Canada tranh chấp mỏ vàng với thổ dân

newboi

Đàn iem Duy Mạnh
Andrew Rankin - ngày 11 tháng 2 năm 2026
các nhà phát triển cho biết rằng đang gặp nhiều khó khăn trong thực tế do các quy định không rõ ràng về thăm dò ý kiến cộng đồng thổ dân, cấp phép và khó khăn về cơ sở hạ tầng (ảnh dưới: nhân viên Seabridge Gold đứng cùng các cơ quan quản lý tại mỏ Mitchell thuộc dự án KSM ở tây bắc British Columbia vào năm 2013. Sau 2 thập kỷ tham vấn, dự án vẫn gặp phải một trở ngại khác.)
Seabridge Gold officials stand with regulators on the Mitchell Deposit at the KSM Project in northwestern British Columbia in 2013.


sau 2 thập kỷ thăm dò ý kiến cộng đồng thổ dân và hàng trăm triệu đô la Mỹ đầu tư, Seabridge Gold Inc. tin rằng dự án KSM ở tây bắc British Columbia — một trong những mỏ vàng-đồng chưa được khai thác lớn nhất thế giới — cuối cùng đã vượt qua một rào cản quan trọng vào mùa hè năm 2024.

tỉnh British Columbia tái khẳng định sự chấp thuận về môi trường của dự án, xác nhận rằng doanh nghiệp đã đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết để tiến hành. Cột mốc này phản ánh nhiều năm lập kế hoạch, tham vấn và đầu tư để đưa dự án trị giá hơn 6 tỷ đô la Mỹ tiến gần hơn đến giai đoạn sản xuất.
Sprott backs Seabridge with US$150M KSM smelter royalty - Canadian Mining  Journal

hiện Seabridge chờ phán quyết của tòa án về một vụ kiện do một bộ lạc thổ dân 50 thành viên đệ trình. Phán quyết này có thể đẩy một trong những dự án khai thác mỏ lớn nhất Canada vào tình trạng bế tắc pháp lý, ngay cả khi công ty vẫn tiếp tục chi hàng trăm triệu đô la Mỹ duy trì đà phát triển.

Tranh chấp này làm nổi bật một thách thức rộng lớn hơn đối với nỗ lực xây dựng quốc gia của Canada và ngành tài nguyên của nước này: Tham vấn người bản địa là một yêu cầu hiến pháp và được ủng hộ rộng rãi về nguyên tắc, nhưng các công ty, chính phủ và cộng đồng thường phải đối mặt với các quy định không rõ ràng về phạm vi địa lý và pháp lý của các yêu sách đất đai cạnh tranh, thời gian biểu và những gì cấu thành việc hoàn thành.

Trọng tâm của các tranh chấp như KSM là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng về việc Canada có thể cân bằng nghĩa vụ của chính phủ đối với người bản địa với một hệ thống quy định có thể đưa ra các quyết định kịp thời, có thể dự đoán được về các dự án lớn như thế nào.
Seabridge Gold weighs automation and trolley assist haulage for KSM project  - International Mining

Tuyên bố Liên Hợp Quốc về Quyền của Người bản địa
năm 2021 chính phủ Justin Trudeau thông qua Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người bản địa (UNDRIP) trong đó nhấn mạnh “sự đồng ý tự nguyện, trước đó và được thông báo đầy đủ”. Nhưng khung pháp lý được ban hành sau đó vẫn chưa giải thích được nguyên tắc này nên được áp dụng như thế nào trong thực tế. Không có các quy tắc rõ ràng, các tòa án phải tự quyết định từng trường hợp riêng lẻ, khiến các công ty, nhà đầu tư và cộng đồng phải trải qua một quá trình không có điểm kết thúc rõ ràng.
"84% giám đốc doanh nghiệp Canada lo ngại rằng các dự án cơ sở hạ tầng lớn sẽ bị trì hoãn do các thách thức pháp lý phát sinh từ việc tham vấn không đầy đủ với cộng đồng người bản địa." - KPMG khảo sát
giáo sư danh dự Tom Flanagan chuyên ngành khoa học chính trị Đại học Calgary và là nghiên cứu viên tại Viện Fraser, cho biết thông điệp của chính phủ liên bang càng làm gia tăng sự không chắc chắn.
Tom Flanagan Responds

