Live Dũng lò vôi nhờ cha vợ mà cướp hết đất của Tăng Minh Phụng với giá rẻ mạt

Năm 2023 là tròn 20 năm Tăng Minh Phụng bị xử bắn tại pháp trường ( 2003). Hình này chụp khoảng năm 1995, khi ấy doanh nghiệp Minh Phụng “ nổi đình nổi đám”, quản lý trên 10 nghìn công nhân may, chưa kể sở hữu nhiều đất đai nhà cửa…
Người đứng phát biểu là Tăng Minh Phụng, bên phải là doanh nhân Nguyễn Vui, giám đốc Cty Vĩnh Cửu, bên trái tôi là Nguyễn Minh Tuấn ( đã mất), lúc ấy là Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước TPHCM, sau này là Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước. Cô phóng viên Hải Lý ngồi ngoài cùng ghi chép.
Chương trình Bàn Tròn doanh nghiệp của Thời Báo Kinh tế Sài Gòn do tôi tổ chức và điều hành suốt 5 năm , mời các doanh nhân và quan chức Nhà nước thảo luận về những vấn đề kinh tế, kinh doanh. Nhiều đại gia ở Sài Gòn thời bấy giờ tham gia bàn tròn. HTV điều “xe màu” đến thu hình, chủ nhật hàng tuần phát trên kênh 9, kênh thời sự. Do chương trình có đông người theo dõi, nên Trần Bình Minh, lúc ấy là trưởng phòng thời sự VTV từ Hà Nội bay vào TPHCM phối hợp với tôi tổ chức một số cuộc bàn tròn phát trên VTV.
Nói thêm một chút về Tăng Minh Phụng. Tôi quen Bảy Phụng lúc chưa có tên tuổi gì cả, chỉ là chủ cơ sở cung cấp nguyên liệu cao su cho những người làm giày dép. Nhiều người gọi Bảy Phụng là Bảy Khùng, không phải bị khùng điên gì đâu mà do nói chuyện hay nổ, hiếu thắng, đầy cao vọng. Cách đây 3 thập kỷ, Bảy Khùng đã ôm mộng trở thanh ông trùm, trở thành một trong những người giàu nhất nước . Phốp pháp , khoẻ mạnh nhưng Bảy Khùng không sa vô những cái chuyện như rượu chè, cờ bạc , trai gái. Bảy có 2 sở thích cá nhân là thụt bi da, nằm hàng giờ ở các tiệm hớt tóc gội đầu hạng sang.
Tôi nhớ có lần ăn trưa với Bảy Khùng, có anh Thái Ngô Cư ( đã mất), lúc ấy là Chủ tịch Q11, Bảy Khùng tâm sự lo lắng” Không biết doanh nghiệp của em trong tương lai ra sao, vừa rồi em đi Đài Loan coi thầy, ông thầy nói em chết không có hòm chôn” Bảy vừa nói vừa chảy nước mắt. Câu chuyện này diễn ra trong bối cảnh doanh nghiệp Minh Phụng cõng món nợ rất lớn từ 4-5 ngân hàng.
Tôi không mê tín dị đoan, nhưng không hiểu tại sao lời tiên đoán của ông thầy Đài Loan lại ứng vô chuyện Tăng Minh Phụng bị xử bắn sau này .
Năm 1997, Nhà nước khởi tố vụ án Epco- Minh Phụng, vụ án lớn nhất, gây chấn động cả nước thời bấy giờ. Cho tới giờ vụ án đó vẫn còn nhiều người nhắc lại, tranh cãi về kết quả xử án, đặc biệt đối với việc xử tử hình Tăng Minh Phụng.
Nguồn: Nhà Báo Trần Đình Vĩnh
C4rTozJK.jpg
 
Tao nói lâu rồi, vận 9 này kinh hoàng lắm, là đại vận trả nghiệp.

Ngay trong bài cũng nói, qua hết vận 8 thì thằng nào làm ác là ăn loz hết.

Trong bài có nói về chuyện thờ Bách Gia Trăm Họ, chính xác là vận này phải thờ cái này, 1 ông tu tiên ở Thất Sơn có nói chuyện này.

Mấy người lúc sống làm ác nghiệp chướng quá nhiều, lúc chết phải gửi vào đền thờ Bách Gia Trăm Họ, ko là bị âm sai đánh nát hồn phách.
Ngoài IT mềy coàn làm Trưởng khoa lý số, dâng sao giải hạn cíu nhơn độ thế của mếý ẻm sgbb pga tiệc Z cụa học ziện Bề Đề hã
 
Sửa lần cuối:
TMP nhìn trước xu thế, đi tắt đón đầu nhưng chẳng qua là đi quá sớm khi luật pháp chưa cho phép làm + mác hoa kiều lên chết thôi. Chứ Vượn về ôm nguyên mô hình, cách làm... thế là thành Top 1 sever. Anh Ba X thời ấy làm trưởng ban thi hành án vụ TMP sau vụ này mới có lực để lên vị trí cao hơn
Ngày đó anh ba lại chả đạp lên nấm mồ TMP để đi lên, ko có vụ đó a Ba có lực để lên đâu. Mọi thứ quyết roẹt roẹt trong 1 tháng. Dứt điểm, kinh tởm thật. Từ hồi đó tao đã thấy, xứ đéo nào cũng như nhau, đạp lên nhau để đi lên thôi.
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 1): CHUYỆN TÂM LINH CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC KỂ

Hôm nay đã gần cuối năm 2025, chỉ còn vài tuần nữa chúng ta sẽ đến Noel và rồi là Tết dương lịch 2026, chào tạm biệt cái năm thanh lọc 2025 đầy biến động thị phi này. Nhân tiện, chương trình Page sẽ tạm gác tiết mục “Bạn dám hỏi thì ad dám trả lời”, chúng ta sẽ bước qua tiết mục “Kể chuyện tâm linh”. Câu chuyện kể về người xưa ở chốn Sài Gòn hoa lệ cũ, tuy bóng người đã khuất hơn mấy chục năm nay, nhưng mỗi khi nhắc lại vẫn là đề tài nóng hổi bồi hồi.

Đó là câu chuyện về đại gia Tăng Minh Phụng, từng nổi tiếng với vụ đại án EPCO – Minh Phụng năm 2003. Tất nhiên, xưa nay đọc qua báo chí và truyền thông, có lẽ dư luận chỉ biết đến hình ảnh ông Tăng Minh Phụng qua lăng kính của kinh tế, an ninh và chính trị. Nhưng hôm nay, chúng ta đọc và kể lại cuộc đời ông qua một lăng kính mới… TÂM LINH.



Niềm cảm hứng để loạt bài viết “Huyền thoại về đại gia Tăng Minh Phụng” được đăng đến với mọi người, đó là từ một lời hứa của anh Sang (một thành viên Page) mắc nợ một người anh. Khi người anh này kể lại câu chuyện, anh ta có nói với Sang:

- Sau khi đại gia Tăng Minh Phụng bị xử bắn, thi thể tử tù thường được liệm đơn giản, chôn tại trường bắn Long Bình trong một thời gian trước khi cho gia đình bốc mộ. Hiện nay thì mộ của ông được di dời an táng tại một ngôi chùa ở Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người anh đó nhắc đi nhắc lại, nhiều lần rủ Sang đi lên nơi này để tham quan, hỏi thăm những người xung quanh về lai lịch của vị đại gia người Hoa quá cố này, tự khắc sẽ hiểu được nhiều điều ngọn nguồn. Cuối cùng, theo lời khích lệ, Sang đã thử một phen đến nơi đó xem thử. Và khi anh bạn thành viên của Page đến đó, anh kể lại rằng:

- Đi xe 7 chỗ thì buổi trưa lên Núi Dinh, Bà Rịa, trên núi này thì có chùa Thiền tôn Phật Quang của nhà sư Thích Chân Quang gây “nổi đình nổi đám” một thời. Nhưng bỏ qua đi, lại đi đến một ngôi chùa khác, đó là chùa Tây Phương. Đi vào phía hậu viên chùa thì sẽ đến khu mộ phần có mộ của Tăng gia. Đây là một khu mộ tập thể, xung quanh có khá nhiều những ngôi mộ khác, và mộ phần của Tăng gia cũng trông bình thường nằm lặng lẽ yên tĩnh ở đó thôi. Khi đến gần đã nhìn thấy trước mộ của vị đại gia có tấm bia nhỏ đề rằng: Tăng Minh Phụng, pháp danh: Minh Lưu. Pháp hiệu: Ông Táo. Có bài thơ đề rằng: “Tăng ơi! Minh ơi! Phụng ơi! Đời đâu phải cõi vô thường, Xoay mặt lại, Lưu gương Thiên Cổ. Thầy Mẹ ơi! Chúng con sám hối, Lỗi lầm này. Ôi! Tiếng Thét giữa hư không, Hừng hực Trời Nam. Anh về với Mẹ, Chốn Non Bồng rực rỡ ngát hương Sen. Xoay mặt lại, Nhận ra người bạn cũ, Tự lâu rồi, Ta ôm mộng trần thương. Vầng trăng xưa, Khuất lấp bởi vô thường. Xoay mặt lại, bến xưa đò Long Kiểng, Ánh trăng rằm soi bóng Mẹ chờ con”.

Dĩ nhiên, khi Sang kể lại cho chúng tôi về chi tiết này, ngay lập tức, chúng tôi đặt câu hỏi với anh: Tại sao lại lấy pháp hiệu Ông Táo? Trong Phật giáo chính thống, không bao giờ có pháp hiệu là “Ông Táo”. Pháp hiệu thường là từ Hán-Việt trang trọng (như Chân Không, Thanh Từ...). Và qua dò hỏi của Sang với những người ở xung quanh gần đó, Sang đã thực hiện phương pháp Dân tộc ký, ghi lại những lời kể của cư dân, quý sư thầy ở quanh Núi Dinh. Từ đó, anh đã cung cấp cho team tư liệu thô quý giá về huyền thoại và câu chuyện tâm linh liên quan đến nhân vật Tăng Minh Phụng được lưu truyền trong dân gian. Sau khi từ Bà Rịa trở về Sài Gòn, kể lại “chiến tích dữ liệu” của mình, người anh kia vỗ đùi đen đét và nói với Sang:

- Hay, chuyện hay đó, chú em thấy anh nói đúng không? Ngày xưa gia đình anh cũng mắc nợ chịu ơn ông Tăng Minh Phụng, đó giờ anh vẫn muốn tìm ai kể lại chuyện đời ông, nhưng mà chuyện tâm linh thì khó nói. Một phần vì đó là vấn đề kín đáo tế nhị, ít ai đem ra bàn, nhất là với người khuất bóng sa cơ lỡ vận. Anh thường sưu tầm báo chí, tờ san đọc lại về vụ ông Bảy Phụng, lấy đó làm gương. Anh thấy nhóm chú em đăng bài lên kênh rất là hay, hơn nữa tụi em có cái sự “trung dung” mà ít ai có được: thứ nhứt là giới tâm linh ở xứ này thường là thiếu trình độ, nói chuyện lùng khùng, đầu óc man man, kể ra chỉ tổ làm người ta chửi thêm; thứ hai là giới khoa học truyền thông thì viết toàn lý trí, đọc nó vô thần quá hóa ra vô hồn. Chỉ có nhóm tụi em kết hợp cả hai, chắc chắn câu chuyện sẽ có sắc màu mới và sinh động.

