Chu Doãn Văn nối ngôi ông nội chưa ấm đít trên ngai là bày mưu hãm hại mấy ông chú ruột, kết cục ăn lồn

Sau cuộc nổi dậy nông dân vào năm 1368, Chu Nguyên Chương khởi nghĩa thành công. Ông xưng đế, sáng lập triều đại nhà Minh. Kể từ đây, lịch sử Trung Hoa cổ đại bước sang một chương mới. Để củng cố quyền lực, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đưa ra các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt đối với các đại thần. Đồng thời, ông phong vương và phân chia lãnh thổ cho các con trai cai quản. Chủ ý là, khi kinh thành loạn lạc, phiên vương từ khắp nơi có thể dẫn binh về kinh giải nguy.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã sớm lập trưởng tử là Chu Tiêu lên làm thái tử, chờ ngày kế vị. Nhưng không may, thái tử đã qua đời trước cả vua cha. Trải qua nhiều lần cân nhắc, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương quyết định truyền ngôi cho con trai thứ của Chu Tiêu là Chu Doãn Văn. Sau khi Chu Nguyên Chương băng hà, Chu Doãn Văn đăng cơ, lấy hiệu là Minh Huệ Đế.

chu-de-01-2305.jpeg
Yên vương Chu Đệ tham kiến hòa thượng Diêu Quảng Hiếu. Ảnh: Soundofhope.
Chu Doãn Văn lên ngôi khi tuổi còn trẻ. Ông nắm giữ toàn quyền triều chính, nhưng không có uy tín trong quân đội. Nghe theo ý kiến của các cận thần thân tín, Minh Huệ Đế đã bãi bỏ chính sách phong vương, thu lại binh quyền và quyền cai quản lãnh thổ của các vương gia.

Đầu tiên, Chu vương Chu Túc bị giáng xuống làm thường dân. Ông cùng gia đình bị đày đến Vân Nam không thể trở lại kinh thành. Một năm sau đó, Mân vương Chu Tiện bị phế bỏ tước vị, đày đến Phúc Kiến. Tương vương Chu Bách cũng buộc phải tự sát. Đó là những tín hiệu đáng ngại cho sự an nguy của Yên vương Chu Đệ – vị vương uy tín và hùng mạnh nhất nhà Minh. Bởi vậy, ông đã sớm có kế hoạch thoát khỏi sự thanh trừng của Minh Huệ Đế.

Yên vương Chu Đệ​

Nói về Yên Vương, ông là con trai thứ tư của Hoàng đế Chu Nguyên Chương với Hoàng hậu Từ Hiếu Cao. Khi cai quản Bắc Bình, ông thường dành thời gian quan tâm đến đời sống của người dân nên được họ yêu mến, ủng hộ. Không chỉ đức độ, ông còn có tài thiên phú về quân sự. Chu Đệ từng dẫn quân chinh phạt phương bắc, hạ bệ Bắc Nguyên Thái Uy Nại Nhi Bộ Hoa, bắt được rất nhiều tướng lĩnh nhà Nguyên, thu được vô số cừu ngựa làm chiến lợi phẩm.



Chu Nguyên Chương từng khen: “Người khai phá sa mạc là Yên vương, trẫm không cần lo lắng về việc tiến lên phía bắc”. Kỳ thực, sau khi Chu Tiêu qua đời, ban đầu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã chọn Chu Đệ kế vị. Văn võ bá quan trong triều không ai phản đối. Tuy nhiên, một vị quan đứng ra khuyên Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương rằng:

“Việc cháu trai của hoàng đế kế vị là chính đáng, và đó là tuân theo lễ nghĩa thông thường. Nếu Yên vương Chu Đệ được lập thái tử, thì Tần Mẫn vương và Tấn Cung vương, những người lớn hơn Yên vương sẽ làm gì? Nếu con trai của Thái tử Chu Tiêu thực sự quyết tâm trở thành người kế vị thì điều gì sẽ xảy ra? Trong tương lai, với tính cách nhân từ của Chu Doãn Văn, những vị hoàng thúc lại hiếu chiến thì chuyện gì sẽ xảy ra?”. Bởi vậy, mới có chuyện, Chu Nguyên Chương không truyền ngôi cho con mà truyền cho cháu.
1-1703.jpg
Hình tượng Minh Thành Tổ Chu Đệ trong phim truyền hình Trung Quốc
Vào năm 1399, Minh Huệ Đế Chu Doãn Văn cử người thân tín là Trương Bỉnh đến Bắc Bình làm quan Bố chính sứ nhằm phân chia một phần quyền lực vốn thuộc về Yên vương Chu Đệ. Đồng thời, ông cử hai tướng quân Tạ Quý và Trương Tín tới nắm giữ một phần binh quyền binh lính Bắc Bình. Lãnh thổ Bắc Bình dần bị triều đình cai quản, Chu Đệ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thu mình trong vương phủ.

Mở màn của "tĩnh nan chi biến"​

Yên vương Chu Đệ giống Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ở điểm, ông cũng nhẫn nhịn. Yên vương trọng dụng hòa thượng Diêu Quảng Hiếu. Ngoài thông thạo kinh Phật, vị hòa thượng này còn biết bói toán, thiên văn, y thuật, binh pháp, v.v. Có thể nói, ông là một quân sư rất hoàn hảo. Dưới sự dẫn dắt của Diêu Quảng Hiếu, nội trong phủ, Yên vương đã cho người bí mật xây dựng một đội quân hùng mạnh. Nhưng tính về số lượng, họ không thể chống lại quân đội đông đảo của triều đình.

Để Chu Doãn Văn buông lỏng cảnh giác, Chu Đệ dùng chiêu giả điên. Ông bắt đầu mặc quần áo rách rưới ra đường; quát tháo mọi người; nói năng không mạch lạc; lúc đói bụng thì xông vào tửu quán giành ăn đồ của người ta. Ông cũng thường xuyên ngủ ngoài đường. Đặc biệt Yên vương còn mua 500 con ngỗng lớn về nuôi ở một khu đất trống trong vương phủ. Những con ngỗng ngày ngày kêu inh ỏi, ai nấy đều cho rằng, Chu Đệ thực sự đã điên thật rồi.

Nhưng, dưới vỏ bọc điên điên khùng khùng, Yên vương Chu Đệ đang tập trung làm theo kế sách của hòa thượng Diêu Quảng Hiếu. Dưới khu đất bầy ngỗng sinh sống, Chu Đệ cho người xây dựng một kho vũ khí quy mô lớn. Binh lính của ông tranh thủ thời gian, ngày đêm chế tạo vũ khí, luyện tập võ nghệ. Vì tiếng kêu của hàng trăm con ngỗng đủ lớn, mọi âm thanh khác đều bị lấn át, họ không phải lo lắng về việc bị phát hiện. Bằng cách này, quân đội của Yên vương được trang bị tốt với hàng chục nghìn khí giới.

Ngoài ra, nhiều người cho rằng, việc nuôi 500 con ngỗng mất rất nhiều lương thực. Chu Đệ có thể mượn cớ nuôi ngỗng để nuôi quân và giết ngỗng lấy thịt. Những thanh niên vận chuyển thức ăn cho ngỗng đều cường tráng, họ đường đường chính chính đi vào vương phủ, việc chiêu mộ binh lính cũng thuận lợi. Đây quả là một cao kiến.

Tuy nhiên, quan khâm sai của Minh Huệ Đế đã chứng kiến được cảnh tượng này. Các quan lại theo phe hoàng đế ở Bắc Bình cũng cảm thấy, chứng điên loạn của Yên vương rất bất thường nên vội vàng báo cáo về kinh thành. Lúc này, Chu Doãn Văn không thể ngồi yên được nữa, ông chỉ thị cho Trương Bình và Tạ Quý bắt giữ Chu Đệ và toàn bộ gia quyến.