“Thủ tướng thường nói về việc biến Canada thành một cường quốc tài nguyên, đồng thời cũng khẳng định sẽ không có gì tiến triển nếu không có sự đồng thuận của người bản địa,” Tom Flanagan nói. “Có một mâu thuẫn ngầm ở đó và cho đến nay chưa ai giải thích được làm thế nào để dung hòa 2 mục tiêu này.”

mùa thu năm 2025 theo một cuộc khảo sát của KPMG Canada với 501 lãnh đạo doanh nghiệp, 84% các giám đốc doanh nghiệp Canada lo ngại rằng các dự án cơ sở hạ tầng lớn sẽ phải đối mặt với sự chậm trễ và trở ngại đáng kể do các thách thức pháp lý bắt nguồn từ việc tham vấn người bản địa không đầy đủ.

Những lo ngại này đang lên đến đỉnh điểm với Văn phòng Dự án Lớn của chính phủ liên bang, được thành lập theo Đạo luật Xây dựng Canada năm 2025 để đẩy nhanh các dự án xây dựng quốc gia.

Văn phòng này đặt mục tiêu rút ngắn thời gian phê duyệt dự án xuống chỉ còn 2 năm, nhưng các nhà tù trưởng bản địa đã chỉ trích đó là “màn kịch chính trị” ưu tiên lịch trình của doanh nghiệp hơn các quyền hiến pháp. Thay vì mang lại sự chắc chắn, một số người cho rằng việc thúc đẩy tốc độ có thể làm tăng nguy cơ chậm trễ và kiện tụng hơn nữa.

“Mọi người đều đồng ý rằng tham vấn là cần thiết,” Giám đốc Rudi Fronk (ảnh dưới) điều hành Seabridge cho biết. “Vấn đề là không ai có thể cho bạn biết khi nào thì quá trình hoàn tất. Không có mốc thời gian, không có kết luận cuối cùng và nếu không có điều đó, các dự án có thể bị đình trệ vô thời hạn.”
Video: Seabridge Gold's Rudi Fronk on driving value at the KSM gold project  in B.C. - The Northern Miner

Rudi Fronk cho biết vấn đề không phải là bản thân quá trình tham vấn — mà ông mô tả là đang diễn ra liên tục — mà là sự thiếu phối hợp giữa chính phủ liên bang, tỉnh và chính quyền bản địa một khi dự án vượt qua giai đoạn đánh giá môi trường và bước vào giai đoạn cấp phép và xây dựng.

“Mỗi quy trình của liên bang và tỉnh đều được định nghĩa rất cụ thể,” Rudi Fronk nói. “Nhìn chung, chính phủ liên bang chỉ cấp phép cho những khu vực yêu cầu sự cho phép từ một đạo luật liên bang, chẳng hạn như luật môi trường hoặc luật thủy sản, trong khi các quy trình của tỉnh tập trung cụ thể hơn vào việc cấp cái gọi là giấy phép hoạt động, vì giấy phép khai thác mỏ được cấp theo thẩm quyền của tỉnh.”

Seabridge-KSM-site.png

dự án KSM (ảnh trên: ảnh chụp từ trên không của mỏ Mitchell năm 2020, một trong 4 mỏ thuộc khu vực KSM của Seabridge Gold ở vùng tây bắc xa xôi của British Columbia, nơi công ty dự định xây dựng một mỏ vàng và đồng trị giá 6,7 triệu đô la) nằm trong Tam giác Vàng của British Columbia, cách 65 km về phía tây bắc của thị trấn Stewart, trên vùng đất thuộc quyền sở hữu của nhiều bộ lạc thổ dân. Dự án nằm trong khu vực Hiệp ước Nisga’a và được công nhận là lãnh thổ Tahltan, nhưng Quốc gia Tsetsaut Skii km Lax Ha khẳng định quyền sở hữu đối với toàn bộ phạm vi dự án.

Bộ lạc Gitxsan chính thức ủng hộ dự án, nhưng họ và bộ lạc Gitanyow đang tập trung vào việc giám sát hạ lưu để bảo vệ lưu vực sông Nass và Skeena khỏi nguy cơ tích tụ chất thải khai thác mỏ.

