6 máy Enigma được kết nối, vì vậy mà tất cả 6 cài đặt rotor có thể được kiểm tra cùng một lúc. Sử dụng bombe, người Ba Lan đã có thể xác định cài đặt rotor Enigma và giải mã các thông điệp của Đức Quốc xã trong vòng hai giờ.
Thật không may, khi cuộc xâm lược Ba Lan bắt đầu, quân Đức đã thêm 2 cánh quạt mới, tăng sự kết hợp có thể có của rotor. Điều này đã làm bombe Ba Lan không hiệu quả, trận chiến của trí thông minh đã nghiêng về các chuyên gia Đức Quốc xã. Nhưng những kết quả bước đầu này được cung cấp cho cơ quan tình báo vô tuyến Anh.
Các thành viên chủ chốt của Cục Mật mã Ba Lan đã hợp tác với các nhà mật mã học của Anh tại Bletchley Park. Những người Anh, trong đó bao gồm những tên tuổi lớn của ngành mật mã học như Gordon Welchman và Alan Turing, người sáng lập khái niệm khoa học điện toán hiện đại, đã góp công lớn trong việc phát triển các kỹ thuật phá mã hệ thống máy Enigman.
Sau khi hợp tác, dưới sự lãnh đạo của Alan Turing, một máy giải mã cơ điện có tên là Turing Bomb được chế tạo thành công. Thời đó, các bombe Anh là một kỳ quan của kỹ thuật cơ khí và điện. Nó có chức năng tương đương với 36 máy Enigma và có khả năng tính toán các cài đặt rotor cho các phím trong khoảng 12 giờ mỗi ngày.
Từ thời điểm đó, tất cả các tin nhắn có thể được đọc trong thời gian thực. Có tới 210 bombe Anh được xây dựng trong thời gian chiến tranh và tất cả đã bị phá hủy vào những ngày cuối của cuộc chiến. Khi Mỹ tham chiến, họ đã xây dựng một bombe để giải mã máy Enigma 4 rotor của hải quân Đức.
Bombe này được thiết kế để có thể giải mã nhanh hơn sự kết hợp lớn hơn các thiết lập của loại máy 4 rotor của hải quân Đức. So với loại Enigma 3 rotor, số lượng kết hợp rotor tăng 60-336 (8 x 7 x 6). Hệ thống này của người Mỹ nhanh hơn các đối tác Anh tới 34 lần. Những bombe này thực sự khổng lồ và nặng tới 2.5 tấn, đã có 121 bombe của Mỹ được xây dựng trong chiến tranh.
Trước khi Mỹ tham chiến, tàu ngầm của Đức Quốc xã là mối đe dọa lớn nhất đối với nước Anh. Họ phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ Mỹ, và Đức quốc xã với chiến lược “wolfpacks - bầy sói” đã đánh chìm trung bình 60 tàu mỗi tháng.
Ngày 9/5/1941, tàu khu trục HMS Bulldog của Anh đã trục vớt được tàu ngầm U110 của Đức và lấy được sách mã Enigman cùng với hai máy mật mã và nhiều tài liệu quan trọng khác. Dựa trên kết quả của việc giải mã, quân Đồng minh đã chiếm lợi thế trong trận hải chiến Đại Tây Dương.
Một điều đáng kinh ngạc đối với Enigma là bí mật được duy trì trong nhiều thập kỷ sau Thế chiến thứ II. Khoảng 11.000 người tại Bletchley Park và 4.000 ở Mỹ đã làm việc để giải mã Enigma. Mặc dù đông người tham gia như vậy, nhưng những bí mật không được tiết lộ cho đến khi chính phủ Anh công khai thừa nhận việc này vào năm 1974, tức là gần 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Nhóm giải mã Bletchley Park từng được tôn vinh như những người hùng trên truyền hình, được dựng phim và viết tiểu thuyết. Giờ đây, các cựu nhân viên khi xưa vẫn chưa hề có ý định đóng lại quyển sách Thế chiến thứ II, và luôn mong có người giải được những tin nhắn mật mã còn sót lại. Và họ nhường quyền đó lại cho những người thật sự đam mê.
 
tao thích những chuyện thâm cung bí sử hơn, m có không :pudency:
Có chuyện này cũng thâm cung bí sử này, mà hài hước nữa. Tao kể mày nghe:

Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Khi ông cụ thấy bên dưới ồn ào liền ngừng lại, hỏi:

- Tôi nỏi đồng bào nghe rọ không? (vì giọng Nghệ Tĩnh).

Bên dưới dạ ran "Có ạ! Có ạ!", thì bên trong cánh gà, có ông buột miệng:

- Lịt pẹ cái tồng pào!

Người nói câu đó là Nguyễn Hải Thần, một quan chức của Cách mạng. Vì sống lâu quá bên Tàu nên giọng như người Tàu học tiếng Việt, "lịt pẹ cái tồng pào" là "địt mẹ cái đồng bào".
 
Sửa lần cuối:
282991
Đây là 1 người mẹ Do Thái tuyệt vọng nỗ lực bảo vệ con mình trong cuộc thảm sát của Đức quốc xã . Trong tổng số 6 triệu người Do Thái thiệt mạng , hơn 1 triệu là trẻ em và số tương đương các bà mẹ .
 
282992
NGƯỜI LÍNH ĐANG HẤP HỐI VÀ VỊ LINH MỤC

Đây là bức ảnh đã đoạt giải thưởng nhiếp ảnh quốc tế Pulitzer Prize năm 1962.