Không ngờ, Chu Đệ ra lệnh cho thuộc hạ mở cổng mời họ vào phủ. Nhưng sau khi vào thì không có ai trở ra nữa. Theo lệnh của Yên vương, quân đội được huy động. Đội quân triều đình mặc dù đông đảo, nhưng vì mất người chỉ huy nên không phải là đối thủ của Yên vương. Chín cổng thành Bắc Bình nhanh chóng bị ông chiếm giữ.

Để có lý do thích hợp dấy binh, Chu Đệ lấy danh nghĩa “thanh quân trắc, tĩnh quốc nan” - nghĩa là cứu giá quân vương khỏi sự thao túng của bọn quan lại lộng quyền, qua đó tiến quân về Nam Kinh. Trận chiến này được sử sách ghi là "tĩnh nan chi biến".

Quân đội triều đình chịu sự chỉ huy của lão tướng Cảnh Bỉnh Văn, nhưng các chiến thuật của ông đều không cầm cự nổi tinh thần chiến đấu của đội quân Yên vương; cho nên, Cảnh Bỉnh Văn phải giao lại binh quyền cho Lý Cảnh Long.

Vị tướng quân này, mặc dù là con trai của một danh tướng nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ thừa kế tước vị mà không có được kinh nghiệm chiến đấu. Lý Cảnh Long nhanh chóng bị quân đội dày dặn kinh nghiệm nơi thao trường của Yên vương đánh bại.

Chưa tới bốn năm, Yến vương đã dẫn quân đánh vượt Trường Giang, vây thành Nam Kinh. Mặc dù Kiến Văn đế chủ động cầu hòa, nhưng Chu Đệ không đồng ý. Động thái này của người chú ruột đã buộc Kiến Văn đế phải tử thủ tới cùng.

Chu Đệ chiến thắng nhiều trận liên tiếp. Ông dần chiếm Từ Châu, Tô Châu, Cao Hựu, Dương Châu, cuối cùng tiến thẳng đến Nam Kinh. Lúc này, trấn thủ Nam Kinh là Lý Cảnh Long vốn đã bại trận trước đó, thấy triều đình đã tàn, bèn mở cửa thành đầu hàng.

Trớ trêu thay, đại thần kế cận Hoàng đế khi ấy là Lý Cảnh Long lại chủ động mở cửa thành nghênh đón đại quân của Yến vương. Các bá quan văn võ trong triều đình đều đầu hàng.

Minh Huệ Đế được cho là đã phóng hỏa cung điện và tự thiêu mình trong đó; cũng có quan điểm cho rằng, ông đã trốn khỏi cung trước khi Chu Đệ kéo quân đến.

Sau khi Chu Đệ cướp ngôi, vì sao lại giết toàn bộ các phi tần trong hậu cung? Có 3 lý do - Ảnh 2.

Chu Đệ sẵn sàng giết những ai đe dọa đến ngai vàng của mình. Ảnh: Sohu
Yến vương Chu Đệ sau khi vào thành đã hạ lệnh lục tung cung điện gần 3 ngày để tìm kiếm tung tích người cháu ruột vừa bị mình bức tử.

Tuy nhiên khi ấy, mọi người chỉ tìm thấy những thi thể cháy xém không phân biệt được là nam hay nữ trong đống đổ nát, liền tin rằng Hoàng đế đã quy tiên. Chu Đệ nhìn thấy những thi thể thê thảm ấy, sau khi lên ngôi đã tổ chức “Lễ táng Kiến Văn đế” (theo “Minh sử”).

Tuy nhiên, danh nhân Yên Thế thời nhà Thanh và nhà nghiên cứu Thái Đông Phiên lại có giả thuyết khác về kết cục của vị Hoàng đế này. Cả hai học giả trên đều cho rằng Kiến Văn đế không phải qua đời vì tự thiêu, mà đã cắt tóc đi tu.

