Có Hình CON Lala123hihi BỊ NẤU CAO NĂM 1998 Ở THÔN ĐÁ CÓC

  • Tạo bởi Tạo bởi 8Lake
  • Start date Start date

8Lake

Thần điêu đại bịp
- Ký Sự điều tra của Trần Văn Hữu –
Tôi đến Đá Cóc vào một buổi chiều lạnh tê dại của tháng Mười hai. Bầu trời đè nén xuống khu đồi già như một tấm chăn mốc u uất, dày đặc hơi sương và mùi gỗ mục. Thôn làng nằm im lìm, như chính ký ức mà họ cố chôn chặt 20 năm nay - ký ức về “nồi cao tinh tinh”.
Người dân nơi đây không nhắc đến nó. Họ không nói bằng lời, nhưng ánh mắt khi tôi hỏi đến chuyện xưa - cái ánh mắt dừng lại lâu hơn trên vết nứt của bát nước chè, hay lặng lẽ nhìn về phía đồi Đồng Cốc - nói lên tất cả.
Nhưng tôi phải biết. Tôi không đến đây chỉ để nghe kể chuyện. Tôi đến để đào lên một cái gì đó đã bị chôn vùi cùng với những cục cao đen ngòm, nặng mùi, những lời khai đã ráo mực, và một cái ch.ế.t không bao giờ được soi rọi đầy đủ.
Tôi đã đọc chuyện này đủ nhiều trên internet, nhưng tôi vẫn sẽ kể ra ở đây cùng trải nghiệm kì lạ của tôi.
Qua dò hỏi người dân trong thôn, tôi tìm gặp ông Ngạch, năm nay đã ngoài bảy mươi, sống biệt lập trong một căn nhà nhỏ ở cuối thôn Đá Cóc. Ông vẫn giữ thói quen uống rượu ngâm với rễ cây rừng. Lúc tôi nhắc đến “Con tinh tinh”, ông lặng người, rồi thều thào như nói với chính mình:
Chuyện bắt đầu vào một chiều cũng vào mùa đông năm 1998, khi ông Đinh Văn Ngạch – khi ấy đã 52 tuổi, sống bằng nghề săn bắt và giữ rừng - được một chủ rừng tên là Nguyễn Văn Ước thuê trông coi khu rừng lấy gỗ trên đồi Đồng Cốc.
Vào chiều ngày 5 tháng 12 năm 1998 ông phát hiện một vật thể cháy đen trên đồi Đồng Cốc. Lưng gù, chân dài, da cháy sạm đen và vặn xoắn như một khúc gỗ mục. “Giống hệt một con tinh tinh quý hiếm,” đời đi rừng đôi lần ông cùng thấy những bóng dáng tương tự thế này lướt qua những cành cây hay lẫn trong bụi rậm, thứ sinh vật mà ông đã từng thử bẫy nhưng chưa bao giờ bắt được. Ông tìm loại dây rừng bền chắc, dẻo, buộc vào xác, vắt dây lên vai, kéo vượt qua quả đồi, đưa về làng. ông khẳng định đây là một con tinh tinh quý hiếm có thể bị sét đánh cháy đen, ông hồ hởi nói với cả làng về ý định đem con tinh tinh đi nấu cao.
“Tôi thề… lúc đó, tôi không biết... Trời ơi, nó cháy đen sì, xư.ơ.n.g gã.y lò.i ra... Tôi tưởng thật... là con tinh tinh…” ông kể lại với giọng phân bua trông hết sức tội nghiệp. Tôn xin được ở lại nhà ông để tìm hiểu thêm về câu chuyện, ông cũng hướng dẫn tôi tìm gặp một vài người khác cũng đã chứng kiến câu chuyện rùng rợn năm nào.
Theo đó tôi tìm gặp ông Hoàng Văn Dũng, nguyên trưởng thôn, nay đã nghỉ hưu. Ông đón tôi trong căn nhà âm u với tường đá lạnh ngắt và ánh mắt đục ngầu, như người đã mang một phần bóng tối của câu chuyện vào tâm hồn.
Theo ông kể lúc biết tin ông Ngạch săn được loài “động vật quý hiếm” xưa nay chưa từng xuất hiện ở địa phương, dân làng từ già đến trẻ nô nức kéo đến sân nhà ngắm nghĩa, trầm trồ ngợi khen.
Theo mô tả của ông trưởng thôn, cái xác khi ấy đã bị biến dạng, cháy xém, đen thui, lưng gù, bắp chân vừa to vừa dài. Đặc biệt, quan sát thấy hai bàn tay co quắp, móng tay khá dài, chi trước phồng lên.