Thực ra, chúng tôi rất muốn trích dẫn lại nguyên văn những lời mà người dân địa phương kể lại cho bạn đọc, vì nghe sẽ mang tính nguyên sơ, mộc mạc hơn nhiều, sau đó chúng tôi mới đưa ra phân tích và tổng hợp của riêng kênh. Nhưng thật đáng tiếc, khi xem lại kỹ tư liệu của admin Sang cung cấp, có thể thấy hầu hết mọi người đều kể lại theo lối tản mạn, rời rạc, thiếu nhất quán, thậm chí đang kể chuyện này thì xọ qua chuyện khác, và mọi thứ rối rắm như mớ bòng bong. Bất đắc dĩ, chúng tôi chỉ còn cách biên tập và xâu chuỗi lại các hạt nhân hợp lý trong những lời kể đó thành một mạch chuyện có tính xuyên suốt logic hơn.

Sau khi tổng hợp tài liệu từ các nguồn báo chí, sách vở, video, cho đến tư liệu thực tế, đi dò hỏi ở cả Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa, cuối cùng cũng đúc kết thành câu chuyện hoàn chỉnh. Về pháp hiệu Ông Táo, khi Sang hỏi thăm một vị thầy sống ở chùa Tây Phương, thầy mới tiết lộ một chi tiết khá thú vị: Sở dĩ lấy pháp hiệu này, vì khi còn sinh tiền, đại gia Tăng Minh Phụng là Phật tử quy y hệ phái Liên tông Tịnh Độ Nong Bồng, và pháp hiệu này do chính TỔ SƯ của hệ phái ban cho Tăng Minh Phụng. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên hơn, thời điểm ban pháp hiệu cho Tăng gia, vị Tổ sư căn bản đã viên tịch, không còn trên trần thế, cho nên đấng hiện ra với Tăng Minh Phụng thực chất là … LINH HỒN (Spirit)! Đúng vậy, theo như vị thầy kể lại, anh linh Tổ sư đã hiển linh và khải thị với Tăng Minh Phụng rằng:

- Nguyên kiếp trước con chính là Ông Táo mắc đọa trần gian, cho nên Mẹ ban danh hiệu cho con là Ông Táo, từ nay phải quy y Non Bồng, trọn đời thờ Phật kính Mẹ, làm điều nhơn nghĩa với đời thì mới trọn vẹn kiếp nhơn sanh nghen con.

Do đó, việc khắc chữ “Ông Táo” lên bia mộ là một hành động “hợp thức hóa huyền thoại” này. Như vậy, câu chuyện đã bắt đầu có mùi tâm linh, xin mời quý độc giả tò mò đi vào phần đầu nguồn cuộc đời Tăng Minh Phụng.

Tăng Minh Phụng sinh năm 1957 tại khu vực mà sau này là Quận 11, ngày xưa vẫn quen gọi là Chợ Lớn – vốn là nơi quần tụ sầm uất của người Hoa. Sinh ra một gia đình nghèo khó gốc người Tiều (Triều Châu), từ thuở nhỏ đã cật lực mưu sinh để lớn lên, Tăng Minh Phụng là người con thứ sáu trong gia đình, nên tục gọi là Bảy Phụng. Người đời sau đều biết Tăng Minh Phụng từng là đại gia kinh doanh bất động sản, và cùng lắm là biết thêm ông từng là “vua may mặc” – ông chủ của công ty Minh Phụng chuyên về hàng dệt may.

Nhưng mấy ai biết, thuở còn thanh thiếu niên, Tăng Minh Phụng làm nghề gì? Mới 18 tuổi đã chứng kiến cuộc “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, và sau đó là bước vào thời kỳ Bao cấp, thời đó chưa có làm ăn kinh tế tư nhân, làm sao một cậu thanh thiếu niên có thể làm may mặc được? Dĩ nhiên, giai đoạn sau 1975, Tăng Minh Phụng khởi đầu nghề mưu sinh bằng công việc chuyên chở hàng hóa, bán cao su, đế giày, dép nhựa, dép lốp. Tại sao? Quận 11 (khu Lạc Long Quân, Bình Thới) là thủ phủ của các lò sản xuất nhựa/cao su quy mô hộ gia đình của người Hoa thời bấy giờ. Bảy Phụng chuyên làm nghề bỏ mối, sau này anh chàng sắm được chiếc xe lôi, buổi tối thì ở nhà cặm cụi làm cao su giày dép, ban ngày tờ mờ sáng thì luôn có mặt trên các con đường Lạc Long Quân, Bình Thới, 3 tháng 2… để đi bỏ mối hàng tự sản xuất.

Vào đầu thập niên 1980, báo chí Hoa ngữ (từ Hồng Kông) bắt đầu len lỏi vào Chợ Lớn. Lý Gia Thành lúc đó đã là tượng đài của giới kinh doanh. Hồi đó, trong cái nóng hầm hập của một nền kinh tế bao cấp đang chuyển mình đau đớn, chàng trai Bảy Phụng người gốc Tiều mỗi sáng lái xe lôi đi giao hàng đều sẽ ghé ngang sạp báo để mua cho được những tờ báo chí kinh tế nói về sự “hóa rồng” của Hồng Kông cùng với gương mặt nổi lên như cồn của tỷ phú Lý Gia Thành, vốn đi lên từ nghề hoa nhựa. Tăng Minh Phụng ngồi đọc say sưa những tin báo, rồi mua tạp chí doanh nhân đọc về con đường khởi nghiệp của Lý, đến nỗi vì thường hay đậu xe trái phép, vừa chạy xe vừa đọc báo dẫn đến mất tay lái hay lạc đèn đỏ, anh chàng Bảy Phụng này thường hay bị một cô cảnh sát giao thông đứng ở ngã tư giao lộ Bình Thới biên phạt xử lý vì đi sai quy định. Bảy Phụng cười hề hề, lắc đầu nói với bạn:

- Cô công an nhìn xinh mà dữ quá mày, đúng là bông hồng nào cũng có gai.

Người bạn ông nói:

- Chế đi sáng sớm thì nên cẩn thận, gặp “bà chằn lửa” này nghiêm lắm, đi lạng quạng là bả không tha cho đâu. Quanh đây ai cũng biết cô Sương đây không vừa đâu, nhất là mấy cha cà chớn chạy đường ẩu tả đó.

Rồi có hôm, hai người lại có cơ duyên đụng độ tiếp.

- Anh Bảy, lại chở hàng cồng kềnh. Giấy tờ đâu? - Giọng cô lạnh tanh.

- Cô Sương ơi, tha cho tui đi. Chuyến này tui dồn hết vốn liếng rồi, chưa bán được đồng nào... - Bảy Phụng năn nỉ, tay quệt mồ hôi muối.

- Luật là luật. Phạt!

Tờ biên bản xé ra như xé toạc ruột gan Bảy Phụng. Hôm đó, anh mất một phần ba vốn liếng chỉ để nộp phạt. Nhưng ánh mắt của Bảy Phụng nhìn cô Sương không có hận thù, mà có sự Cam chịu của số phận. Anh hiểu, cô đang làm nhiệm vụ của một người làm công lực, còn anh là hạt cát đang cố luồn lách sống qua ngày. Ấy vậy mà Bảy Phụng vẫn lạc quan, nói với bạn:

- Lý Gia Thành khởi nghiệp từ hoa nhựa mà làm giàu. Tao làm giày dép nhựa cao su, cũng sinh ra nghèo như ổng khác gì, nhưng sau này tao sẽ làm giàu ngang ổng cho coi. Ông này làm ăn đáng nể, đất Hồng Kông chật như zậy mà ổng phất lên từ sản xuất rồi mua đất đầu cơ, sau này ngộ mà có tiền thì cũng lao vô đầu tư đất, có đất là có vàng.

Bạn bè, người thân xung quanh, trong cộng đồng người Hoa ấy, dẫu quý Phụng là người thông minh, tháo vát, dễ mến, nhưng mà suốt ngày cứ tự hợm mình là Lý Gia Thành mãi, người ta bật cười ngao ngán, gọi anh là “thằng Bảy Khùng”. Ai cũng bật cười nói:

- Mày mặc có cái quần xà lõn, đáy thủng quần rách lỗ chỗ còn chưa có tiền vá, ở đó mà mộng đòi tỷ phú cái gì, tào lao quá chèn ơi.

Phải biết trong cái thời bao cấp đó, đủ ăn là mừng lắm rồi chứ mơ gì làm giàu. Một người bình dân, không có ô dù, không có lý lịch tốt, lại là người Hoa, sống dễ thở đã là mừng, lấy gì mà ôm mộng đòi giàu sang phú quý, quả là tư tưởng “dị thường”. Vậy mà không ai ngờ “thằng khùng” đó sau này làm thật, và hắn giàu đến mức không ai sống ở thập niên 80 nghĩ rằng hắn làm được!!!

Bảy Khùng cũng không màng việc cứ hay bị cô cảnh sát tuýt còi, cười sằng sặc nói với anh em:

- Mai mốt ngộ làm tỷ phú, tha hồ cho cô nương đó biên phạt thoải mái, ngộ sẽ không thiếu tiền nộp phạt!

Anh em đều bật cười, nói Khùng có gì mà đòi ra tiền. Bảy Phụng liếc mắt nói:

- Bí mật, mai ngộ đi qua bến đò Long Kiểng, đổi đời hay không là do nó.