Bức ảnh này được chụp bởi phóng viên chiến trường có tên là Héctor Rondón Lovera, ghi lại một khoảnh khắc trong cuộc đối đấu giữa quân đội chính phủ và phe nổi loạn tại thành phố Puerto Cabello đất nước Venezuela (ngày 4 tháng 6 năm 1962).

Trung tâm bức ảnh là hình ảnh đầy xúc động: Người lính bị trúng đạn, anh đang gồng hết sức tàn còn lại để bám vào áo chùng thâm của linh mục. Người linh mục trong ảnh là vị tuyên úy quân đội, cha Luis Padillo.

Cha Luis đưa hai tay ôm lấy tấm thân đầy thương tích của người lính. Ánh mắt cha nhìn đăm đăm về phía bên kia làn đạn. Phía bên kia là những nòng súng nóng đỏ đang chờ nhả ra những viên đạn chết chóc.

Để ý kĩ chúng ta thấy xác đạn còn vương vãi đầy trên đường phố. Bất chấp hiểm nguy, người linh mục vẫn cố gắng đi đến với những người lính đang cần ngài trợ giúp trước lúc qua đời.

Có một sự trùng hợp đến lạnh gáy ở đây: Phía sau lưng vị linh mục là cửa hàng bán thịt với biển hiện đề chữ “Carniceria.” Trong tiếng Bồ Đào Nha, Cericira vừa mang nghĩa là tiệm bán thịt, vừa là lò sát sinh. Chiến tranh, tàn sát, giết chóc luôn phơi bày sự hung dữ, nghiệt ngã của số phận.

Ở đây người viết ko nói chuyện ai đúng ai sai giữa bên chính phủ và những người nổi dậy bởi lẽ cuộc chiến nào cũng chỉ mang lại đau khổ, chết chóc, tang thương mà thôi.

Bức ảnh diễn tả một chiều kích lớn lao hơn. Tấm áo chùng thâm của người linh mục gợi lên một niềm hi vọng vào đời sống sau này cho người lính. Vì vậy mà anh cố gắng gượng chút sức lực còn lại để bám vào người linh mục. Khổ đau đã chấm dứt, giờ là lúc người lính có thể thanh thản bước vào cõi ngàn thu.
.......

(Duc Trung Vu, CSsR)
 
Còn đây, Cựu chiến binh cuối cùng của một sư đoàn bộ binh Soviet bật khóc khi đơn độc diễu hành đại diện cho đơn vị . Tất cả đồng đội năm xưa đã không còn có thể tham dự cùng ông lễ duyệt binh kỷ niệm chiến thắng WW 2
282996
Đây có phải là cảm giác của Woverin trong Xmen?
 
Nếu có ai ủng hộ thì sẽ bắt đầu các sưu tầm
Thông qua các câu chuyện này sẽ giúp MN hiểu hơn về lịch sử, về giá trị hòa bình và cuộc sống
Nếu ai có sẵn thì cùng góp cho phong phú !!!
BRO MẬT THƯ CHO E NHỜ XÍU DC KO Ạ
 
Về chiến tranh điện tử cực kỳ hấp dẫn
Một cuộc đấu trí ko ngừng nghỉ từ khi thế chiến 1 đến tận bây giờ
Ngày mai lên sóng
 
Nếu có ai ủng hộ thì sẽ bắt đầu các sưu tầm
Thông qua các câu chuyện này sẽ giúp MN hiểu hơn về lịch sử, về giá trị hòa bình và cuộc sống
Nếu ai có sẵn thì cùng góp cho phong phú !!!
Kể tao nghe về Thành cát Tư Hãn đi mày
 
283079
283080

283082Mata Hari - Nữ điệp viên đẹp nhất mọi thời đại
Vũ nữ thoát y nổi tiếng đương thời mệnh danh "Người tình của Châu Âu", cô bị xử bắn tại Paris vào ngày 15/10/1917 vì cáo buộc hợp tác với nước Đức.

Sinh năm 1876 ở Hà Lan, Mata Hari tên thật là Margaretha Geertruida Zelle. Còn cái tên Mata Hari trong tiếng Mã Lai có nghĩa là "Con mắt của ban ngày", tức Mặt trời, nguồn gốc từ vùng Đông Ấn trước kia là thuộc địa của Hà Lan.

Vào năm 1889, bố cô bỏ rơi gia đình để chạy theo một người đàn bà khác. Vài năm sau, mẹ đẻ là Antje Zelle qua đời khi Margaretha vừa bước vào tuổi teen. Cái chết của mẹ khiến Margaretha, vốn đã là một đứa trẻ được cưng chiều quá mức, hoàn toàn không còn nhận được sự uốn nắn từ bất kỳ người thân nào khác.

Năm 14 tuổi, Margaretha được người thân gửi tới một ngôi trường đào tạo giáo viên, cùng thời điểm cô bắt đầu dậy thì. Chỉ hai năm sau, cô bị đuổi khỏi ngôi trường kia vì khiến vị hiệu trưởng đã có gia đình lên giường với mình.

Từ đây cô chuyển tới sống ở The Hague, thành phố đầy ắp các quan chức quản lý thuộc địa, mới trở về sau thời gian phục vụ ở Đông Ấn Hà Lan (Indonesia hiện nay). Cô đọc báo và thấy một bài quảng cáo do Đại úy Rudolf MacLeod đăng, bày tỏ nguyện vọng muốn được gặp gỡ rồi kết hôn một “cô gái với tính cách dễ chịu” nên đã liên lạc với ông này. Margaretha biết rằng nhiều quan chức thuộc địa ở Đông Ấn Hà Lan thường sống trong những ngôi nhà lớn với rất nhiều gia nhân.