“Trông giống y hệt con tinh tinh mà mọi người được xem trong tranh ảnh, tivi. Quả thật nó quá giống khiến cả tôi khi đó cũng tin rằng đó là loài vật quý hiếm”, ông trưởng thôn trần tình. Vì thấy “con vật” có kích thước to, dài, dân làng còn khiêng ra giữa sân để đo chiều dài, cân nặng.
“Khi tôi đến, cái xác đã nằm giữa sân. Lưng gù, da đen cháy, tay chân vặn xoắn như đang vùng vẫy. Nhưng nhìn cái tay... móng dài, móp méo… nó như tay người. Tôi rùng mình lúc đó, nhưng miệng vẫn nói là tinh tinh. Có lẽ... vì sợ...” Ông Dũng kể lại bằng giọng kể run run vì khiếp hãi.
Sáng hôm sau, ông Ngạch cùng anh em trong nhà và một số hàng xóm thân thiết chuẩn bị d.a.o, thớt, gàu múc nước, ra ao làng. Họ khiêng theo “con tinh tinh” để rửa sạch và mổ sẻ, theo đó tổng cộng có khoảng 10 người trực tiếp tham gia việc xẻ thịt, cùng hàng chục người khác là dân làng tò mò đến xem chưa tính trẻ em hiếu kì.
Ngay sau đó, là lễ “giải phẫu”. Trời còn sương, d.a.o đã mài. Cái xác được mang ra, đặt trên tấm phản tre. Khi con d.a.o đầu tiên lướt qua da thịt cháy sém, mùi bốc lên nồng nặc - mùi thịt cháy, tóc cháy, mùi của x.á.c ngư.ờ.i, nhưng được tin là "thịt quý". Họ nói là “mùi động vật hoang dã”.
Cũng trong buổi sáng hôm đó, thông tin về việc dân làng bắt được “động vật quý hiếm” đã đến tai cơ quan chức năng. Một cán bộ kiểm lâm địa phương được cử đến nhưng lúc đó người dân đã mổ xong. Sau khi xương, thịt được phân loại xong xuôi, họ bắt tay nấu cao. Ông trưởng thôn còn năn nỉ mua lại một phần xương cốt để mang về nấu cao, nhưng không được thợ săn đồng ý. “Cũng may về sau tôi không mua được. Nghĩ lại đến giờ vẫn thấy rùng mình dựng hết gai ốc”, ông trưởng thôn nhớ lại.
Một số người khác đề xuất đem một phần thịt làm thực phẩm để thưởng thức, thế nhưng cũng bị ông Ngạch ngăn cản vì thịt đã có dấu hiệu rữa, không thể ăn được.
Ông Nguyễn Văn Đông, một nhân chứng trực tiếp, kể lại khi tôi gặp trong quán nước đầu làng:
“Tôi uống hai chén rượu ngâm cao hôm đó. Trời đất ơi, nó bốc lên mũi, xộc thẳng vào não. Tôi thấy hoa mắt, tim đập loạn. Cứ nghĩ là do quá bổ, ai dè...”
Sau ba ngày ba đêm đun nồi cao, thay nhau tiếp củi, khuấy đều, thêm nước, tránh cháy đáy nồi - một mẻ cao đặc, sền sệt, đỏ quạch được hoàn tất. Dân làng tò mò, phần vì chưa bao giờ thấy loại cao như thế này, phần vì tin rằng họ đã nấu được cao quý, cao đặc biệt vì nguyên liệu là thú rừng quý hiếm. Họ múc chia nhau cho mỗi người tùy theo công sức đóng góp, họ vét từng miếng cao cuối cùng cho đến khi nồi cao không còn gì cả.
Mang cao về, người thì ngâm rượu, người thì để dành trị bệnh. Đêm ấy, cả thôn như lễ hội, vui trong cái hào hứng hoang dại, tuy nhiên nhiều người cho biết khi uống rượu pha với cao này, họ thường bị xây xẩm, chóng mặt, mùi của cao vô cùng “đậm” dù chỉ dùng một lượng nhỏ pha hẳn vào can rượu mạnh mười lít, nhiều thanh niên yếu đô nôn thốc nôn tháo ngay khi uống ngụm đầu tiên, họ bỏ về trong sự chê cười của những người đô cao. Nhưng thành thật mà nói, bản thân họ cùng cảm thấy vô cùng khó chịu khi uống loại rượu này.
Sự hoan lạc đáng sợ ấy cứ tiếp diễn - cho đến khi một lão nông tên Tám phát hiện sự thật.