Seabridge đã chi 1 tỷ đô la để xin phê duyệt và tham vấn. Công ty đã ký kết các thỏa thuận lợi ích với các bộ lạc Nisga’a và Tahltan, phân bổ 400 triệu đô la Mỹ cho các hợp đồng với các doanh nghiệp liên kết với người bản địa trong 4 năm qua. Công ty cũng tài trợ cho bộ lạc Gitanyow giám sát độc lập về động vật hoang dã, cá và chất lượng nước.

Những cuộc tham vấn này đã dẫn đến hơn 100 thay đổi thiết kế và làm tăng thêm 330 triệu đô la Mỹ vào ước tính vốn đầu tư của dự án trước khi tỉnh British Columbia cấp Giấy chứng nhận Đánh giá Môi trường (EAC) vào năm 2014 - “giấy phép chính” của tỉnh xác nhận rằng dự án đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và kinh tế.

dự kiến, giấy phép EAC hết hạn vào tháng 7 năm 2026, Seabridge đã nộp đơn xin chính thức công nhận dự án là “đã khởi công đáng kể” để đảm bảo giấy phép sẽ vẫn có hiệu lực trong suốt thời gian thực hiện dự án.
Spotlight: Projects to watch in 2026 - The Northern Miner

tháng 7 năm 2024 chính phủ Canada cấp trạng thái này, nhưng việc xây dựng không được tiến hành ngay lập tức vì Seabridge tìm kiếm một đối tác liên doanh lớn để tài trợ cho dự án xây dựng trị giá hàng tỷ đô la, một quá trình sau đó bị chậm lại do đại dịch covid.

dự án đã tiến triển vượt xa giai đoạn thăm dò, với các cơ sở hạ tầng điện, địa điểm, nước và môi trường chính đang được xây dựng hoặc đã hoàn thành, bao gồm các kết nối truyền tải, đường sá, khoan và đường hầm chuyển hướng nước.
 
Sửa lần cuối:
bộ lạc Tsetsaut Skii km Lax Ha (TSKLH) đã phản đối quyết định của tỉnh British Columbia, cho rằng họ không được tham vấn một cách có ý nghĩa trước khi Ủy ban Đánh giá Môi trường (EAC) được bật đèn xanh. Họ đã khởi kiện xem xét lại quyết định của tòa án, và phán quyết của tòa án dự kiến sẽ được đưa ra vào quý đầu tiên của năm nay.

Nhóm bảo vệ môi trường SkeenaWild Conservation Trust tham gia vào nỗ lực pháp lý, cho rằng sự chậm trễ kéo dài của dự án đã khiến dữ liệu môi trường ban đầu và các tiêu chuẩn an toàn về chất thải trở nên lỗi thời. Nếu thành công, phán quyết có thể hủy bỏ một thập kỷ phê duyệt và có khả năng khởi động lại quy trình đánh giá môi trường.
Youth T-Shirt

Theo một thỏa thuận tài chính trị giá 375 triệu đô la Mỹ với Sprott Inc.Quỹ Hưu trí Giáo viên Ontario, các nhà đầu tư có thể yêu cầu hoàn trả đầy đủ nếu giấy phép hết hạn, một kịch bản có thể gây áp lực tài chính nghiêm trọng lên Seabridge.

Quá trình đang diễn ra cho thấy rằng ngay cả một cộng đồng duy nhất, hoạt động trong khuôn khổ pháp lý của việc tham vấn, cũng có khả năng làm đình trệ một dự án quy mô khổng lồ, tạo ra sự không chắc chắn cho chính phủ, nhà đầu tư và các nhà phát triển.

Seabridge tuân theo chỉ đạo của tỉnh British Columbia về việc tham vấn cộng đồng. Seabridge mời bộ lạc TSKLH tham gia, chia sẻ thông tin dự án và đưa họ vào các cuộc thảo luận liên quan đến đánh giá tác động môi trường và quyết định “đã khởi công đáng kể”. Những tuyên bố này xuất hiện trong các báo cáo của công ty và hồ sơ gửi lên tỉnh.

Bộ lạc TSKLH cho rằng “sự tham gia” vào một quy trình không giống như tham vấn có ý nghĩa, cho rằng tỉnh và Seabridge chỉ coi họ như một nhóm nhỏ không đáng kể cần được “đánh dấu” vào danh sách.