“Tôi muốn được sống ung dung tự tại, như một con bướm bay dưới ánh dương”, cô nói trong một cuộc phỏng vấn sau này. Vậy là cô và vị đại úy kia đính hôn chỉ 6 ngày sau khi đôi bên gặp nhau vào tháng 7.1895, khi ấy cô mới 18 tuổi.

Tuy nhiên cuộc sống đã không diễn ra theo chiều hướng mà cô mong đợi, vì MacLeod có ít tiền, đang ngập trong nợ nần, đặc biệt là rất lăng nhăng và mắc bệnh giang mai. Năm 1902, họ ly hôn.

Trở lại châu Âu trước ngày nổ ra Thế chiến, Margarethe Zelle lột xác trở thành Mata Hari, một vũ nữ nóng bỏng, đầy cám dỗ và tai tiếng của kinh đô Paris trong "kỷ nguyên tươi đẹp" (1871 - 1914). Điệu múa quyến rũ mang hồn cốt châu Á là tấm vé giúp cô bước chân vào xã hội thượng lưu thời bấy giờ.

Với nước da bánh mật, cặp môi dày, đôi mắt to và đen láy, Mata Hari xuất hiện trên sân khấu như một thiếu nữ phương Đông bí ẩn, xinh đẹp vô ngần. Nhờ quan sát và học hỏi các vũ công truyền thống người Java, cô có được toàn bộ sự lộng lẫy hiếm ai sánh được.

Những buổi diễn có tên gọi "The Eye of the Day" (Con mắt của ban ngày), dịch từ nghệ danh Mata Hari. Người Paris bàn tán xôn xao về những vũ điệu Java nóng bỏng của cô, phấn khích với hình ảnh vũ nữ người Hà Lan trong tấm voan nửa kín nửa hở để khán giả không thể rời mắt khi cô cởi bỏ tất cả trên sân khấu.

Ngay cả khi Mata Hari bắt đầu già đi và sự nghiệp vũ nữ đi xuống, cô vẫn là “gái bao” được ưa thích, luôn tháp tùng bên những người đàn ông giàu có và quyền lực. Lối sống thượng lưu dần ngấm vào máu cô, chẳng hề thay đổi ngay cả khi Thế chiến thứ nhất nổ ra vào năm 1914.

Mata Hari không một chút bận tâm với việc dân thường rất ghét đời sống xa xỉ của cô, trong bối cảnh nhiều gia đình Pháp đang phải gồng mình vật lộn với việc thiếu than sưởi ấm, quần áo và thực phẩm. Họ phải gửi những người cha, người chồng, anh trai và con trai vào cối xay thịt của chiến tranh, trong khi cô vẫn ung dung một cuộc sống tiện nghi và đủ đầy. Mata Hari tiếp tục du lịch khắp nơi ở Châu Âu và điều này làm cô rơi vào tầm ngắm của thế giới tình báo.

Năm 1914, khi Thế chiến I nổ ra, Mata Hari đến Đức lưu diễn. Vốn ưa mạo hiểm và luôn luôn cần tiền, cô nhanh chóng nhận lời làm gián điệp cho cục Tình báo Đức với mật hiệu H.21.

Nhiệm vụ của H.21 là thu thập tin tức hoạt động quân sự của Pháp thông báo cho cơ quan tình báo Đức. Tuy nhiên Elsa Shragmuyller, người phụ trách trực tiếp H.21 sau này cho biết toàn bộ tin tức mà H.21 cung cấp không bao giờ được sử dụng vì chúng không có ý nghĩa gì về mặt kinh tế, chính trị lẫn quân sự.

Tháng 8/1916, trở về Paris 2 năm sau, Mata nhanh chóng được mật vụ Pháp tiếp cận nhờ những mối tình xuyên biên giới với chính khách Đức. Nữ điệp viên sau đó được đưa tới gặp Đại úy của cục Phản gián và nhận lời hợp tác với cơ quan tình báo Pháp với nhiệm vụ là đến Bỉ, nơi đang bị quân Đức chiếm đóng, để thu thập tin tức.

Tuy nhiên trên đường đến Bỉ, Mata Hari bị cảnh sát Anh bắt nhầm. Sự nhầm lẫn này khiến thân thế điệp viên Đức của cô bại lộ. Anh ngay sau đó đã thả Mata nhưng đồng thời cũng cung cấp thông tin này cho phía Pháp. Cuối cùng, sau một chuyến đi xa trở về Paris, ngày 13/2/1917, Mata Hari bị nhà chức trách Pháp bắt giữ vì tội hoạt động gián điệp hai mang.

Sau 4 tháng thẩm vấn, toà án quân sự Pháp tuyên án tử hình Mata Hari với tội danh cung cấp bí mật quân sự của đồng minh cho quân đội Đức, trực tiếp khiến 50.000 lính Pháp thiệt mạng, đồng thời gián tiếp khiến 17 tàu chiến của liên quân bị chìm. Tuy bị xử với tội danh như vậy, người ta cũng không đưa ra được bằng chứng quá chính xác về cách cô sát hại họ như thế nào.

Sáng ngày 15/10/1917, người đẹp lẫy lừng một thời của Paris phải tiến về phía pháp trường ngoại ô, nơi nàng bị xử bắn. Một phóng viên người Anh được đặc cách có mặt, theo những miêu tả về sau của ông, Mata Hari ra pháp trường với không chút sợ hãi, nàng từ chối buộc dải khăn đen lên mắt và cũng chẳng muốn bị buộc vào cái cột phục vụ cho cuộc xử bắn. Cô đứng đó, can đảm và kiêu hãnh, khiến viên Thượng sĩ điều khiển cuộc hành quyết cũng phải thốt lên: “Chúa ơi! Quý cô đây thật biết cách để kết thúc cuộc đời mình”.
 