Té ra, đò Long Kiểng nằm trên đường Lê Văn Lương, thuộc xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP.HCM. Trước khi có cầu Long Kiểng (mới xây gần đây), đây là một bến đò ngang cách trở, vùng đất phèn mặn, nghèo khó, tập trung nhiều dân lao động nhập cư và người nghèo thành thị dạt về. Long Kiểng là cửa ngõ thương mại sông nước để phân phối hàng hóa rẻ tiền về miền Tây. Dân miền Tây đi ghe lên Nhà Bè để lấy hàng. Món hàng Bảy Phụng bán (dép nhựa, dép cao su) là nhu yếu phẩm cho nông dân miền Tây thời bao cấp. Phụng đã chở hàng xe lôi đến đây bán mấy bận, đều có chút vốn, hôm nay lại được tin báo phải chở hàng gấp đôi gấp ba, tin chắc mình sẽ có thêm vốn liếng mở cơ sở làm ăn lớn hơn, làm cho lòng Bảy Phụng hí ha hí hửng. Bảy Phụng đạp như điên về hướng Nhà Bè. Bến đò Long Kiểng hiện ra trong ráng chiều đỏ quạch, nước sông đục ngầu cuộn chảy. Đây là vùng trũng, nơi tụ tập đủ hạng người “tứ chiếng giang hồ” dạt về.

Bảy Phụng vui vẻ giao lô hàng dép nhựa cho một tay trùm thu mua tại bến.

- Chú mày cứ để hàng đó, vào uống ly nước, anh đếm tiền.

Bảy Phụng, với sự ngây thơ của một kẻ mới khởi nghiệp, tin vào cái “tình” của dân sông nước. Anh uống cạn ly trà đá, mơ về viễn cảnh cầm cục tiền về mua thêm máy ép nhựa. Nhưng 15 phút trôi qua. Rồi 30 phút. Anh chạy ra bến. Trống trơn. Gã trùm đã biến mất. Lô hàng dép nhựa cũng bốc hơi theo con đò vừa rời bến. Những người dân quanh đó nhìn anh với ánh mắt thương hại pha chút dửng dưng:

- Thằng đó lừa đảo nổi tiếng ở đây, mày người lạ sao dám tin nó?

Bảy Phụng đứng chết lặng. Mất trắng. Toàn bộ vốn liếng tích cóp từ việc lượm lặt phế liệu, vay mượn anh em, giờ tan thành bọt nước sông Nhà Bè. Anh gục xuống, không khóc nổi. Cái nghèo, cái đói và nợ nần ập đến như cơn thủy triều đen ngòm.

Hoàng hôn buông xuống. Bảy Phụng lái chiếc xe lôi rỗng tuếch quay về Quận 11. Người anh rã rời, hồn anh treo ngược cành cây. Đến ngã tư quen thuộc, tiếng còi Tuýt! lại vang lên. Lại là cô Sương.

- Anh chạy xe xiêu vẹo quá, tính gây tai nạn hả? Dừng lại!

Bảy Phụng xuống xe, người run bần bật.

- Cô ơi... tui hết tiền nộp phạt rồi. Tui mới bị lừa hết sạch dưới Long Kiểng rồi... - Giọng anh vỡ vụn.

Cô Sương nhìn gã đàn ông lấm lem, đôi mắt đỏ ngầu tuyệt vọng. Nhưng luật pháp không có chỗ cho nước mắt.

- Xe không đèn, chở hàng cồng kềnh, người không tỉnh táo. Theo quy định, tôi phải tịch thu phương tiện.

Câu nói đó như nhát dao cuối cùng. Tịch thu xe lôi là chặt đứt “cần câu cơm” duy nhất. Bảy Phụng quỳ sụp xuống ngay giữa ngã tư. Anh không van xin cô Sương nữa, anh gào lên với trời cao: “Ông Trời ơi! Sao ông triệt đường sống của con? Con làm ăn lương thiện mà sao khổ thế này?”

Tiếng thét của Bảy Phụng khiến cô Sương sững lại. Lần đầu tiên, dưới lớp áo cảnh phục cứng nhắc, trái tim người phụ nữ rung động trước nỗi đau trần trụi của một người đàn ông cùng đường. Cô không lập biên bản tịch thu. Cô quay mặt đi:

- Thôi đi đi. Lần sau đừng để tôi thấy nữa.

Quả là một người phụ nữ có nguyên tắc với đạo đức công vụ, song cũng giàu lòng trắc ẩn. Bảy Phụng lết về nhà, nhưng trong đầu anh, lý trí đã sụp đổ hoàn toàn. Làm ăn chân chính bị lừa, chạy xe bị phạt. Con đường của người thường đã cụt. Anh cần một phép màu. Đang đăm chiêu suy nghĩ thì đi lạc vào một hàng bán nước sâm ven đường. Một thằng bạn người Hoa trông thấy, quắc tay lại kêu:

- Ê Bảy Khùng, lại đây uống với ngộ ly sâm coi, làm gì mặt mày bí xị zậy cha.

Thấy Bảy tuyệt vọng, người bạn ghé tai thì thầm:

- Ngộ nghe nói ở Biên Hòa, trên Quan Âm Tu Viện, có Mẫu Trầu linh thiêng lắm. Ngài là Hòa thượng nhưng hiện thân Bồ-tát, mới viên tịch năm ngoái. Ai đến cầu, nếu thành tâm, Ngài sẽ cứu. Ngộ tính lên đó cầu tài, năm nay làm ăn xui quá. Hay nị muốn đi chung heng?

Bảy Phụng bật cười nói:

- Khùng như ngộ mà trời cũng dồn vô cùng đường rồi, còn gì để mất đâu! Đi!

Ngay trong đêm đó, hai kẻ đường cùng của xã hội mon men không ngủ, đi về đất Biên Hòa. Đó là cái đêm định mệnh đầu năm 1987, lúc này Bảy Phụng cũng không còn trẻ nữa, anh đã 30 tuổi rồi. Cái tuổi mà ngày xưa thánh nhân phải dặn là: “Tam thập nhi lập”, vậy mà giờ đây tuổi 30 anh vẫn chưa tạo lập nổi cơ đồ, lại còn bị lừa trắng tay.
 
Theo giai thoại truyền miệng, câu chuyện ly kỳ diễn ra như sau:

Quan Âm Tu Viện. Khói hương nghi ngút. Bảy Phụng không có tiền mua lễ vật cao sang. Anh chỉ có tấm thân tàn và một trái tim rực lửa khát vọng. Nghe nói Mẫu Trầu ở đây thiêng lắm, nhưng Mẫu Trầu này rốt cuộc là ai? Đó là Hòa thượng Thích Thiện Phước (1924–1986), Tổ sư khai sơn Liên tông Tịnh Độ Non Bồng (Quan Âm Tu Viện, Biên Hòa). Nghe tiếng đồn lúc sinh tiền, Hòa thượng tuy là nam giới (về mặt sinh học), nhưng giọng nói, cử chỉ, và phong thái lại y hệt phụ nữ, đặc biệt là hình ảnh các bà má Nam Bộ (nhai trầu, mặc áo bà ba, quấn khăn rằn hoặc khăn lụa). Trong tín ngưỡng Nam Bộ, đây được gọi là “Xác Cô/Cốt Bà” hoặc hiện tượng “Chuyển Thân”. Người dân tin rằng: Ngài là hóa thân của Đức Quan Thế Âm (Vốn xuất thân là nam nhưng hiện tướng nữ để cứu khổ). Hoặc ngài là cốt của Diêu Trì Kim Mẫu (Mẹ Sanh) giáng trần. Vào thời chiến tranh, ngài Thích Thiện Phước đã biến nơi đây thành chốn “phổ độ”, chẩn tế người nghèo, nuôi dạy trẻ cô nhi lưu lạc, tiếng đồn là Bồ-tát giữa thời loạn lạc, cứu giúp cho bách gia vạn hộ đang gặp cảnh nguy khốn giữa cơn binh hỏa. Sau này khi đất nước trở lại cảnh thái bình, ngài Thích Thiện Phước cũng được vinh danh là người từng có công cống hiến cho hoạt động cách mạng. Để gần gũi với dân gian, vừa chăm sóc cho trẻ thơ, vừa trông nom cho những người phụ nữ cơ nhỡ, Hòa thượng thường tự xưng mình là Mẹ, Má, mặc đồ bà ba, nhai trầu, thế nên mọi người xung quanh đều gọi là Mẹ Trầu. Đến năm 1986 thì Hòa thượng viên tịch, hay Mẫu Trầu hóa thăng. Ngay từ khi còn tại thế, Mẫu Trầu đã rất nổi tiếng đức hạnh, lại nghe nói có nhiều phép linh dị, có hộ pháp thần bảo trợ, nên hệ phái Non Bồng được sự quy ngưỡng của rất nhiều bà con, tiếng lành đồn xa. Hồi thập niên 80-90, kinh tế thị trường sơ khai đầy rủi ro pháp lý và xã hội. Doanh nhân đi trên dây, có thể ngã ngựa bất cứ lúc nào. Họ không cần một vị thiền sư bảo họ “Đời là bể khổ, hãy buông bỏ tiền bạc”. Họ cần một vị Thánh Mẫu bảo họ: “Con cứ làm giàu đi, Mẹ sẽ độ cho con an toàn, miễn là con biết chia sẻ (cúng dường)”.

Thành thử, Bảy Phụng nghe lời bạn kể, cũng muốn lên đây cầu may thử vận, nhưng trong lòng anh lúc này chí thành tha thiết, bởi cú lừa vừa rồi đã làm anh điêu đứng, không còn gì để mất nữa.

Anh quỳ trước ban thờ Mẫu Trầu. 1 ngày... 2 ngày... 3 ngày... Đầu gối anh trầy xước, máu rỉ ra thấm ướt ống quần xà lõn. Anh không ăn, chỉ uống nước cầm hơi. Miệng lầm rầm khấn vái:

- Mẫu ơi, con khổ quá. Xin Mẫu cho con con đường sống. Con hứa làm trâu làm ngựa trả nợ đời.

Đến đêm thứ 4. Bảy Phụng kiệt sức, ngất lịm đi dưới chân tượng. Trong cơn mê sảng, giữa ranh giới thực và ảo, anh thấy một luồng sáng xanh tỏa ra. Một người mặc áo bà ba, miệng nhai trầu, tay cầm quạt mo hiện ra, nhìn anh vừa nghiêm khắc vừa từ bi.