Fronk cho biết ngay cả khi các công ty làm mọi thứ có thể để tham vấn, tiến độ vẫn có thể bị đình trệ nếu cộng đồng chọn không tham gia.

“Bạn không thể ép buộc mọi người đến các cuộc họp và ngồi vào bàn,” Rudi Fronk (ảnh dưới) nói.
Video: Seabridge CEO on KSM progress, partner search - The Northern Miner

Các điểm nghẽn không chỉ liên quan đến các bộ lạc bản địa. Fronk cho biết khi Seabridge chuyển từ phê duyệt môi trường sang giấy phép xây dựng và vận hành, các yêu cầu tham vấn liên quan đến các cấp chính phủ khác nhau và thậm chí cả các bộ phận trong các chính phủ đó thường chồng chéo lên nhau.

Kết quả là việc xin giấy phép từ các cơ quan chức năng để xây dựng và vận hành các khía cạnh khác nhau của dự án bị trì hoãn thêm.

“Đối với dự án KSM, chúng tôi sẽ cần khoảng 130 giấy phép để đưa dự án vào hoạt động,” Rudi Fronk nói. “Trong đó, 12 giấy phép sẽ do chính phủ liên bang cấp.”

Seabridge hiện nắm giữ 80 giấy phép, bao gồm 10 giấy phép liên bang, nhưng các phê duyệt còn lại được phân bổ cho nhiều cơ quan khác nhau.
Ring of Fire Metals, Webequie First Nation ink MOU on Eagle's Nest nickel  project - The Northern Miner

Cách đó hàng ngàn km về phía đông, các công ty tham gia vào Vành đai lửa của Ontario — một khu vực giàu khoáng sản với các mỏ niken, đồng, cromit— đang gặp phải những chậm trễ tương tự do các thách thức đang diễn ra về tham vấn cộng đồng bản địa, cấp phép và cơ sở hạ tầng.

Quá trình phát triển đã bị chậm lại trong hơn một thập kỷ và các dự án như mỏ niken Eagle’s Nest của Wyloo Pty Ltd. vẫn đang trong quá trình tham vấn và xem xét quy định, đẩy mục tiêu sản xuất thương mại lên năm 2030.

Giám đốc Luca Giacovazzi (ảnh dưới) điều hành Wyloo cho biết việc tham vấn với các cộng đồng bộ lạc thổ dân bản địa ở khu vực Vành đai Lửa đã dẫn đến những thay đổi trong thiết kế tương tự như tại KSM nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường: diện tích mỏ Eagle’s Nest đã được thu hẹp xuống còn 1 km vuông để hạn chế ảnh hưởng đến vùng đất than bùn, chất thải sẽ được lưu trữ dưới lòng đất thay vì trên bề mặt và hoạt động được thiết kế gần như hoàn toàn bằng điện để giảm thiểu việc sử dụng dầu diesel. Tất cả những thay đổi này đều được định hình trực tiếp bởi phản hồi từ cộng đồng.
Wyloo CEO Luca Giacovazzi talks about the potential of the Ring of Fire

Luca Giacovazzi nói rằng tham vấn không phải là một quá trình tuyến tính hoặc có thể đo lường được.

“Nó không phải là một việc được xác định rõ ràng, kiểu như ‘Chúng ta đã hoàn thành 80%’,” Luca Giacovazzi nói. “Đối với chúng tôi, tham vấn chỉ đơn giản là sự tham gia liên tục; liên tục làm việc với cộng đồng, thực sự lắng nghe những gì họ nói, điều chỉnh thiết kế của chúng tôi.”

Sự chậm trễ và không chắc chắn phản ánh một mô hình rộng hơn trong toàn ngành, bắt nguồn từ những hạn chế về năng lực trong một số cộng đồng hơn là sự phản đối phát triển.