Sửa lần cuối:
CUỘC CHIẾN VÔ TUYẾN ĐIỆN TỬ
-CHIẾN TRANH TRÊN LÀN SÓNG ĐIỆN

Cuộc chiến giữa các máy bay, các xe tăng, những chiếc tiêm kích và những chiếc tàu ngầm. Người ta nhìn thấy tất cả những loại trang bị kỹ thuật này và đã quen thuộc với các hoạt động của nó, hoặc một cách trực tiếp hoặc qua phim ảnh và chương trình truyền hình. Tuy nhiên, việc đề cập đến tác chiến điện tử thường dấy nên bởi sự hiểu biết khá mơ hồ dạng tác chiến này, được diễn ra trong thinh không và liên quan đến vô tuyến điện và bức xạ radar. Hoạt động bí ẩn này là gì, người ta nói đi nói lại không ngừng về nó, ngay cả trong những khoảnh khắc yên tĩnh nhất của thời bình

Kể từ khi kết thúc Thế chiến II tác chiến điện tử là một trong những bí mật được giữ gìn tốt nhất từ cả hai phía "Bức Màn Sắt". Sự hiểu biết về thực chất tác chiến điện tử luôn luôn là phần dành riêng của chỉ hai nhóm người rất hẹp : các chuyên gia kỹ thuật và quân nhân. Nó đã và sẽ vẫn như vậy. Việc giữ bí mật hoạt động lĩnh vực chiến tranh điện tử tránh các con mắt tò mò và hiếu kỳ là vì lợi ích của cả hai loại người này, mặc dù với các lý do khác nhau. Đối với phi hành đoàn máy bay quân sự, kíp thủy thủ tàu chiến hoặc kíp lái xe tăng phương pháp REP tương ứng được giữ bí mật, có thể có ý nghĩa không chỉ với sự khác biệt giữa thành công và thất bại của nhiệm vụ chiến đấu của nó, mà thậm chí với sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.
 
Chiến tranh Nga - Nhật nổ ra vào tháng 2 năm 1904 như là một kết quả của sự xung đột lợi ích tại St Petersburg và Tokyo, đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà liên lạc vô tuyến hoặc điện báo không dây, như người ta gọi nó thời đó, đã được cả hai bên sử dụng để đảm bảo thông tin liên lạc với quân đội của mình.

Điện tín không dây được Guglielmo Marconi phát minh chỉ một vài năm trước, đã ngay lập tức bắt đầu được sử dụng chủ yếu bởi các hạm đội hải quân nhằm thiết lập liên lạc giữa các tàu với nhau, giữa các tàu và đất liền ở những khoảng cách lớn. Nhật Bản đã đặt các thiết bị không dây trên tất cả các tàu của họ; chúng là các bản sao chính xác phát minh của Marconi, nhưng tính năng chắc chắn thua kém thiết bị gốc, vì chỉ có thể làm việc trên một tần số, có cự ly làm việc tổng cộng chỉ là 95 km. Nga cũng có các thiết bị không dây trên các tàu chiến của mình và trên nhiều trạm mặt đất nằm gần các căn cứ hải quân của họ ở vùng Viễn Đông.

Từ đầu chiến tranh người Nga đã sử dụng vô tuyến điện không chỉ cho việc liên lạc vô tuyến thông thường, mà còn để, dù có thể hơi bất thường, phục vụ các mục đích hoàn toàn khác so với những gì mà nó được thiết kế. Việc sử dụng sóng vô tuyến có thể được coi như một giai đoạn phôi thai của chiến tranh điện tử. Vậy là Nhật Bản bắt đầu cuộc chiến tranh với một cuộc tấn công bất ngờ vào các tàu chiến Nga neo đậu tại cảng Chemulpo và Port Arthur trên bờ biển phía tây của bán đảo Triều Tiên trong vùng biển Hoàng Hải.

Tuy nhiên, trong các cuộc tấn công thường xuyên của Nhật Bản vào tàu Nga tại Port Arthur, các hiệu thính viên tại căn cứ của Nga thường nhận thấy, trước khi tấn công họ có thể nghe được trong tai nghe sự tăng cường trao đổi thông tin vô tuyến giữa các tàu Nhật Bản, và điều này là có khả năng bởi người Nhật sử dụng điện vô tuyến mà không có bất kỳ biện pháp phòng ngừa nào và không giữ bí mật việc truyền phát sóng của họ. Do các tín hiệu đó bị chặn bắt từ lâu trước khi tàu của đối phương xuất hiện, chúng đã cảnh báo người Nga về một cuộc tấn công sắp xảy ra, vì vậy họ có thể chuyển các con tàu và các khẩu đội pháo bảo vệ bờ biển của họ sang trạng thái SSCĐ trước khi người Nhật Bản bắt đầu bắn phá.

Trong một trường hợp đáng chú ý, một số tàu Nga rời cảng Vladivostok để bất ngờ tấn công căn cứ hải quân Nhật Bản tại Gyeongsang nằm trên biển Nhật Bản. Tuy nhiên, người Nhật đã phát hiện việc các chiến hạm trên xuất bến và chờ sẵn chúng. Trong khi các tàu Nga đang ngày càng tiến gần hơn Gyeongsang, họ bắt đầu chặn bắt các bản tin vô tuyến, mà số lượng cũng như cường độ của chúng tăng dần ngày càng lớn, điều đó chỉ ra sự hiện diện một số khá lớn các tàu chiến Nhật Bản đang hướng tới Gyeongsang. Vì vậy, người Nga từ bỏ kế hoạch của mình, kế hoạch chắc chắn sẽ kết thúc thất bại, vì toàn bộ hạm đội của kẻ thù đang đợi họ tại Gyeongsang.