- Tăng Minh Phụng! - Tiếng nói vang lên như chuông đồng. Bảy Phụng ngoái đầu lên nhìn, dụi mắt vì không nhìn rõ nhân dạng người đối diện.

- Mẹ biết con là ai? Mẹ biết con lên đây cầu Mẹ cho con cái ngân tiền lấy lộc làm ăn, đặng mai này giàu sang với thiên hạ. Nhưng mạng con không nên giàu, nếu giàu sẽ rước tai họa, Mẹ không độ con được, thôi con về đi!

Bảy Phụng nghe thế thì la lên, đứng phắt dậy van xin Mẹ đoái thương, nhưng vừa mới đó đã thấy nhân dạng tan biến như lớp màn sương. Nhưng lòng anh đã quyết, chai sần như sắt đá, anh lại tiếp tục quỳ và nói:

- Con chẳng còn gì để mất nữa rồi, Mẹ thương Mẹ cứu đời con. Con từ nhỏ đến lớn chịu thấu cảnh nghèo không thể tả nổi, không lẽ Mẹ nhơn từ mà trơ mắt nhìn con nhỏ thua đau với đời ra thế sao? Mẹ ơi xin cảm lòng con, con chí thành chí thiết, con lạy van Mẹ cho con đổi đời lấy tài lộc công danh, nếu không thì con chẳng thiết sống nữa. Chỉ cần con đổi đời hanh thông, Mẹ muốn con làm gì con cũng làm. Con sẽ quy y chân Mẹ, làm đệ tử Non Bồng, đem hết tiền của giúp cho chùa chiền của Mẹ lan tỏa khắp nơi. Mẹ ơi Mẹ đoái nghĩ cho con, con tuy là thân nam nhưng lòng con cũng có sự yếu mềm, chua chát phận đời, con khóc muốn chảy máu mắt mà Mẹ không hữu tình động lòng thương con sao?

Cứ như vậy, Bảy Phụng lại quỳ trước bảo tháp thờ Hòa thượng, gục mặt cúi đầu mong Mẫu hiển linh lần nữa. Đến đêm thứ 7, chỉ còn một hai giờ nữa là bước sang ngày mới. Bảy Phụng mệt mỏi rã rời, người ta đến đỡ anh dậy muốn anh vào nghỉ, uống chút nước, ăn chút cơm chay, nhưng Phụng gạt phắt đi, nói với mọi người:

- Mẹ không hiện ra thương ngộ thì ngộ không đứng dậy đâu, ngộ mất hết rồi, không tiếc gì cái mạng này nữa. Hôm nay không gặp được Mẹ thì ngộ thà đâm đầu vô bia đá chết luôn, đừng ai can ngăn ngộ, đi ra hết đi, sống nhục như vầy ngộ không cam lòng.

Đến gần nửa đêm đó, Bảy Phụng mệt lả, tựa đầu vào tấm bia gục xuống. Trong lúc mơ màng anh lại như thấy hình bóng Mẫu Trầu thấp thoáng đâu đây, chỉ nghe tiếng thở dài rồi Mẫu Trần cất tiếng nói:

- Mẹ nói cho con biết, căn số của con chẳng phải tầm thường. Con là Ông Táo mắc đọa, bị trời đày xuống trần gian chịu khổ. Số con là số Phá Quân, không giữ được tiền. Nếu con muốn giàu, con phải mượn nợ thiên hạ mà làm. Nhưng hãy nhớ kỹ lời Mẹ: Tài sản 10 phần, con phải đem 7 phần đi giúp người (cứu nhân độ thế), chỉ được giữ 3 phần. Nếu con khởi lòng tham, muốn chiếm đoạt làm của riêng, thì ngày con về với Mẹ, con cũng chỉ mặc đúng cái quần xà lõn rách nát như hôm nay thôi nghe!

Bảy Phụng khóc nấc lên trong mơ:

- Con xin thề! Con xin thề!

Mẫu mỉm cười, phẩy quạt:

- Thôi con về đi. Khoảng hai ngày sau, giờ Mão (5 giờ sáng), con hãy ra ngã tư Bình Thới, con có nhớ chỗ đó không, con hay đi xe lôi ngang đó. Quý nhân của đời con đang đợi ở đó. Người đó nắm giữ ấn kiếm giúp con mở kho tiền thiên hạ. Mẹ sẽ độ cho con nên duyên với người đó, con nhớ chưa?

- Dạ con nhớ, con nhớ rồi. - Bảy Phụng gật đầu lia lịa nói.

Bảy Phụng bừng tỉnh. Trời vừa hửng sáng. Dù thân thể đau nhức, nhưng đôi mắt anh rực sáng một niềm tin kỳ lạ. Anh rủ bạn lao xe về lại Sài Gòn.

Đúng như lời Mẫu dặn. Hai ngày sau, Bảy Phụng có mặt tại ngã tư Bình Thới. Đồng hồ chỉ đúng 5 giờ sáng (Giờ Mão).

Sài Gòn lúc này còn ngái ngủ. Màn sương sớm màu xám đục lảng bảng trôi trên mặt đường nhựa. Bảy Phụng đứng tựa lưng vào gốc cây điệp già, tim đập thình thịch như trống trận. Anh mặc chiếc áo sơ mi mới nhất (dù đã sờn cổ), tóc chải ngược, cố tạo ra vẻ ngoài của một “Lý Gia Thành” tương lai, dù trong túi anh lúc này rỗng tuếch. “Quý nhân nắm giữ ấn kiếm...” - Câu nói của Mẫu Trầu văng vẳng trong đầu anh.

Đột nhiên, từ trong màn sương, một chiếc xe Honda 67 màu đen trờ tới. Người lái xe mặc bộ cảnh phục màu vàng quen thuộc. Là cô Sương. Nhưng hôm nay, cô không đứng trên bục chỉ huy. Chiếc xe của cô chao đảo rồi chết máy ngay giữa ngã tư vắng vẻ. Cô loay hoay đạp cần khởi động, mồ hôi lấm tấm trên trán.

- Cô Sương! Xe hư hả? Để tui coi cho! – Bảy Phụng lấy làm lạ, không biết sao cô công an lại xuất hiện đúng lúc này, nhưng vẫn lao ra để xem giúp.

Cô Sương ngẩng lên, nhận ra gã “Bảy Khùng” lái xe lôi mấy bữa trước. Ánh mắt cô thoáng chút đề phòng, nhưng rồi dịu lại khi thấy vẻ chân thành (và bộ dạng chải chuốt vụng về) của anh.

- Anh biết sửa xe không đó? Hay lại phá banh xe tôi? - Cô hỏi, giọng đã bớt phần sắc lạnh.

- Tui dân chạy xe lôi mà. Cái gì tui hông biết sửa! - Bảy Phụng cười hề hề, tay chân thoăn thoắt kiểm tra bugi. Chỉ vài phút sau, tiếng máy xe nổ giòn tan.

Cô Sương nhìn anh, mỉm cười - một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt vốn quen với sự nghiêm nghị. Nụ cười ấy, trong khoảnh khắc, đã làm tan chảy lớp băng giá giữa “kẻ vi phạm” và “người thi hành luật”.

- Cảm ơn anh Bảy. Sớm nay anh không đi chở hàng sao?

- Dạ không. Hôm nay tui đi... tìm vợ. - Bảy Phụng buột miệng nói, rồi mặt đỏ bừng.

Cô Sương bật cười khúc khích:

- Khùng quá cha nội! Tìm vợ giờ này ai mà bán?

Cuộc đối thoại đang vui vẻ thì bỗng dưng, không gian xung quanh như đặc quánh lại. Gió ngừng thổi. Tiếng xe cộ xa xa dường như tắt lịm.

Một bà lão bán vé số, dáng người nhỏ thó, mặc bộ bà ba nâu sờn rách, đội chiếc nón lá sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt, lững thững đi ngang qua hai người. Bà đi rất chậm, nhưng bước chân nhẹ bẫng như không chạm đất.

Khi đi ngang qua Bảy Phụng, bà lão dừng lại. Bảy Phụng định rút túi (dù không có tiền) để mua ủng hộ, nhưng bà lão không chìa xấp vé số ra. Bà khẽ nâng vành nón lên. Trong bóng mờ dưới vành nón, Bảy Phụng không nhìn rõ mặt, chỉ thấy đôi mắt sáng quắc như sao đêm.

- Tăng Minh Phụng! - Giọng bà lão vang lên, trầm đục và uy nghi, y hệt giọng Mẫu Trầu đêm hôm trước ở Non Bồng. Bảy Phụng rùng mình, lông tóc dựng ngược. Anh đứng chết trân.

- Ta đã mượn dây tơ hồng, cột chân con với người này rồi. - Bà lão hất hàm về phía cô Sương đang lúi húi chỉnh gương xe, dường như cô Sương không hề nghe thấy giọng bà, cũng không cảm nhận được sự hiện diện kỳ dị này.

- Nữ này là chìa khóa mở kho tiền thiên hạ cho con. Hãy trân trọng người ta.

Rồi giọng bà lão đanh lại, lạnh như băng:

- Nhưng nhớ lời thề ở Non Bồng. Con chỉ là Thủ kho của Trời Phật. Con cầm tiền tỷ, nhưng tiền đó là để cứu nhân độ thế. Nếu con tham lam, muốn làm vua một cõi, thì ngã tư này chính là nơi con bắt đầu, và cũng là nơi con kết thúc. Lúc đó, đừng hỏi sao Mẹ không báo trước!

Nói xong, bà lão hạ vành nón xuống, tiếp tục bước đi, miệng rao lầm bầm: “Vé số chiều xổ đây... Giàu sang đổi vận đây...”

Bảy Phụng bàng hoàng tỉnh lại. Anh quay sang nhìn cô Sương, cô vẫn đang cười nói gì đó, hoàn toàn không biết vừa có một “cuộc giao dịch tâm linh” diễn ra ngay bên cạnh.

- Cô Sương, chờ tui xíu! - Bảy Phụng vùng chạy đuổi theo bà lão bán vé số. Bóng bà lão đã đi khuất sau ngã rẽ. Anh chạy thục mạng, đến nơi thì thấy bà đang đứng lơ ngơ ở góc đường. Bảy Phụng lao tới, nắm lấy vai bà, lay mạnh:

- Mẹ! Mẹ ơi! Con xin nghe lời! Mẹ dạy thêm cho con...