Theo đó, sau khi Yến vương vào được thành, Kiến Văn đế quả thực có nghĩ tới việc tự vẫn. Nhưng khi ấy, thái giám Vương Việt lại tiết lộ cho ông một việc hệ trọng:

“Tổ phụ của bệ hạ (chỉ Chu Nguyên Chương) lúc sắp băng hà có để lại cho người một chiếc rương sắt, có dặn thần khi nào tai vạ ập tới thì giao lại cho bệ hạ. Thần vẫn thường bí mật cất giấu nó ở trong điện Phụng Tiên.”

Mọi người khi đó vội vàng đem chiếc rương tới. Sau khi mở ra, Kiến Văn đế phát hiện bên trong là ba tờ độ điệp (thẻ đi tu) chứng minh thân phận của tăng sĩ, mặt bên trên đều viết tên của mình.

Trong thành khi ấy có một nơi gọi là “Quỷ môn”. Đây thực chất là một cánh cửa bí mật nối liền với thủy đạo, chỉ đủ cho một người ra vào. Kiến Văn đế vừa bước ra khỏi Quỷ môn cùng 8 người, đã thấy một chiếc thuyền nhỏ chờ sẵn ở thủy đạo.

Trên thuyền khi đó có một vị tăng nhân. Người này khi vừa nhận ra Hoàng đế liền cúi đầu hô “Vạn tuế”.

Kiến Văn Đế khi đó mới hỏi tăng nhân vì sao biết mình gặp nạn. Tăng nhân đáp:

“Ta là Vương Thăng, là trụ trì ở chùa Thần Nhạc. Đêm qua ta mơ thấy Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Thái Tổ xưa kia vốn là người xuất gia, hôm qua có bảo ta ở đây chờ để đón người nhập chùa làm tăng.” Sau đó, Kiến Văn đế cắt tóc quy y, thừa kế “tổ nghiệp”.

Còn có một loại giả thuyết khác về tung tích của vị Hoàng đế này.

Theo cuốn “Giang Du huyện chí”, Chu Doãn Văn vì binh bại mà “quy ẩn tại núi này”. Nhưng ngọn núi ấy cụ thể ở đâu thì lại không được ghi chép tỉ mỉ.

Chu Đệ sai người đi tìm kiếm tung tích của cháu ruột là một sự thật lịch sử. Tuy nhiên mục đích thực sự của hành động ấy là gì, cho tới nay vẫn là một câu hỏi không lời giải để lại cho hậu thế.
Để có thể thuận bề cai trị, sau khi giành được ngai vàng từ cháu trai, Minh Thành Tổ Chu Đệ không những giết hết hậu cung của Chu Doãn Văn, mà còn còn sát hại cả những trung thần nổi tiếng như Phương Hiếu Nhụ, Hoàng Tử Trừng… và nhiều quan lại khác với quy mô thanh trừng lớn. Chu Đệ ra tay với tất cả những quan lại cùng gia tộc nếu họ không phục tùng mình.

Đặc biệt là Phương Hiếu Nhụ còn bị "tru di thập tộc", vợ và con gái bị đưa vào quân đội làm nô lệ, ba bốn đời sau đều là kỹ nữ. Mãi cho đến năm Chính Thống thì họ mới được ân xá.

Có thể nói rằng, Minh Thành Tổ là một vị hoàng đế có tính cách tàn ác. Bất kỳ ai mà ông thấy có thể trở thành nguy cơ đe dọa ngai vàng của mình thì sẽ không ngại "trừ cỏ tận gốc" để tránh hậu họa sau này. Vị hoàng đế này thẳng tay giết từ những phi tần chân yếu tay mềm ở hậu cung cho đến những vị quân thần có công và tài giỏi.