Đây không phải trường hợp duy nhất, khi mà trong năm chiến tranh đầu tiên, người Nga sử dụng điện báo vô tuyến không chỉ để liên lạc, mà còn vì những mục đích hoàn toàn khác. Ngày 08 tháng 3 năm 1904, người Nhật mưu toan tấn công các tàu Nga đang neo trong vũng cảng trong của Port Arthur, hững chiếc tàu Nga này không thể nhìn thấy được từ phía biển. Họ phái hai tàu bọc thép "Kasuga" và "Nisshin" bắn phá các vũng cảng mà không có dẫn bắn trực tiếp, đồng thời họ sử dụng một tàu phóng ngư lôi nhỏ, dùng biện pháp thích hợp chiếm vị trí gần với bờ biển hơn, đảm nhiệm việc quan sát xem đạn pháo rơi xuống đâu và điều chỉnh xạ kích cho các tàu tuần dương đang bắn phá. Tuy nhiên, các hiệu thính viên điện báo vô tuyến tại căn cứ bờ của Nga nghe được các tín hiệu trao đổi giữa các tàu Nhật Bản và mặc dù khó mà hiểu họ cần làm gì, đã nhấn một cách bản năng phím tín hiệu máy phát tia lửa điện của mình (máy phát radio - nguồn năng lượng RF - bức xạ bằng phương pháp phóng-nạp tụ điện tạo dao động thông qua cuộn dây và spinterometer) với hy vọng bằng cách đó có thể ngăn chặn thông tin liên lạc vô tuyến giữa các tàu của đối phương. Kết quả là bằng các hành động theo bản năng của mình, không có tàu nào của Nga bị hư hại bởi cuộc pháo kích vào ngày đó của người Nhật Bản, liên lạc của người Nhật đã bị gây nhiễu, họ chấm dứt hành động của mình và bỏ đi.
Ngày 14 tháng 10 năm 1904, kèm theo những hy vọng và những lời cầu nguyện của toàn nước Nga, 59 con tàu của Hạm đội Baltic, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Rozhestvensky nhổ neo tại Liepaja ( Libava ) trong vịnh Phần Lan, bước vào chuyến hành quân đường dài đến cảng Vladivostok vùng Viễn Đông, nằm trên miền duyên hải Siberia. Họ đi qua Đại Tây Dương, vòng qua lục địa châu Phi, và sau gần hai trăm ngày đi biển đã vượt 18.000 dặm, vượt qua rất nhiều thử thách, cuối cùng giữa tháng 5 năm 1905 họ đã tiến vào Biển Hoa Đông.

Chính ở đây Rozhestvensky phải quyết định lựa chọn con đường nào đi vào biển Nhật Bản và đến được cảng Vladivostok. Có ba đường: qua eo biển Triều Tiên với đảo Tsushima ở giữa, qua eo biển Tsugaru nằm giữa các đảo Nhật Bản là Honshu và Hokkaido, và xa hơn về phía bắc, eo biển La Perouse ở giữa Sakhalin và mũi phía bắc quần đảo Nhật Bản.
Việc lựa chọn hành trình có ý nghĩa quyết định, vì số phận của hạm đội phụ thuộc vào đó. Vấn đề là làm thế nào để đến được Vladivostok và tránh một cuộc chạm trán với hạm đội Nhật Bản, khi phải tính đến sự sẵn sàng chiến đấu khá bấp bênh của hạm đội sau một chuyến đi biển dài ngày như thế. Thật vậy, vấn đề phải chọn hải trình nào đã gây ra các cuộc tranh luận nóng bỏng, bởi mỗi một trong ba tuyến đường biển trên đều có những ưu và nhược điểm của nó. Suốt nhiều ngày dài các sĩ quan và thủy thủ chỉ nói về chuyện đó. Nhiều người tin rằng họ phải đi theo một trong các eo biển phía Bắc : Tsugaru hoặc La Perouse, bởi cả hai đều ở một khoảng cách đáng kể so với các căn cứ hải quân Nhật Bản tại Triều Tiên và cả hai đều gần Vladivostok. Niềm tin này xuất phát từ thực tế là trước khi rời khỏi nước Nga, trên một trong những chiếc tàu chiến - tàu tuần dương phụ trợ "Ural", đã lắp đặt một máy phát vô tuyến công suất cực kỳ mạnh. Cỗ máy này đã được thiết kế đặc biệt ở Đức và có tầm hoạt động gần 1.100 km, đối với thời đó là độc nhất vô nhị. Các nhà hàng hải Nga nghĩ rằng với một thiết bị như vậy, họ có thể liên hệ với số tàu Nga còn lại tại Vladivostok và yêu cầu họ ra khơi vào thời điểm nhất định, bằng cách đó họ sẽ dụ hạm đội Nhật Bản sập bẫy, ép nó vào giữa lưới lửa đan chéo của hai hạm đội Nga.

Người duy nhất trên tàu không bao giờ nói chuyện với bất cứ ai, ngay cả với bộ tham mưu của mình về vấn đề lựa chọn tuyến đường biển, chính là Đô đốc Rozhestvensky, có lẽ vì ông đã đưa ra quyết định và không muốn tranh luận về vấn đề này.