“Các cộng đồng muốn tham gia,” Fronk (ảnh dưới) nói, “nhưng một số thiếu nhân viên, cố vấn hoặc nguồn lực để tham gia với tốc độ mà các cơ quan quản lý mong đợi.”
Why the World’s Biggest Gold Deposits Are Stuck | Rudi Fronk - Seabridge

cả Fronk lẫn Giacovazzi đều cho rằng chính phủ có thể phân bổ thêm kinh phí để đảm bảo các cộng đồng có đủ năng lực để hoàn thành các đánh giá môi trường và các yêu cầu tham vấn khác một cách kịp thời.

từ lâu, Điều 35 của Hiến Pháp đã hướng dẫn việc tham vấn với người bản địa, mặc dù việc áp dụng nó thường rất không rõ ràng. Theo thời gian, các tòa án đã đưa ra một số hướng dẫn và bác bỏ các quyết định sai sót, từ đó làm rõ những gì được coi là tham vấn đầy đủ, Flanagan cho biết.

theo truyền thống, Tom Flanagan (ảnh dưới) nói, việc tham vấn không trao cho bất kỳ bộ lạc thổ dân nào quyền phủ quyết; các công ty có thể đáp ứng các yêu cầu hợp lý thông qua các thỏa thuận, việc làm, phúc lợi hoặc bồi thường, và các dự án nói chung sẽ được tiến hành.
Flanagan fallout

việc thông qua Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền của Người bản địa (UNDRIP) đã tạo ra một lớp phức tạp mới. Các phán quyết ban đầu của tòa án, Flanagan nói, cho thấy nguyên tắc “sự đồng ý tự nguyện, trước đó và được thông báo” của UNDRIP có thể được hiểu là trao cho các cộng đồng riêng lẻ quyền phủ quyết đối với các dự án.

Tom Flanagan chỉ ra một phán quyết của Tòa án Liên bang năm 2025 ở Ontario — bộ lạc Kebaowek kiện Canadian Nuclear Laboratories Ltd. (CNL) — trong đó nói rằng UNDRIP tạo ra một “lớp bổ sung mới” các yêu cầu đối với các cơ quan quản lý.

Trong khi phán quyết đó đang được kháng cáo, tòa án ban đầu đã bác bỏ sửa đổi giấy phép do Ủy ban An toàn Hạt nhân Canada ban hành, cho phép CNL xây dựng một cơ sở xử lý chất thải hạt nhân tại Chalk River trên lãnh thổ truyền thống chưa được nhượng lại của bộ lạc Kebaowek bản địa. Thẩm phán làm rõ rằng “góc nhìn” này không cấu thành quyền phủ quyết tuyệt đối, nhưng Flanagan nói rằng nó tạo ra một trở ngại tương tự trong thực tế.

“Ngay cả những dự án tuyến tính, như đường sá hoặc đường ống dẫn dầu đi qua nhiều vùng lãnh thổ, cũng có thể bị chặn bởi một cộng đồng duy nhất theo tiền lệ này,” Tom Flanagan nói.

Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp cho rằng sự không chắc chắn do đó có thể làm nản lòng các nhà đầu tư, trì hoãn cơ sở hạ tầng và kéo dài sự không chắc chắn cho chính các cộng đồng người bản địa.
 
Sửa lần cuối:
Những trở ngại ở Vành đai lửa
việc xây dựng mỏ Eagle’s Nest vẫn bị đình trệ cho đến ít nhất năm 2027 do dự án phải đối mặt với các yêu cầu quy định của liên bang và những rào cản về cơ sở hạ tầng. Mỏ nằm trên vùng đất truyền thống của bộ lạc Marten Falls bản địa, nhưng mạng lưới đường sá cần thiết lại cắt ngang qua lãnh thổ của nhiều bộ lạc bản địa, một số trong đó chưa đồng ý.

Ontario đã ký các thỏa thuận với tổng trị giá hơn 149 triệu đô la với các bộ lạc bản địa, bao gồm Thỏa thuận Đối tác Cộng đồng trị giá 39,5 triệu đô la với Webequie và Marten Falls. Các thỏa thuận này nhằm mục đích đẩy nhanh việc xây dựng các con đường quanh năm đến Vành đai lửa. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của liên bang cho đường sá, năng lượng và các cơ sở hạ tầng khác vẫn còn hạn chế, khiến các công ty phần lớn phụ thuộc vào hành động của tỉnh.