Yên vương thắng trận, lên làm hoàng đế lấy hiệu là Minh Thành Tổ, thay đổi niên hiệu thành Vĩnh Lạc. Ông cho dời đô về Bắc Bình và đổi tên thành Bắc Kinh.

Theo nguyên tắc của Huyết thống luận: "Lão tử anh hùng nhi hảo hán, Lão tử phản động nhi hỗn đản", những người tham gia vào các hoạt động phản đối Vĩnh Lạc Hoàng đế đều bị trừng phạt bằng những nhục hình dã man như lột da, thả vào vạc dầu, nấu trong nước sôi…

Tiếng than khóc, kêu gào thảm thiết, ai oán khắp thành Nam Kinh

Không những vậy, vợ, em gái, em dâu, cháu ngoại …, tất cả những phụ nữ có liên quan đến các bậc trung thần nói trên đều bị Chu Đệ đưa đến các lầu xanh làm kỹ nữ. Ngay cả những người đã xấp xỉ lục tuần cũng không ngoại lệ.

Thảm cảnh này xảy ra khắp Nam Kinh, thậm chí còn lan đến tận Bắc Kinh.

Sau khi Chu Đệ xưng đế, Nam Kinh chìm trong biển máu.

Từ quảng trường cố cung thời Minh cho đến Vũ Đài Hoa ở huyện Phụ Quách, không nơi nào máu không vương vãi. Những hình ảnh này đập thẳng vào mắt tân Hoàng đế, khiến tâm thế ông luôn trong trạng thái bất an.

Vĩnh Lạc Hoàng đế trước tình thế đó đã phải tính đến chuyện dời đô đến một nơi khác, mà ở đó ông không còn phải chứng kiến những cảnh tượng ám ảnh tâm trí mỗi ngày.

Ngoài ra, còn một nguyên nhân quan trọng nữa khiến vị Hoàng đế thứ 3 của Minh triều tính đến chuyện dời đô.

Chu Đệ từng trấn thủ Bắc Bình nhiều năm, hơn ai hết, ông biết nơi này có một vị trí quan trọng như thế nào về mặt quân sự. Trước khi bị Chu Nguyên Chương lật đổ, nhà Nguyên đóng đô tại Đại Đô (nay là Bắc Kinh).

Thất thế, quân Nguyên dồn về thảo nguyên Mông Cổ, nhưng vẫn không ngừng mở các đợt tấn công hòng tái chiếm lại các mảnh đất do Minh triều cai quản.

Do đó, việc dời đô về phía Bắc nằm trong toan tính của Chu Đệ, nhằm trấn áp các cuộc nổi dậy của những người ủng hộ Nguyên triều.

Một công đôi việc, đó là lý do Vĩnh Lạc Hoàng đế quyết định dời đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh.

Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (năm 1406), bá quan văn võ tại Bắc Bình phụng chỉ Hoàng đế, điều động hàng trăm vạn người, chính thức xây dựng cung điện Bắc Kinh.
Chu De va cuoc doi do dam mau nhat trong lich su Trung Quoc

Trường Lăng là lăng chính, thờ Minh Thành Tổ Chu Đệ.
Những di sản văn hóa thế giới của Trung Quốc như Cố Cung, Thiên Đàn, Đại Miếu và nhiều công trình kiến trúc có quy mô hoành tráng khác mà chúng ta thấy ngày nay, chính là những công trình được dựng lên sau khi Vĩnh Lạc Hoàng đế dời đô đến Bắc Kinh. Chủ trì xây dựng công trình gồm Luy Thiên Đô Đốc Thiêm Sự Phong Thái Ninh Hầu Trần Khuê (mất năm 1419, khi công trình còn dở dang), Công bộ thị lang Ngô Trung, Hình bộ thị lang Trương Tư Cung, kiến trúc sư Thái Tín và trong đó có một thái giám người Việt tên Nguyễn An làm Tổng đốc công.
 

Có thể bạn quan tâm

Top