Bà lão quay lại. Chiếc nón lá rơi xuống đất. Đó là một khuôn mặt già nua, nhăn nheo, đôi mắt đục ngầu, miệng móm mém cười ngờ nghệch, nước dãi chảy ra mép. Không hề có chút thần thái uy nghi nào của Mẫu Trầu ban nãy.

- Mua vé số hông chú? Mua đi, sáng mua chiều trúng độc đắc... - Bà lão chìa xấp vé số nhàu nát ra, giọng run rẩy, phàm tục.

Bảy Phụng buông tay ra, lùi lại vài bước. Anh hiểu rồi. Mẫu Trầu đã “mượn xác” bà lão trong giây lát để truyền tin, rồi Ngài đã đi rồi. Anh đứng đó, giữa ngã tư Bình Thới, mồ hôi vã ra như tắm. Trong túi anh không có tiền mua vé số, nhưng anh biết, anh vừa trúng giải độc đắc lớn nhất cuộc đời mình. Và cái giá phải trả cho giải độc đắc đó, cũng khủng khiếp không kém.

Bảy Phụng quay lại chỗ cô Sương. Ánh mắt anh lúc này không còn là ánh mắt của gã trai si tình nữa. Đó là ánh mắt của một kẻ đã ký khế ước với Thần linh.

- Cô Sương, sáng nay tui mời cô ăn hủ tiếu gõ nha. Tui muốn kể cô nghe về giấc mơ Lý Gia Thành của tui. – Cô Sương nhìn anh, rồi gật đầu. Và thế là, bánh xe định mệnh bắt đầu lăn. Cũng chính từ người vợ hiền này – cô cảnh sát ngày nào cũng biên phạt anh, lại là người hậu phương cho sự nghiệp tuyệt đỉnh sau này của đại gia Tăng Minh Phụng.

Không rõ cô Sương rồi sẽ giúp người chồng tương lai ra sao? Và số phận Tăng Minh Phụng sẽ gặp khúc rẽ ngoạn mục như thế nào? Xem Phần 2 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Người đời thường lầm tưởng “Cầu được ước thấy” là Phước đức. Sai lầm. Phước đức là thứ bạn đã tích lũy từ trước (như tiền tiết kiệm). Khi bạn cầu xin một thứ vượt quá Phước đức hiện có (như Bảy Phụng cầu làm tỷ phú khi đang chạy xe lôi), Thần linh (hoặc Thực thể siêu nhiên) sẽ cấp cho bạn một khoản Tín dụng (Credit). Đây là hành động “Mượn lộc tương lai”. Bạn lấy may mắn của 10 kiếp sau dồn vào kiếp này. Hoặc bạn lấy sức khỏe/tuổi thọ của mình ra thế chấp. Đây là một Hợp đồng phái sinh (Derivative Contract) với đòn bẩy cực cao. Tài sản thế chấp không phải sổ đỏ, mà là Sinh mệnh và Gia đạo. Lãi suất rất cao. Trong trường hợp Tăng Minh Phụng, lãi suất là 70% (làm ra 10 đồng phải trả lại đời 7 đồng). Tại sao gọi là “vay nặng lãi”? Vì “chủ nợ” (Thế lực siêu nhiên) nắm quyền định đoạt tuyệt đối. Khi “con nợ” vi phạm điều khoản, cơ chế thanh lý hợp đồng được kích hoạt ngay lập tức. Cái chết của Tăng lão gia không chỉ là án tử hình pháp lý. Đó là sự thu hồi nợ gốc lẫn lãi của vũ trụ. Ông ra đi tay trắng (quần xà lõn) vì ông đã bị “siết nợ” toàn bộ tài sản trần gian để trả cho món nợ tâm linh khổng lồ kia. Trong giai thoại kể rằng Mẫu đã cảnh báo số của Bảy Phụng là sao Phá Quân, trong Tử Vi Đẩu Số, sao Phá Quân thuộc Bắc Đẩu Tinh, hành Thủy. Nó là “Hao Tinh” (Sao hao tán) và là “Hung Tinh” (Sao dữ). Nó tượng trưng cho Tướng quân đi đầu trong trận mạc. Tăng Minh Phụng chính là hiện thân sống động nhất của Phá Quân. Phá Quân đi đến đâu, cái cũ nát tan tành đến đó. Nó đập bỏ trật tự cũ để xây dựng trật tự mới. Tăng gia đã “đập bỏ” tư duy làm ăn cò con, manh mún thời bao cấp. Ông xây dựng mô hình tập đoàn, khu công nghiệp hiện đại. Người đi tiên phong luôn là người hứng nhiều tên đạn nhất. Phá Quân không bao giờ được hưởng thụ thành quả bình yên. Nhiệm vụ của nó là khai hoang. Khai hoang xong thì nó... tử (hoặc đi chỗ khác), để lại đất đai màu mỡ cho người sau (các đại gia bất động sản hiện nay) hưởng. Người mang số Phá Quân là những Cảm tử quân của Lịch sử. Họ bắt buộc phải sai lầm, bắt buộc phải ngã ngựa, để xã hội học được bài học và tiến lên.

Nguồn QUYHOCFAQ
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 2): KHẾ ƯỚC ÔNG TÁO VÀ CUỘC CHẠM TRÁN ĐỊNH MỆNH TẠI CHỢ LỚN

QUYHOCFAQ


Sau cái buổi sáng định mệnh ở ngã tư Bình Thới ấy, cuộc đời Bảy Phụng rẽ sang một hướng mà chính những người viết kịch bản táo bạo nhất ở Chợ Lớn cũng không dám nghĩ tới.



Người ta thấy gã “Bảy Khùng” không còn chạy xe lôi chở dép nhựa đi bán dạo nữa. Thay vào đó, mỗi buổi chiều, Bảy Phụng tắm rửa sạch sẽ, mặc cái áo sơ mi ủi phẳng phiu, đạp xe đến trước cổng đồn Công an Quận 11 để đón cô Sương. Ban đầu, đồng đội của cô Sương xì xầm bàn tán:

- Cái thằng cha người Tiều chạy xe lôi hay bị phạt đó mà, chắc lại tính năn nỉ xin xỏ gì đây.

Nhưng không, họ thấy cô Sương leo lên sau xe Bảy Phụng, nụ cười e ấp nhưng ánh mắt thì kiên định lạ thường.

Cuối năm 1987, một đám cưới diễn ra. Không rình rang kèn trống, không xe hoa lộng lẫy, nhưng mâm cỗ hôm đó lại có mặt những nhân vật khiến cả khu Chợ Lớn phải kiêng dè. Bàn tiệc được chia làm hai nửa rõ rệt. Những người đàn ông mặc áo đại cán, nói giọng Bắc trầm ấm, những vị chỉ huy trong ngành công an... họ đến vì nể mặt cô dâu. Người ta đồn rằng, cô Sương không chỉ là một nữ cảnh sát bình thường. Sau lưng cô là cái bóng của những “cây đại thụ” trong chính trường miền Nam thời bấy giờ, những người coi cô như con cháu trong nhà. Bên kia là những người đàn ông Hoa kiều trầm mặc, nói tiếng Triều Châu, tiếng Quảng Đông xì xào, tay đeo nhẫn ngọc bích, ánh mắt sắc sảo như dao cạo – đó là “nhà trai”, đại diện cho bang hội Triều Quảng.

Tuần trăng mật chưa qua, Bảy Phụng đã biến mất vào những con hẻm sâu hút của Quận 11. Anh không đi chơi. Anh đi “huy động vốn”. Dù có vợ làm công an, nhưng ngân hàng nhà nước thời đó chưa có cơ chế cho tư nhân vay tiền tấn để mở xưởng. Bảy Phụng phải tìm về cội nguồn: Bang hội Triều Châu.

Tại một gian phòng kín phía sau Thất Phủ Miếu (nơi thờ các vị tổ nghề người Hoa), Bảy Phụng quỳ trước mặt các “Chú Ba”, “Chú Thím” – những trưởng lão nắm giữ túi tiền của cả khu Chợ Lớn.

- Ngộ muốn chuyển nghề. Không làm dép nhựa nữa. Ngộ muốn làm may mặc. – Bảy Phụng nói, trán lấm tấm mồ hôi. Một lão gia vuốt râu, hỏi:

- May mặc cần máy móc, cần nhà xưởng lớn. Tiền đâu nị làm? Mà bán cho ai?

- Bán cho Tây! – Bảy Phụng đáp gọn lỏn:

- Vợ ngộ lo được cái giấy phép xuất đi Đông Âu. Bên đó đang lạnh, đang thiếu quần áo. Chỉ cần có hàng là có tiền rúp với đô-la. Ngộ cần các chú hùn vốn. Ngộ lấy cái mạng này ra thế chấp.

Không khí im lặng như tờ. Trong giới làm ăn người Hoa, chữ Tín quý hơn vàng. Một tờ giấy nợ viết tay có giá trị hơn cả trăm hợp đồng công chứng. Các lão gia nhìn nhau. Họ nhìn thấy sau lưng Bảy Phụng không chỉ là cô vợ công an quyền lực, mà còn là một cái “vận” đang lên hừng hực. Họ ngửi thấy mùi tiền.

- Được! Bang hội sẽ lập một dây “hụi chết” cho nị. 40 người đứng tên vay, gom tiền đưa nị làm vốn. Nhưng nhớ kỹ, nị mà gãy gánh, là cả cái Chợ Lớn này sụp theo. Lúc đó đừng trách luật giang hồ.

Bảy Phụng dập đầu tạ ơn. Khi anh bước ra khỏi miếu, bóng anh đổ dài trên sân gạch dưới ánh trăng. Người ta nói, cái bóng đó không giống người thường, nó gù gù, lưng cõng một cái bao tải nặng trĩu, y hệt dáng dấp của Ông Táo đang gánh củi về trời. Khế ước 7/3 đã bắt đầu vận hành: Anh vay của trần gian, nhưng người bảo lãnh là Thần linh. 40 cái tên đã ký vào tờ giấy bảo lãnh cho Bảy Phụng. Họ là ai? Họ không phải là những cái tên xuất hiện trên báo. Họ là những ông chủ vựa vải Soái Kình Lâm, những trùm vận tải bến Bình Đông, và đặc biệt là nhóm “Ngũ Bang” (5 bang hội lớn: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Khách Gia). Trong đó, có sự hậu thuẫn ngầm của gia tộc họ Trầm/Thẩm (vốn nổi danh về buôn bán gỗ và chế biến lâm sản lúc bấy giờ) và nhóm thương nhân gốc Hoa đang nắm giữ nguồn nguyên liệu dệt may nhập lậu từ biên giới.