Theo lời kể của ông mà tôi thu thập được. Đêm 5/12, ông thấy lửa cháy phía rừng Đồng Cốc. “Ngọn lửa không phải cháy rừng. Nó là ngọn lửa cô độc. Đỏ rực, nhưng không bùng lên. Nó cháy một chỗ, lâu. Có tiếng rên, như người... Tôi nghe thấy...”
Lời ông kể không có trong bất kỳ biên bản nào. Ông bảo không dám nói khi đó vì “nói ra là rước họa”. Mãi sau, khi nghe tin nấu cao, ông mới lẳng lặng đi xem.
Giữa một rừng nghi hoặc và tự vấn lương tâm, ông đã quay lại hiện trường và tàn nhẫn thay, giữa đống tro, ông tìm thấy một chiếc quai nón cháy dở, và đôi dép tông nhựa màu vàng, những đồ vật không thể đi cùng với một con tinh tinh.
Đó là x.á.c ngư.ờ.i!
Vài ngày sau, ba xe cảnh sát hú còi lên đồi Tổng cộng hơn 20 người trực tiếp nấu cao hoặc chứng kiến việc nấu cao đều được triệu tập lấy lời khai. Tuy nhiên, tất cả những người này đều nhất loạt khai khi đó không biết xác ch.ế.t là con người. Bản thân ông Ngạch, người đầu tiên phát hiện ra xác ch.ế.t và mang về làng nấu cao, cũng một mực cho rằng khi ông lên rừng thì phát hiện “con tinh tinh” khi đó đã có biểu hiện phân hủy nhẹ, ruồi nhặng bâu đầy. Chuyện x.á.c ngư.ờ.i ông còn nhầm lẫn, thì vì sao nạn nhân ch.ế.t, ông không hề hay biết. Sau đó, mọi người thoát tội.
Phân tích ADN xác nhận cái xác bị nấu cao chính là bà Đinh Thị Minh (sinh năm 1949, ngụ đội 7, xã Yên Lương) - một phụ nữ sống đơn độc ở xã Yên Lương. Lúc mất tích, bà đội nón trắng, mang túi quần áo và một can đựng nước.
Công an kết luận bà t.ự vẫ.n. Họ nói bà xích mích với người thân, đi mua xăng, lên đồi tự thi.ê.u. Nhưng ông Đinh Văn Xoan, em trai nạn nhân, không tin. Ông kể với tôi trong tiếng nấc nghẹn:
“Chị tôi không phải loại người yếu đuối. Nếu định ch.ế.t, sao lại mang theo quần áo, túi nước? Lại còn đi xa đến thế?
Theo lời ông, bà Minh là con thứ 2 trong gia đình có 5 anh em. Lớn lên bà theo học một lớp sư phạm, nhưng thời chiến tranh, đang học thì nhà trường giải thể, bà quay về sống với bố mẹ.
Lúc đó, các chị em còn lại trong gia đình đều đã lập gia đình, ra ở riêng. Bà Minh ở vậy cấy cày, làm lụng nuôi bố mẹ già và em trai. Trong ký ức của ông Xoan, chị gái mình là người hiền lành, chăm chỉ và chu đáo. Cuộc sống gia đình dù vất vả nhưng đủ ăn, mọi người thương yêu nhau.
Sau vụ việc công an giao cho gia đình tôi một hũ tiểu đựng chiếc đầu lâu, túi bóng đựng cao, một số xương xẩu và vài cái khuy áo, cặp tóc… Gia đình tôi rất sốc, không tin là người nhà mình làm sao mà đến nông nỗi này”. – ông tiếp tục kể trong nước mắt.
-------------------
Tôi mang theo tài liệu về vụ án đi theo hướng dẫn của ông Ngạch, tìm đến hiện trường cũ, nơi ngọn lửa đã từng bùng lên. Giữa những gốc cây cháy sém, một cảm giác lạnh buốt xộc qua lưng tôi, dù nắng đã lên.
Tôi cúi xuống, nhìn thấy một vật nhỏ cắm trong đất - một cái khuy áo cháy xém, bạc màu, nằm như đang chờ ai đó đến nhặt. Có thể chỉ là ngẫu nhiên của ai đó sau hai mươi năm, hoặc... một dấu vết còn sót lại của định mệnh.
Tôi thử dựng lại hành trình cuối cùng của bà Minh: Rời nhà buổi sáng, đi bộ, mang theo đồ đạc và nước. Khoảng 17h đến địa phận Thắng Sơn, định bắt xe đi La Phù. Không có xe. Bà quay lại, biến mất.