Hạm đội Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đô đốc Togo gần như tập trung cả trong Vịnh Mesampo - tại mũi phía nam eo biển Triều Tiên, sẵn sàng ra khơi chặn đánh các tàu đối phương khi phát hiện ra. Trong trường hợp này, Đô đốc Nhật Bản tổ chức hệ thống giám sát dựa trên các tàu tuần tra liên tục được bố trí rất đúng cách. Chiếc thiết giáp hạm cũ dùng làm điểm liên lạc giữa các tàu tuần tra trên biển và hạm đội tàu hải quân trong cảng, nằm ở phía nam đảo Tsushima. Thành công của kế hoạch Togo dựa trên tiền đề rằng ông ta có ưu thế tối đa về phát hiện sớm một cách nhanh chóng qua sóng vô tuyến và phát hiện trực quan. Nói ngắn gọn, toàn bộ kế hoạch đặt cơ sở trên tính hiệu quả và tốc độ hệ thống liên lạc vô tuyến của ông, mà thiếu nó kẻ thù có thể vuột mất.

Mặt khác, đô đốc Nga, sau khi cân nhắc tất cả các "thuận lợi" và "khó khăn" của việc sử dụng radio trong quá trình một chuyến đi biển dài, quyết định bỏ qua những phương tiện thông tin liên lạc quý giá ấy. Ông lý luận rằng mục tiêu chính của ông là đến được Vladivostok mà vẫn không bị phát hiện và không bị tấn công bởi người Nhật, và bởi vì người Nhật Bản có thể đánh chặn các bản tin vô tuyến làm phát lộ vị trí của hạm đội Nga, ông ra lệnh tuân thủ sự im lặng hoàn toàn về vô tuyến điện.

Ngày 25 Tháng 5 năm 1905, hạm đội Nga, đội hình hai hàng dọc dài, đi với tốc độ 9 hải lý, hướng tới eo biển Triều Tiên. Biển đang có bão, tầm nhìn rất kém. Vào buổi sáng, các tàu Nga bắt đầu chặn bắt được các tín hiệu radio yếu. Di chuyển xa hơn về phía bắc, cường độ tín hiệu bắt đầu tăng, rõ ràng những bản tin này là các bức điện vô tuyến phát đi bởi các tàu tuần tra Nhật Bản khác nhau truyền về kỳ hạm chỉ huy hạm đội của họ.

Rozhdestvensky dường như hoàn toàn bỏ qua sự hiện diện của kẻ thù và thậm chí không bận tâm việc phái các thuyền phóng ngư lôi đi trinh sát mà vẫn tiến hết tốc lực theo hướng lựa chọn.
Đêm 27 tháng 5, sương mù dày đặc bao phủ mặt biển, trên trời chỉ nhìn thấy một phần tư mặt trăng, tầm nhìn là một dặm. Cho đến khoảng 02:45 người ta không thể nhìn thấy bất cứ điều gì, nhưng sau đó, chiếc tàu tuần dương "Shinano Maru", đang tuần tra trong khoảng 40 km cách quần đảo Goto, đột nhiên nhìn thấy qua sương mù một chiếc tàu đang đi tốc độ cao với các đèn hàng hải được bật sáng. Tàu tuần dương Nhật Bản, khi không thể xác định được loại tàu, quốc tịch của tàu và nó đang đi một mình hay đang đi trong một đội hình đông đảo, vẫn bám theo tàu lạ mà không gửi đi bất kỳ điện báo vô tuyến nào về sự phát hiện của mình.

Sau đó, vào khoảng 4:30, "Shinano Maru", khi đến gần hơn, phát hiện ra con tàu đó là một tàu quân y của Nga. Tại thời điểm này, con tàu kia cũng ghi nhận được sự hiện diện của tàu tuần dương Nhật Bản và lầm tưởng đó là tàu quân mình, nó bèn đánh tín hiệu đèn báo. Lỗi lầm mà tàu Nga phạm phải, dẫn viên chỉ huy "Shinano Maru" đến kết luận rằng con tàu này là một phần của chuỗi tàu đang đi theo đội hình hàng dọc và tàu Nhật bắt đầu tiếp cận để làm sáng tỏ điều trên.

Khoảng 4:45 sương mù tản bớt, "Shinano Maru" đã có thể nhìn thấy một hàng dài các thiết giáp hạm và tuần dương hạm Nga ở cự ly xuýt soát nửa dặm so với chiếc tàu quân y viện.

"Shinano Маru" bắt đầu truyền điện báo tin trên về chiếc kỳ hạm của đô đốc Тоgо nhưng khi tính đến khoảng cách giữa 2 con tàu, và các điều kiện không khí trong khu vực này, thiết bị vô tuyến điện tử nguyên thủy trên tàu hóa ra không có khả năng truyền thông báo quý giá đó. Trong lúc này, con tàu của Rozhestvensky cũng đã nhìn thấy chiếc tàu Nhật hiện đang đi song song với hạm đội Nga, đang từ từ biến vào trong sương mù buổi sáng. Dù cho người Nga không thể nhận dạng loại tàu này, hành động của nó chứng tỏ rất rõ đây là một con tàu tuần tiễu quân sự của kẻ thù. Mọi người chờ đợi Rozhestvensky sẽ phái những chiếc tuần dương hạm tốc độ nhanh nhất của mình đi để tiêu diệt con tàu của đối thủ phi lý của họ. Đó là một khoảnh khắc cực kỳ gay cấn đối với số phận hạm đội Nga và kết quả của toàn bộ cuộc chiến tranh này có thể phụ thuộc vào quyết định của ông. Rоzhestvensky ra lệnh cho hạm đội chĩa tất cả các cỗ pháo vào tàu "Shinano Маru", nhưng không phát lệnh khai hỏa.