Tại sao họ chọn Phụng? Vì Bảy Phụng là người Tiều (Triều Châu) – nhóm người đoàn kết và liều lĩnh nhất trong cộng đồng Hoa kiều. Và quan trọng hơn, Bảy Phụng có “lá bùa hộ mệnh” là cô Sương. Các lão gia Chợ Lớn tính toán rất nhanh:

- Thằng Phụng có gan, vợ nó có quan hệ. Đổ tiền cho nó là đổ tiền mua một con đường máu để hàng hóa của bang hội được hợp thức hóa xuất đi Tây.

Có tiền của bang hội, Bảy Phụng mua đứt những lô máy may cũ từ các xí nghiệp nhà nước giải thể, thuê thợ về sửa lại. Năm 1988, biển hiệu “Tổ hợp May Minh Phụng” chính thức được treo lên. Từ bỏ nghề dép nhựa lấm lem, Bảy Phụng chuyển sang làm may mặc. Tại sao lại là may mặc? Vì Đông Âu và Liên Xô đang “đói” hàng. Với sự mách nước của vợ và mạng lưới quan hệ ngầm, Bảy Phụng biết rằng: Chỉ cần có hàng, xuất đi là có tiền, mà là tiền rouble chuyển đổi, tiền dollar. Tiếng máy may chạy rào rào như mưa rào suốt ngày đêm tại các phân xưởng ở Lạc Long Quân. Thế là, hàng tấn vải vóc, chỉ may, phụ liệu được các “Chú Ba, Thím Sáu” ở Chợ Lớn bơm chịu (trả chậm) cho Minh Phụng. Nhà xưởng Minh Phụng sáng đèn 24/7, tiếng máy may át cả tiếng mưa.

Và cũng may mắn làm sao, từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, nhưng ranh giới giữa “tư bản tư nhân” và “bóc lột” còn rất mong manh. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm thế thượng phong. Tăng Minh Phụng bị soi mói, bị các đoàn kiểm tra liên ngành ghé thăm liên tục. Có lúc tưởng chừng như bị niêm phong nhà xưởng vì quy mô quá lớn so với quy định. Đúng lúc dầu sôi lửa bỏng, một chiếc xe Volga đen bóng dừng trước cổng xưởng may ở Lạc Long Quân. Người bước xuống xe là một ông già dáng người quắc thước, nụ cười hào sảng, mặc chiếc áo sơ-mi cộc tay giản dị. Đó là Cụ Sáu, “kiến trúc sư trưởng” của nền kinh tế thị trường.

Sự xuất hiện của Cụ Sáu không phải ngẫu nhiên. Trước đó, trong những bữa cơm thân mật tại tư gia, cô Sương – với tư cách là đứa cháu nghĩa tình – đã khéo léo kể về tâm huyết của chồng:

- Ảnh làm ngày làm đêm, chỉ mong tạo việc làm cho dân nghèo Quận 11, mang ngoại tệ về cho Ba Sáu xây dựng đất nước.

Cụ Sáu, người vốn trọng thực tiễn, ghét lý thuyết giáo điều, đã quyết định “vi hành”.

Cụ đi dạo quanh xưởng, nhìn hàng ngàn công nhân đang hăng say làm việc, nhìn những container hàng xuất khẩu xếp lớp. Cụ gật đầu, vỗ vai Tăng Minh Phụng:

- Làm ăn thế này là tốt! Tư nhân hay nhà nước không quan trọng, miễn là mèo trắng hay mèo đen bắt được chuột là mèo tốt – trước đây tôi nghe ông Đặng Tiểu Bình từng nói thế. Chú cứ mạnh dạn mà làm, có gì khó khăn cứ báo cáo.

Cái vỗ vai ấy đã được các phóng viên tháp tùng chụp lại. Sáng hôm sau, bức ảnh Cụ Sáu thăm xưởng Minh Phụng xuất hiện trên trang nhất các báo lớn.

Hiệu ứng của cái vỗ vai đó diệu kỳ hơn bất kỳ văn bản pháp lý nào. Giới quan chức và ngân hàng rỉ tai nhau:

- Thằng Phụng là người của Cụ Sáu. Đừng có dại mà đụng vào.

Với tư cách là người nhà của “Ông Lớn”, cộng với sự khôn khéo của một người vợ hiền, cô Sương đi gõ cửa từng cơ quan Thương nghiệp, từng Cục Xuất nhập khẩu.

- Các anh giúp cho anh Bảy nhà em. Ảnh làm ăn đàng hoàng, tạo công ăn việc làm cho mấy ngàn người lao động nghèo. Hàng này xuất đi trả nợ cho nước bạn, là làm đẹp mặt đất nước.

Những tờ giấy phép Quota (Hạn ngạch) quý hơn kim cương được ký duyệt. Những container quần áo gió, áo khoác, đồ bộ của Minh Phụng được thông quan thẳng tiến sang Nga, Tiệp-khắc, Ba-lan. Ở bên kia bán cầu, thị trường Đông Âu đang khát hàng hóa tiêu dùng. Hàng Minh Phụng sang đến đâu, bán hết sạch đến đó. Ngoại tệ chảy ngược về Việt Nam như thác lũ.

Cánh cửa kho bạc nhà nước chính thức mở toang. Tăng Minh Phụng từ chỗ phải vay lãi ngày của bang hội Chợ Lớn, nay đường hoàng bước vào ngân hàng ký những hợp đồng vay ưu đãi hàng triệu đô-la. Ông trả sạch nợ cho bang hội, giữ trọn chữ Tín, khiến vị thế của ông ở Chợ Lớn lên hàng “đại ca”. Ông đóng thuế đầy đủ, tạo việc làm, khiến vị thế của ông ở chính trường lên hàng “Anh hùng lao động”.

Năm 1993, Bảy Phụng không còn là Bảy Phụng xe lôi nữa. Ông là Tăng Minh Phụng – ông vua không ngai của ngành dệt may tư nhân.

Thời điểm đó, người dân Quận 11 bắt đầu rỉ tai nhau về một hiện tượng lạ. Tăng Minh Phụng tiền vô như nước sông Đà, nhưng tiền ra cũng như thác lũ. Ông dường như bị một lực đẩy vô hình nào đó thôi thúc phải... cho tiền đi.

Nhớ lời thề “7 phần cho đời, 3 phần giữ lại” trước anh linh Mẫu Trầu, Bảy Phụng thực hành bố thí một cách điên cuồng. Từ Tổ hợp may Minh Phụng ban đầu giờ đã trở thành Công Ty TNHH may xuất khẩu Minh Phụng. Công nhân trong xưởng may Minh Phụng không chỉ được trả lương cao nhất Sài Gòn, mà hễ nhà ai có tang ma, hiếu hỉ, bệnh tật, ông chủ Bảy đều xuất hiện, tay cầm phong bì dày cộp, dúi vào tay họ mà không cần ký nhận. Những người bạn thuở hàn vi, những đối tác từng giúp đỡ ông dù chỉ một bát cơm, giờ quay lại tìm, ông đều tặng nhà, tặng xe. Giới làm ăn Chợ Lớn gọi ông là “Mạnh Thường Quân tái thế”. Nhưng chỉ có cô Sương, trong những đêm thanh vắng, mới thấy chồng mình ngồi thở dốc, mồ hôi vã ra như tắm sau mỗi lần làm từ thiện.

- Mình à, sao mình cho tiền mà mặt mình sợ hãi vậy?

- Anh không cho đi không được Sương ơi. Tiền này nặng lắm. Anh cảm giác như mình đang cầm những hòn than nóng của Trời. Nếu không chuyền tay cho người khác, nó sẽ đốt cháy tay anh.

Hóa ra, sự hào phóng của Tăng Minh Phụng tất nhiên ngoài lòng tốt ra, còn vì để thực hiện xả năng lượng theo cam kết với đấng siêu nhiên. Ông biết mình đang vay nợ của Quỷ thần, nên ông phải liên tục “trả lãi” cho chúng sinh để cân bằng cán cân âm dương.

Dù cầm trong tay hàng ngàn tỷ đồng, nhưng Bảy Phụng sống như một tu sĩ khổ hạnh giữa chốn phồn hoa. Không rượu chè, không gái gú, bữa trưa thường trực chỉ là ổ bánh mì kẹp thịt hoặc tô bún bò vỉa hè ăn vội cùng tài xế. Người đời bảo ông “diễn”. Nhưng họ không hiểu, với người mang mệnh Phá Quân (Hao tán), việc hưởng thụ vật chất tầm thường không mang lại khoái cảm. Khoái cảm của ông nằm ở những nơi kỳ lạ khác.

Hai địa điểm mà “Ông vua không ngai” này thường lui tới nhất, không phải vũ trường hay sân golf, mà là bàn bida và tiệm hớt tóc.

Tại những CLB Bida kín đáo, người ta thấy Bảy Phụng cầm cơ, mắt nheo lại, nhìn chằm chằm vào những viên bi màu sắc. Ông không chơi để giải trí. Với ông, mặt bàn nỉ xanh kia chính là sa bàn chiến lược. Mỗi cú A-băng (đánh bật băng) là một đường đi nước bước để lách qua khe cửa hẹp của cơ chế. Viên bi cái là dòng tiền, viên bi mục tiêu là những lô đất vàng. Ông tính toán góc độ, lực đẩy, độ xoáy... y hệt như cách ông tính toán việc xoay vòng vốn giữa hàng chục công ty con. Tiếng bi chạm nhau cốp, cốp vang lên khô khốc trong đêm vắng như tiếng gõ cửa của định mệnh. Những người chơi cùng ông kể lại, có những lúc ông đánh một đường cơ tuyệt đẹp, nhưng lại buông gậy thở dài:

- Chạy đằng trời cũng không thoát thế bi này.

Phải chăng, trên bàn bida ấy, ông đã nhìn thấy trước thế cờ “bí” của cuộc đời mình?