Giacovazzi cho biết, vấn đề chính gây tắc nghẽn tại mỏ Eagle’s Nest là đường sá chứ không phải chính mỏ, đồng thời nói thêm rằng rất khó để lập kế hoạch tiến độ xây dựng nếu không có sự chắc chắn về cơ sở hạ tầng. Luca Giacovazzi cho biết các đánh giá tác động môi trường đối với các con đường quanh khu vực Vành đai Lửa là một trong những đánh giá toàn diện nhất từng được thực hiện ở Canada, và đà tiến triển đã được đẩy nhanh khi Ontario can thiệp để giải quyết các nhu cầu lâu dài của cộng đồng.
GMS: Wyloo hopes to integrate Ontario-based Ring of Fire nickel supply  chain - The Northern Miner

“Ngành công nghiệp không thể thay thế vai trò của chính phủ,” Luca Giacovazzi nói. “Chúng tôi không thể là những người xây dựng trường học, bệnh viện hay hệ thống cấp nước. Cộng đồng cần cơ sở hạ tầng trước tiên nếu các dự án khai thác mỏ muốn tạo ra những cơ hội thực sự.”

Giacovazzi cho biết, mối quan tâm của cộng đồng thường tập trung vào việc bảo vệ môi trường và đạt được sự độc lập kinh tế lâu dài, bao gồm cả việc tham gia vào các doanh nghiệp và dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ.

Các mỏ hoạt động giống như những thành phố nhỏ: cần điện, nước, hậu cần, chỗ ở và lực lượng lao động lành nghề. Những người sống trong các cộng đồng thổ dân ngày càng muốn tham gia, nhưng thường cần được đào tạo và xây dựng năng lực do chính phủ hỗ trợ để có được những công việc đó.

Một số lãnh đạo thổ dân cho rằng sự không chắc chắn xung quanh các dự án tài nguyên lớn không phải do chính quá trình tham vấn mà là do chính phủ cố gắng áp đặt thời hạn và khung pháp lý phê duyệt mà không có sự đồng thuận.

Đại thủ lĩnh Alvin Fiddler (ảnh dưới) Liên minh Bộ lạc Nishnawbe Aski, đại diện cho 49 bộ lạc thổ dân Miền Bắc Ontario, đã nổi lên như một nhà phê bình hàng đầu đối với chiến lược Vành đai Lửa của Ontario và việc tỉnh này sử dụng Dự luật 5 để đẩy nhanh tiến độ khai thác mỏ thông qua các “khu kinh tế đặc biệt”.
First Nations slam Bill 5 at committee hearing - SNNewsWatch.com

Alvin Fiddler cho rằng những cách tiếp cận này có nguy cơ làm gia tăng kiện tụng và đối đầu trực tiếp hơn là mang lại sự chắc chắn về mặt pháp lý mà ngành công nghiệp tìm kiếm, và rằng cần phải có sự tham vấn có ý nghĩa trước khi các khung pháp lý được thông qua hoặc việc xây dựng bắt đầu.

“Những gì họ đang làm là trái ngược với việc tạo ra sự chắc chắn,” Alvin Fiddler (ảnh dưới) nói. “Bằng cách áp đặt các quy trình của họ lên chúng tôi, sẽ có xung đột, hoặc ở tòa án hoặc trên thực địa.”
Alvin Fiddler seeks the leadership of the Assembly of First Nations -  TBNewsWatch.com

Fiddler cho biết, sự đồng ý tự nguyện, có hiểu biết và được thông báo trước phải bao gồm quyền từ chối chấp thuận.

“Đây là đất của chúng tôi; bất cứ điều gì xảy ra trên lãnh thổ của chúng tôi đều phải do chúng tôi quyết định,” Alvin Fiddler nói.
More 'action' promised against major projects law: Chief Alvin Fiddler |  Power & Politics

Fiddler, một thành viên của bộ lạc Muskrat Dam bản địa, chỉ ra điều mà Alvin Fiddler gọi là sự đạo đức giả khi thúc đẩy phát triển khai thác mỏ nhanh chóng trong khi cộng đồng của Alvin Fiddler phải chịu đựng cảnh báo nước sinh hoạt phải đun sôi từ năm 2003.

“Thật khó để có một cuộc tham vấn có ý nghĩa với một cộng đồng thậm chí không có nước uống an toàn,” Alvin Fiddler nói.