Lúc đó nhiều chiến hạm Nga đã chặn bắt được điện tín báo động của tàu "Shinano Маru", trong đó có lời gọi chiếc soái hạm của người Nhật. Trên tàu "Ural" vốn được trang bị máy phát điện báo công suất lớn hoạt động tầm xa, viên thuyền trưởng, hoảng hốt vì không thấy nhận được bất kỳ mệnh lệnh hành động nào chống lại chiếc tàu tuần tra Nhật, con tàu mà trong thời điểm ấy, dường như muốn phát lệnh gọi tới toàn bộ hạm đội, ông ta quay cuồng bên hiệu thính viên radio của mình lo lắng tìm cách gây nhiễu cho máy phát điện báo vô tuyến của "Shinano Маru". Cả hai thống nhất ý kiến rằng, nếu họ phát tín hiệu không ngừng nghỉ trên cùng tần số mà máy phát sóng tàu Nhật đang làm việc, điều đó sẽ ngăn cản được các bức điện vô tuyến phát đi của con tàu trên, thế cũng đủ để tránh được việc truyền đi thông báo tai hại về việc phát hiện hạm đội Nga. Thuyền trưởng tuân theo quy định, báo cáo dự định về kỳ hạm và đề nghị cho phép sử dụng máy phát sóng gây nhiễu kẻ thù. Sau vài phút im lặng, Đô đốc trả lời ngắn gọn: "Không chặn điện báo của người Nhật".

Rozhestvensky từ chối lời khuyên mà trong các trường hợp thế này có thể là có tính quyết định. Lý do cơ bản trong sự từ chối của ông là không thể hiểu nổi; có lẽ ông muốn chứng tỏ trước hạm đội sự tự tin của mình khi đối mặt với kẻ thù, hoặc ông không có khả năng hiểu được tính hữu dụng của chế áp điện tử như một phương tiện để cản trở liên lạc vô tuyến của đối thủ.

Trong khi đó, "Shinano Maru" không rời mắt khỏi kẻ thù, đang di chuyển cách ra để xác lập thành phần chính xác của hạm đội Nga và giám sát tốt hơn chuyển động của nó. Cuối cùng, liên lạc vô tuyến được thiết lập và thông điệp " Đã phát hiện địch !" cũng được gửi đi. Tàu Nhật liên tục truyền tải thông tin về hướng, vị trí, tốc độ v.v. của hạm đội kẻ thù, những thông số đó chỉ ra rằng, rõ ràng người Nga đang hướng đến eo biển Triều Tiên.

Ngay trước bình minh, một màn sương mù dày đặc buông xuống mặt biển, tạo cho người Nga cơ hội tuyệt vời thoát khỏi con tàu Nhật Bản và tiến đến eo biển phía bắc Tsugaru hoặc La Perouse. Các sĩ quan bộ tham mưu của Rozhestvensky yêu cầu ông xem xét lại tình hình khi mà đã thấy rõ giữa hạm đội Nhật Bản và con tàu "Shinano Maru" đã thiết lập được liên lạc vô tuyến, mối liên lạc mà đến lúc đó các tàu tuần tra khác cũng đã tham gia. Tuy nhiên, mọi nỗ lực thuyết phục Đô đốc là vô dụng. Tại thời điểm này, các sĩ quan cao cấp của phân hạm đội, tức giận vì thái độ khăng khăng không chịu của ông, đã ra lệnh cho các điện đài viên của mình dùng bất kỳ cách nào có thể để gây nhiễu việc truyền sóng điện báo vô tuyến giữa các tàu của kẻ thù, nhưng đã quá muộn mất rồi.

Khi sương mù buổi sáng tan đi, tất cả mọi thứ vẫn như cũ. Hạm đội của Rozhestvensky, cùng với con tàu tuần tra của địch, vẫn tiếp tục di chuyển theo lối cũ, sau khi quên tất cả mọi thứ, như thể kéo theo số phận không thể tránh khỏi của mình, họ trực chỉ eo biển Triều Tiên.

Hạm đội Nhật Bản đã ở trên biển. Đô đốc Togo hồi hộp chờ đợi tin tức về hạm đội Nga, ông ta thở phào nhẹ nhõm khi nhận được tin điện vô tuyến từ "Shinano Maru" và ngay lập tức ra lệnh cho hạm đội của mình nhổ neo tiến thẳng về phía kẻ thù.
 
Vào khoảng 13:30, khi hạm đội Nga dẫn đầu bởi thiết giáp hạm "Suvorov" với đích thân Rozhestvensky trên tàu, đang đi hết tốc lực về eo biển Triều Tiên, tiến tới phía đông đảo Tsushima, đột nhiên hạm đội Nhật Bản xuất hiện trên đường chân trời.

Rozhestvensky ngay lập tức ra lệnh nổ súng. Hai phút sau, ngay sau khi chiếc tàu của ông đang ở trong tư thế bắn, Đô đốc Togo đáp trả bằng các họng pháo của mình. Một dòng thác đạn pháo bủa vây chiếc kỳ hạm Nga. Trên cầu điều hướng chỉ huy hành trình, nơi tập trung toàn bộ ban tham mưu Nga, một số đạn trái phá đã bắn trúng vào đó. Rozhestvensky bị thương nặng bất tỉnh, toàn bộ ban tham mưu của ông hoặc bị thương hoặc chết.