Và khi đầu óc căng như dây đàn vì những con số nợ nần, Bảy Phụng tìm đến “thiền viện” của riêng mình: Những tiệm hớt tóc, ráy tai hạng sang ở trung tâm Quận 5. Ông nằm đó, mắt nhắm nghiền, mặc cho người thợ cạo lướt lưỡi dao sắc lạnh trên cổ. Trong văn hóa kinh doanh Sài Gòn xưa, tiệm hớt tóc là “trung tâm tình báo” vỉa hè. Những câu chuyện về quy hoạch, về thay đổi nhân sự, về giá đất lên xuống... trôi nổi trong không gian sực nức mùi dầu gội và phấn rôm. Bảy Phụng nằm im như pho tượng, nhưng đôi tai ông mở to để thu nạp tất cả. Ông “thiền” trong tiếng kéo cắt tóc lách cách. Ông gột rửa bụi trần và áp lực ngàn tỷ bằng những đường ráy tai êm ái. Có lần, người thợ cạo quen thuộc thấy ông chủ Bảy ngủ quên, khóe mắt rỉ ra một giọt nước mắt.

- Xì thẩu ơi xì thẩu (“xì thẩu” trong tiếng người Hoa nghĩa là ông chủ), ông mệt lắm sao?

Bảy Phụng giật mình tỉnh dậy, ánh mắt mờ đục nhìn vào gương. Trong gương, ông không thấy mình. Ông thấy bóng dáng một người đàn ông mặc áo bà ba, tay cầm quạt mo đang đứng sau lưng mỉm cười.

- Ngộ không mệt. Ngộ chỉ đang nghe tiếng đất thở. – Ông đáp, giọng lạc đi.

Những năm tháng yên bình và thịnh vượng đó (năm 1992), ông đang nằm trong tiệm hớt tóc mà trăn trở: Tiền nhiều quá. Tiền từ Đông Âu đổ về, tiền từ Ngân hàng bơm ra. Ông không biết làm gì cho hết. Sản xuất may mặc đã bão hòa. Ông sợ tiền để không sẽ bốc hơi (lạm phát). Và rồi, một ý nghĩ lóe lên, điên rồ và định mệnh. Ông nhìn tấm bản đồ Sài Gòn treo trên tường. Ông không nhìn thấy nhà cửa. Ông nhìn thấy đất. Đất đai đang ngủ yên dưới chân những rừng cao su ở Sông Bé, những bãi sình lầy ở Vũng Tàu. “Phải mua đất! Chỉ có đất mới giữ được tiền của Mẹ!” Tiền mặt thì bốc hơi, hàng hóa thì hư hỏng, chỉ có Đất là vĩnh cửu. Lời nguyền của Mẫu Trầu: “Tài sản 10 phần, giữ 3 phần” đang bị lung lay bởi một ma lực mới. Ma lực của sự sở hữu vĩnh cửu. Ông bước ra khỏi tiệm hớt tóc, nhìn về hướng Đông Bắc của Sài Gòn – nơi có những cánh rừng cao su bạt ngàn.
 
Phụng lặng lẽ rời Sài Gòn hướng về Biên Hòa. Không kèn trống, không cờ phướn, nhưng sức nặng của đoàn xe ấy khiến mặt đường nhựa lún xuống. Trong cốp xe không phải là hành lý, mà là những bao tải tiền mặt được cột chặt bằng dây thun, mùi giấy bạc mới in nồng nặc đến mức những con chim sẻ đậu trên dây điện ven đường cũng phải hắt hơi. Bảy Phụng đưa vợ con về Quan Âm Tu Viện. Ông về để thực hiện một cuộc giao dịch sòng phẳng nhất cuộc đời mình: Trả lãi cho Thần linh.

Ngôi chùa nằm tĩnh lặng dưới bóng những cây cổ thụ trăm năm, nơi hương khói không bao giờ dứt. Bảy Phụng quỳ xuống trước bảo tháp của Mẫu Trầu, cái lưng gù gù của ông run lên bần bật. Ông không khấn xin giàu sang nữa, vì ông đã quá giàu. Ông khấn xin sự bình an.

- Mẹ ơi, con mang tiền về trả cho đời. Con xin quy y cửa Phật, xin Mẹ nhận con làm đệ tử, để con bớt nặng lòng.

Vị trụ trì đương nhiệm nhìn người đàn ông đang quỳ mọp dưới chân mình, nhìn thấy sau lưng ông ta không phải là hào quang, mà là một ngọn núi lửa đang chực chờ phun trào. Sư thầy đặt tay lên vai Bảy Phụng, giọng trầm buồn như tiếng chuông chiều:

- Thầy ban cho anh pháp danh Minh Lưu. “Minh” là trí tuệ sáng suốt. “Lưu” là dòng nước chảy, là sự lưu thông. Thầy chỉ dặn anh, tiền bạc cũng như dòng nước. Nước tụ lại một chỗ là nước chết, nước phải chảy mới là nước sống. Anh muốn giàu bền vững, đồng tiền của con phải lưu thông không ngừng. Nhập vào rồi phải xuất ra, có vay thì phải có trả, có nhận thì phải có cho. Chữ “Lưu” này sẽ giúp dập tắt ngọn lửa tham vọng thiêu đốt trong anh.

Nhưng rồi, sư thầy hạ giọng, nói thêm một câu mà lúc đó Bảy Phụng vì quá hân hoan nên đã không suy ngẫm kỹ:

- Cơ mà anh hãy nhớ: “Thủy năng tải chu, diệc năng phúc chu”. Nước có thể nâng thuyền, nhưng nước cũng có thể lật thuyền. Dòng chảy mà xiết quá thì thành lũ lụt cuốn trôi hết láng. Giữ cho dòng nước ấy bình lặng, chớ nên tạo sóng dữ.

Bảy Phụng nghe chữ “lưu thông” thì như mở cờ trong bụng. Với đầu óc của một doanh nhân, ông hiểu đó là Dòng Tiền. Ông tin rằng Thần Phật đang ủng hộ triết lý kinh doanh “xoay vòng vốn” của mình. Ông lạy tạ ba lạy, nước mắt rưng rưng vì xúc động, tin rằng mình đã nắm được bí quyết thiên cơ.

Ông không ngờ rằng, chữ “Lưu” ấy sau này lại vận vào đời ông theo cách tàn khốc nhất: Dòng tiền chảy quá nhanh, quá mạnh, biến thành cơn đại hồng thủy nhấn chìm cả đế chế Minh Phụng và Epco vào ngục tối.

Từ hôm đó, Tăng Minh Phụng chính thức trở thành đệ tử dòng Non Bồng. Ông đổ tiền vào xây dựng cô nhi viện, trường học, trạm xá. Ông điên cuồng làm từ thiện như một kẻ đang tát nước ra khỏi con thuyền đang bị rò rỉ. Nhưng lạ thay, ông càng tát nước ra, tiền lại càng chảy vào mạnh hơn. Những lô đất ông mua chơi chơi ở ngoại ô bỗng dưng tăng giá gấp mười, gấp trăm lần sau một đêm quy hoạch. Đất đai như có linh hồn, chúng sinh sôi nảy nở, chúng bò vào giấc ngủ của ông, đòi ông phải mua thêm, mua thêm nữa.

Và để nuôi nấng “bầy thú đất đai” háu đói ấy, dòng tiền từ xưởng may là không đủ. Bảy Phụng cần một nguồn năng lượng hạt nhân. Ông cần một người biết cách biến những tờ giấy A4 thành hàng triệu đô-la.

Đúng lúc Bảy Phụng đang loay hoay giữa núi vàng và bùn lầy, thì ở Quận 3, trong một tòa nhà văn phòng máy lạnh chạy vo vo, có một người đàn ông khác đang ngồi nhìn qua cửa kính, ngắm nhìn dòng người hối hả.

Đó là Liên Khui Thìn. Khác hẳn với vẻ phong trần, xắn tay áo của Bảy Phụng, Liên Khui Thìn là hiện thân của giới trí thức mới. Ông người Khánh Hòa, dáng vẻ thư sinh, đeo kính trắng, nói chuyện nhẹ nhàng như một giáo sư đại học. Ông là Giám đốc Epco – một công ty TNHH nhưng mang trong mình “dòng máu xanh” của Quận 3, nắm giữ những giấy phép xuất nhập khẩu quyền lực nhất và mối quan hệ trực tiếp với các ngân hàng quốc tế.

Thìn không biết may áo. Nhưng Thìn biết cách vẽ ra những ma trận tài chính. Thìn biết cách biến một con tàu chở phân bón đang lênh đênh trên biển thành một tấm séc bảo lãnh trị giá triệu đô ngay khi nó chưa cập cảng. Thìn là một “kiến trúc sư của những con số”.

Một ngày nọ, Bảy Phụng cần nhập một lô máy móc thiết bị khổng lồ từ Nhật Bản để mở rộng xưởng, nhưng hạn mức ngoại tệ của ông đã cạn. Ngân hàng lắc đầu. Trong cơn bí bách, một người quen trong giới ngân hàng – Phạm Nhật Hồng – đã ghé tai ông:

- Anh muốn có Đô-la, anh phải tìm đến Epco. Tìm gặp anh Thìn. Chỉ có cái đầu của anh Thìn mới giải được bài toán này.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tại trụ sở Epco. Bảy Phụng bước vào, mang theo cái nóng hầm hập và mùi mồ hôi của Quận 11 vào văn phòng lạnh lẽo của Quận 3. Ông đặt lên bàn một ổ bánh mì thịt dở dang và một xấp hồ sơ đất đai dày cộp.

- Ngộ có đất. Ngộ có xưởng. Ngộ có hàng ngàn công nhân. Nhưng ngộ thiếu tiền mặt để xoay. Anh giúp ngộ, ngộ sẽ không để anh thiệt.

Liên Khui Thìn nhìn người đàn ông đối diện. Thìn không nhìn thấy ổ bánh mì. Thìn nhìn thấy năng lượng. Thìn là người thông minh, và người thông minh thường bị thu hút bởi những kẻ liều lĩnh. Thìn nhận ra Tăng Minh Phụng chính là mảnh ghép còn thiếu của mình. Epco có cơ chế, có hạn mức tín dụng, nhưng thiếu một “cơ thể sống” khổng lồ để dòng tiền lưu thông. Minh Phụng chính là cơ thể đó.

- Anh Phụng, đất của anh là đất chết nếu nó nằm im. – Thìn đẩy gọng kính, ánh mắt lóe lên một tia sáng sắc sảo.