“Đã có nhiều nỗ lực liên hệ với Hội đồng các bộ lạc Bản Địa để xin ý kiến, nhưng không ai có thể trả lời về vấn đề này.

chủ tịch Karen Rees Hiệp hội các nhà thăm dò và phát triển Canada cho biết các quy trình tham vấn và cấp phép hiện tại bị trùng lặp, nhầm lẫn, thời gian biểu không thể đoán trước và chậm trễ. Số lượng lớn các bên liên quan, từ chính phủ liên bang, tỉnh và vùng lãnh thổ đến các bộ như Cơ quan Đánh giá Tác động, Bộ Thủy sản và Đại dương Canada và Bộ Giao thông vận tải Canada, có thể gây ra sự chậm trễ.
Karen Rees | Prospectors & Developers Association of Canada (PDAC)

“Những kỳ vọng đang thay đổi theo Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền của Người bản địa (UNDRIP) và sự đồng ý tự nguyện, trước đó và được thông báo đầy đủ đã tạo ra một môi trường trong đó kiện tụng thường đi kèm với tham vấn,” Rees nói.

vẫn có những ví dụ về các cộng đồng thổ dân thiết lập quan hệ đối tác có ý nghĩa với các dự án khai thác mỏ.

tại Ontario, Bộ lạc Taykwa Tagamou đã đầu tư 20 triệu đô la vào Dự án Niken Crawford của Công ty Canada Nickel, dự án này đã được chuyển đến Văn phòng Dự án Trọng điểm và được chính phủ Ontario đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo 8,4% cổ phần và một ghế trong hội đồng quản trị. Bộ lạc Norway House Cree sở hữu hoàn toàn dự án niken Minago ở Manitoba sau khi mua lại với giá 8 triệu đô la từ Flying Nickel Mining Corp.

các Bộ lạc Bản Địa như Wahnapitae, Sagamok Anishnawbek và Atikameksheng Anishnawbek đã thành lập các liên doanh cung cấp dịch vụ khoan và các dịch vụ khác, trong khi các quỹ đào tạo từ Newmont Corp. và Orla Mining Ltd. tập trung vào phát triển lực lượng lao động và xây dựng kỹ năng.

theo Hiệp hội Khai thác mỏ Canada, hiện có hơn 500 thỏa thuận đã ký kết với các Bộ lạc Bản Địa trên toàn quốc, bao gồm các điều khoản về giáo dục, việc làm, phát triển kinh doanh, quản lý môi trường và đầu tư cộng đồng.

Rees cho biết sự tham gia phối hợp sớm là điều cần thiết.
May be an image of glasses and text that says ÁC 2026 PDAC PDAC a 106 PDAC DAC ONVENTION HE WORLD'S PREMIER INERAL EXPL LORATION MINING CONVENTION MEMBERSHIP T M. STUDENT & EARLY_CAREER EARLY CAREER THENING EO THE INDUSTA ardwinning eventis ngwherefamiliaria aces rged. SUPPORTING THE NEXT NEXTGENERATION GENE GENERATION OF EXPLORATIONISTS utureoin takesshape one TORONTO, CANADA D4C supparts student earty carcer pursuing 3career あか nthe the annuai urene-ineustryMirera.Eaplrat.o xploration kshap MeΜ pagrammingat mmingat annua Convention felddtr funding, activitins mnre ARNMORE ARN MORE ca/students พกการนาพกรการ์ -1製県 Saskatchewan Geological Open House

“Khi chính phủ đặt ra những kỳ vọng rõ ràng, ngành công nghiệp và cộng đồng người bản địa có thể tự tin tham gia và khám phá những cơ hội hợp tác đa dạng và độc đáo,” Rees nói.

ngoài các thỏa thuận lợi ích tác động truyền thống, Rees nói rằng “ngày càng nhiều cộng đồng và các bên đề xuất đang khám phá các mối quan hệ năng động, sáng tạo, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng hợp tác, vốn chủ sở hữu và quyền sở hữu tài sản cũng như phát triển kinh doanh phụ trợ.”

những thách thức trong việc cân bằng nhiều tiếng nói, thời hạn và sự chấp thuận là không thể xem nhẹ.

“Cuối cùng, tham vấn là một quá trình phức tạp và rắc rối,” Fronk nói. “Ngay cả khi bạn làm mọi thứ có thể, vẫn còn những tranh chấp, sự chậm trễ và sự không chắc chắn.”
 
Sửa lần cuối:
Top