Và rồi – bà đã bị gi.ế.t? Cướp đôi bông tai vàng? Thi.ê.u xác để phi tang?
Hay thực sự là t.ự vẫ.n? Nhưng đôi bông tai đâu? Vàng không cháy thành tro. Tại sao không ai tìm thấy chúng? Phải chăng, ai đó đã đến hiện trường sau khi lửa tắt? Phải chăng, cái xác “được phát hiện tình cờ” kia, thực ra đã nằm chờ từ trước, sắp đặt từ trước?
Tôi hỏi cơ quan chức năng nhưng sự thật là hồ sơ đã khép. Kết luận cuối cùng vẫn là tự thi.ê.u.
Nhưng tôi không thể không nghi ngờ - vì từng người, từng câu chuyện quanh đó, đều có khe hở, đều có sự e dè trong lời nói. Một sự sợ hãi sâu xa. Không chỉ vì “nồi cao người”, mà vì có cái gì đó chưa bao giờ được nói ra.
-------------------
Đêm cuối cùng ở Đá Cóc, tôi ngồi bên bếp than sưởi nhà ông Ngạch. Ông không ngủ. Mắt đỏ hoe.
“Cậu có tin... tôi thấy bà ấy không?”
Tôi không đáp. Bởi lẽ chuyện tâm linh vong hồn không có chỗ đứng trong phóng sự điều tra.
Ông Ngạch vẫn ngồi đó, nhìn xa xăm về phía cửa, trời mùa đông xe lạnh, dưới ánh sáng xanh mờ của bóng đèn tuýp cũ, ông Ngạch lại kể.
“Mỗi khi mưa xuống, tôi nghe tiếng khóc... Không phải trong tai, mà ở tim. Có hôm... tôi nhìn thấy bóng người đàn bà đi qua sân... chầm chậm... như tìm đường về nhà.”
Tôi rùng mình. Đêm đó đổ mưa. Gió thổi lạnh như d.a.o. Căn nhà rên rỉ trong từng cơn gió vút qua mái ngói, sấm sét đanh thép như át đi tiếng ai oán mà tôi lờ mờ có lẽ là đã nghe được.
Tiếng khóc.
Buổi sáng rời đi, tôi nghĩ bản thân có lẽ qua ít việc nên đã đến đây tìm hiểu một vụ án từ những 20 năm trước, mà thực ra chi tiết của vụ án đã đầy rẫy trên mạng, coi như đây cũng là một chuyến đi nghỉ ngơi có chút kì thú.
Một đám trẻ con đi học trong sương sớm, dân làng người thì đi làm, người vác cuốc ra đồng. Đám trẻ con lướt qua tôi một cách vô tư, miệng vẫn líu lo chuyện bài vở.
Bỗng, một bọc nylon màu vàng rớt ra từ chỗ đám trẻ, như bọc xôi sáng nóng hổi, tôi vội vàng nhặt lên, bọc nylon không cột, bên trong thấy rõ một cục cao đỏ quạch, một mẫu giấy gói có ghi nguệch ngoạc nét chữ con nít bằng mực tím.
“Tôi không tự ch.ế.t”
Không ai biết ai viết. Không ai biết từ đâu đến.
Đá Cóc giờ đã có điện, có internet, nhưng nỗi sợ thì không cần cáp quang để tồn tại hay wifi để lan truyền. Nó sống trong từng giấc ngủ, trong tiếng gió qua rừng, trong ánh mắt người già khi nhắc đến năm 1998.
Câu chuyện kết thúc ở đây - ít nhất là trên giấy tờ.
Nhưng với tôi, vụ án đó chưa bao giờ khép lại. Vì tôi biết có một người phụ nữ không có cơ hội được thanh minh. Và có một ngọn lửa - vẫn cháy, âm ỉ trong bóng đêm của núi rừng Phú Thọ.
Xin gửi một nén nhang xót thương cho chị.
Trần Văn Hữu - Nhà báo tự do
Gửi từ vùng núi Thanh Sơn, một đêm mưa tháng Mười Hai Năm 2018.
----------------------
Ghi chú của tác giả: nhân vật và sự kiện đều có thật theo trình tự, nhà báo điều tra và trải nghiệm riêng của anh ta là sáng tác cá nhân.
HÃI-
533401474_4386953464870844_8502509053075263828_n.jpg
 
Ngu đến mức không nhìn ra được đó là người. Và người nhìn ra được thì hèn không nói sợ gặp họa. Rồi bu vô làm thịt người nấu cao. Đúng tính chất xứ dân Vẹm: ngu, hèn, làm điều dị hợm.
 
vụ này lên báo nhiều năm trước rồi thì phải
 

Có thể bạn quan tâm

Top