Kết quả của trận chiến mọi người đều đã biết : Đô đốc Togo, bằng những màn cơ động nhanh và xuất sắc, ép các tàu Nga vào giữa các làn đạn trái phá chéo cánh sẻ của ông ta, tàn nhẫn tiêu diệt từng chiếc một. Chỉ có ba tàu chạy được về Vladivostok, phần còn lại của hạm đội đã phải treo cờ trắng đầu hàng. Trên một trong những con tàu bị thương, Đô đốc Rozhestvensky, đang bất tỉnh, bị bắt làm tù binh. Sự tự tin và tự mãn, vốn gây được ấn tượng tốt đẹp cho hai vị Hoàng đế trong cuộc tập trận trên vùng biển Baltic, chính nó đã gây mối hại chết người cho Zinovy Petrovich Rozhestvensky, khi ông mặt đối mặt với kẻ thù trong tình huống chiến đấu. Người ta không biết, một chiến thuật tiến hành hải chiến khác có cho kết quả tốt hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn được giao phó cho Đô đốc Rozhestvensky hay không. Ngay cả khi việc truyền sóng vô tuyến của tàu "Shinano Maru" hướng tới Đô đốc Togo bị chế áp, do đó tước đoạt thông tin của nó về hạm đội Nga, ưu thế của hạm đội Nhật Bản, rõ ràng vẫn sẽ mang lại chiến thắng trong bất kỳ trường hợp nào. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nếu có một cách để Rozhestvensky tiết kiệm sinh mạng của hàng ngàn thủy thủ Nga, thì đó là việc sử dụng trực tiếp biện pháp đối kháng điện tử một cách thô sơ. Để gây nhiễu có thể sử dụng máy phát vô tuyến rất mạnh trên tàu "Ural", như viên thuyền trưởng con tàu đó khẩn khoản van nài, nếu việc đó không cắt đứt được, ít nhất nó cũng sẽ làm chậm việc truyền điện báo vô tuyến đến Đô đốc Togo về việc phát hiện ra hạm đội Nga.
 
Người Áo là những người đầu tiên hiểu rằng đánh chặn điện báo vô tuyến của đối phương, là một phương cách tuyệt vời để thu thập thông tin tình báo chính trị và quân sự, việc thu tin tình báo trước đây chỉ đạt được bằng hoạt động gián điệp rất tốn kém và nguy hiểm. Thật vậy, năm 1908, khi phát sinh cuộc khủng hoảng chính trị tại Italy, gây ra bởi sự sáp nhập vào Đế quốc Áo-Hung các vùng lãnh thổ Bosnia và Herzegovina, người Áo đã đánh chặn và giải mã điện tín vô tuyến của người Ý, và nhanh chóng sử dụng các thông tin tình báo thu được nhờ phương tiện điện tử để hình thành chính sách đối ngoại của mình.

Năm 1911, trong thời gian cuộc chiến tranh Italia - Thổ Nhĩ Kỳ, người Áo một lần nữa lại chứng tỏ khả năng của các cơ quan tình báo của mình. Vẫn luôn quan tâm đến các vấn đề chính trị và quân sự của người Ý, người Áo chặn bắt tất cả các điện tín phát đi giữa Rome và Tripoli về việc người Ý đổ bộ ở đâu, chúng đảm bảo thông tin cho họ về sự di chuyển hàng ngày của quân đội Ý trong quá trình chiến đấu.

Chắc chắn, lần đầu tiên trong lịch sử, việc sử dụng phương tiện kỹ thuật (radio) thay vì điệp viên truyền thống và các chuyến trinh sát tuần tiễu trên lưng ngựa, cho phép theo dõi chặt chẽ tiến trình trận chiến đang diễn ra cách hàng trăm kilômét.

Một đất nước khác, tương tự như Áo, luôn luôn trau dồi nghệ thuật hoạt động gián điệp trong chiến tranh là Pháp. Trong những năm trước Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, tình báo Pháp đã nắm vững nghệ thuật chặn bắt và ghi lại các điện tín vô tuyến mà các đại sứ quán nước ngoài tại Paris truyền về cho chính phủ họ và tất cả các thông điệp ngoại giao đến từ nước ngoài.

Một ví dụ nổi bật về sự do thám điện tử của người Pháp là việc chặn bắt một bức điện dài của Bộ Ngoại giao Đức gửi đến Đại sứ Đức tại Paris, trong đó có chứa một thông điệp tuyên bố chiến tranh, dự kiến được chuyển cho Chính phủ Pháp. Người Pháp sau khi phá được khóa mã, vì đó là bức điện mã hóa, không chỉ chặn điện được gửi đến, mà còn bóp méo nội dung của nó đến mức viên Đại sứ Đức thoạt đầu không hiểu điện nói gì, còn người Pháp trong khi đó có được thời gian quý báu để chuẩn bị công tác động viên quân đội.
Trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, việc chặn bắt các bức điện ngoại giao đạt đến quy mô không thể tin nổi. Cơ quan tình báo Anh đã giải được khóa mã tuyệt mật của người Đức, và trong vòng ba năm họ đã có được cơ hội đánh chặn và giải mã các điện tín mà Bộ Ngoại giao Đức gửi đến các đại sứ quán nước ngoài của họ. Người Anh giữ bí mật rất thành công, họ chỉ khẽ bóng gió về điều đó với đồng minh Mỹ của mình, trong khi người Đức, không mảy may nghi ngờ sự rò rỉ thông tin từ cơ quan tình báo của mình, vẫn cố gắng thúc đẩy Mexico tham gia chiến tranh bằng lời hứa giúp nước này sát nhập các bang Texas, Arizona và New Mexico của Hoa Kỳ vào lãnh thổ của họ.

Tuy nhiên từ quan điểm điện tử mà xét, Chiến tranh Thế giới thứ Nhất được nhớ chủ yếu là do một số sự kiện quan trọng có thể được coi như sự khởi đầu thực sự của Electronic Warfare.
 

Có thể bạn quan tâm

Top