- Nhưng nếu chúng ta đưa nó vào ngân hàng, nó sẽ thành vàng ròng. Tôi có cách để ngân hàng định giá lô đất ruộng của anh thành đất khu công nghiệp. Chúng ta sẽ dùng tiền đó để nhập hàng, rồi dùng hàng để thế chấp mua đất tiếp.

- Làm vậy có sao không? – Bảy Phụng hỏi, bản năng của người nông dân trỗi dậy.

- Không sao cả. – Thìn mỉm cười, nụ cười của một nhà ảo thuật.

- Cả thế giới này vận hành bằng nợ. Miễn là chúng ta trả được lãi, thì nợ chính là tài sản. Hai ta hợp lại thì đất của cả miền Nam này sẽ nằm trong túi tụi mình.

Cứ như thế, hai gã đàn ông rất hăng máu và say mưa, cầm trên tay ổ bánh mì thịt 1.000 đồng và thảo luận về những câu chuyện tỷ đô. Cái bắt tay hôm đó giữa Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn không chỉ là sự hợp tác kinh doanh. Đó là sự va chạm giữa hai thiên thạch. Một bên là Hỏa (Minh Phụng – Lửa nhiệt huyết, sản xuất), một bên là Thủy (Liên Khui Thìn – Dòng chảy tài chính, mưu lược). Theo lý thuyết Ngũ hành, Thủy khắc Hỏa. Nhưng nếu Thủy và Hỏa gặp nhau ở nhiệt độ cực điểm, chúng sẽ tạo ra Hơi nước – thứ năng lượng đẩy cỗ máy hơi nước chạy với tốc độ kinh hoàng.

Và cỗ máy Minh Phụng–Epco bắt đầu lăn bánh, nghiền nát mọi quy tắc an toàn của hệ thống ngân hàng thời bấy giờ, lao vun vút về phía vực thẳm với tốc độ của ánh sáng. Thời gian không được đo bằng giờ, mà bằng tốc độ của những chữ ký. Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn đã thiết lập một “Nhà kính vạn hoa”. Họ đặt một lô đất vào giữa, rồi dựng lên hàng chục tấm gương xung quanh. Mỗi tấm gương là một “Công ty con”. Lô đất phản chiếu qua gương này sang gương khác, mỗi lần phản chiếu, giá trị của nó lại tăng lên gấp đôi, gấp ba. Ngân hàng nhìn vào, lóa mắt bởi ánh hào quang ảo ảnh ấy, và họ mở kho tiền. Để mở được cánh cửa kho bạc Nhà nước, họ cần một “người gác cổng” biết cách làm mù mắt các quy trình kiểm soát. Đó là lúc Phạm Nhật Hồng – Giám đốc Incombank (tiền thân của VietinBank) chi nhánh TP.HCM – bước ra từ màn sương.

Không ai biết chính xác giữa Liên Khui Thìn và Phạm Nhật Hồng, Tăng Minh Phụng quen biết ai trước, nhưng chắc chắn trước đó họ đều biết đến lẫn nhau, cho đến khi ngồi chung bàn “liên minh sinh tử”. Có người nói họ gặp nhau trong một bữa tiệc “rửa tiền” (nghĩa đen: những đồng tiền cũ nát được đổi thành tiền mới) tại một biệt thự kín cổng cao tường ở Quận 3. Phạm Nhật Hồng, người nắm giữ chìa khóa của kho vàng quốc gia, nhìn thấy ở hai người đàn ông này một sức hấp dẫn chết người. Một kẻ có cơ chế (Thìn), một kẻ có lực lượng (Phụng).

- Tôi không thể cho các anh vay tiền để buôn đất. Luật cấm. – Hồng nói, giọng lạnh băng.

- Chúng tôi không vay tiền buôn đất. – Liên Khui Thìn mỉm cười, đặt lên bàn một tập hồ sơ dày cộp.

- Chúng tôi vay tiền để mua “tư liệu sản xuất”. Những mảnh đất sình lầy kia, qua lăng kính của tôi, sẽ trở thành những nhà máy, những khu công nghiệp tương lai. Anh không giải ngân cho đất, anh giải ngân cho giấc mơ công nghiệp hóa.

Phạm Nhật Hồng nhìn vào mắt Tăng Minh Phụng. Ông thấy trong đó ngọn lửa của một tín đồ cuồng tín. Một kẻ dám thế chấp cả mạng sống cho giấc mơ. Và Hồng đã gật đầu. Cái gật đầu ấy đã biến Phạm Nhật Hồng từ một cán bộ ngân hàng mẫn cán thành một nhà giả kim. Ông biến những bãi đất hoang giá trị 1 đồng thành tài sản thế chấp giá trị 10 đồng trên giấy tờ. Những tờ giấy A4 đóng dấu đỏ chót bay ra khỏi ngân hàng, hóa thành những dòng thác tiền mặt chảy vào túi Minh Phụng và Epco.

Nhưng để vận hành ma trận mua bán lòng vòng nhằm nâng khống giá trị đất đai, ba người họ không thể làm một mình. Họ cần những con rối. Những con rối biết ký tên và không biết hỏi. Tăng Minh Phụng lôi người em trai ruột thịt – Tăng Bình Trọng – ra khỏi bóng tối bình yên. Liên Khui Thìn gọi người em trai – Liên Khôi Dương – vào cuộc chơi.

Hai người em trai ấy, Trọng và Dương, giống như những cái bóng của hai người anh khổng lồ. Họ được đặt vào ghế Giám đốc của hàng chục “Công ty Ma” – những công ty chỉ có cái biển hiệu và con dấu. Hàng ngày, công việc duy nhất của họ là ký. Ký mỏi tay. Ký đến mức mực bút bi hòa lẫn với mồ hôi chảy xuống mặt bàn. Họ ký hợp đồng mua bán khống: Công ty A của em Phụng bán miếng đất cho Công ty B của em Thìn, rồi Công ty B bán lại cho Công ty C... Mỗi lần bán, giá đất lại tăng lên một nấc thang, và ngân hàng lại bơm thêm tiền.

Trọng và Dương sống trong sợ hãi. Trong những giấc mơ, họ thấy mình bị chôn vùi dưới núi giấy tờ. Nhưng họ không thể dừng lại. Họ bị trói buộc bởi huyết thống và lòng trung thành của gia tộc. Họ là những con tốt thí trên bàn cờ của các ông anh.

Còn cô Sương vợ Bảy Phụng? Bà ngồi ở vị trí “thủ kho”, tay nắm chặt chùm chìa khóa két sắt. Bà nhìn thấy dòng tiền chảy vào ồ ạt, nhưng bà cũng ngửi thấy mùi khét của sự hủy diệt. Bà cố gắng dùng những mối quan hệ chính trị cũ của mình để che chắn, để “đỡ đạn” cho chồng mỗi khi có đoàn thanh tra. Nhưng tốc độ của cỗ xe Minh Phụng quá nhanh, nhanh đến mức không một chiếc ô dù nào có thể che chắn nổi. Bà trở thành người phụ nữ hậu phương lặng lẽ, gom góp từng đồng lẻ để lo cho mai sau.

Tăng Minh Phụng hầu như không bao giờ nhúng tay vào cờ bạc, rượu chè, gái gú, ngay cả người vợ của ông càng tin chắc điều đó hơn, và người bạn Liên Khui Thìn dĩ nhiên cũng biết. Ông dồn hết dục năng của bản thân vào kiếm tiền và làm giàu, có tiền, ông lại vung ra không tiếc tay để tưởng thưởng cho nhân viên và những người xung quanh. Ai cũng cảm kích và gọi ông như một “nhà từ thiện hơn là doanh nhân”. Khi gần kết thúc một năm 1993 với thắng lợi quá giòn giã, Tăng Minh Phụng chiêu đãi vợ con và những người anh em của mình một bữa tiệc ra trò trong bầu không khí của một nơi đặc quánh mùi vịt quay, mùi nhang trầm và mùi của những toan tính – Tửu lầu Ái Huê. Giữa lúc ông nâng ly cùng mọi người, thì có một người phụ nữ tay cầm một ly rượu Mao đài đến bàn của ông để chúc mừng:

- Phụng Thất ca, mừng ca làm ăn phát tài.

Ông nhận ra người đàn bà này. Họ cùng khởi nghiệp từ vải vóc, nhưng con đường đi đã rẽ lối.

- A Muội, nghe nói muội bỏ nghề vải, chuyển sang làm nhà hàng, khách sạn rồi hỉ?

Ông ngó thấy A Muội mặc chiếc sườn xám màu huyết dụ, cổ đeo chuỗi ngọc trai trắng muốt. Khác với Tăng Minh Phụng mồ hôi nhễ nhại, bà ngồi đó, khô ráo, lạnh lẽo và tĩnh lặng như một con rắn hổ mang đang cuộn mình. Bên cạnh bà là một người đàn ông lạ mặt, nói tiếng Quảng Đông pha lẫn tiếng Anh, dáng vẻ phong lưu, tay nâng ly bia vàng óng sủi bọt trắng xóa.

- Chắc Thất ca cũng biết, muội đã có con đường đi riêng rồi. (Chỉ về phía người đàn ông) Nay muội có dẫn theo phu quân, ảnh mới từ Đức Quốc về Hồng Kông rồi đáp chuyến bay sang đây, mới từ phi trường về là vội qua đây dự tiệc trà với mấy trưởng lão bang hội và chúc mừng đại ca đó. Phu quân của em mới ký được hợp đồng làm ăn lớn, nhập sỉ Bia Đức tươi về Sài Gòn đó nha. – A Muội cười khanh khách.

- Wao, định phân phối thiết bị nhà hàng và bia cho cả Sài Gòn. Huynh muội mình tâm ý lớn gặp nhau rồi đó.

- Phải, hihi, vải vóc chỉ để che thân. Còn “chỗ đứng” mới là thứ thiên hạ cần. Phải không đại ca ha?

Vị đại gia Hồng Kông kia cũng bước lại, nói bằng giọng lơ lớ:

- Nice to meet you! Mr. Phụng! “Ngó-măn-léi anh hóu-nòi hóu-lấu” (Tôi nghe danh anh đã lâu rồi). Néi mái kò su lam chòi-mat? Chòng syù à? (Anh mua rừng cao su để làm gì? Trồng cây sao?).

- M̀-hài. Ngó wúi téng lam pìn sì sị. Ngó wúi kìn dāi-dāi ge gung-yìp kêu hài Đông-nam-a chōi yāt (Không. Tôi sẽ biến rừng thành thành phố. Tôi sẽ xây những khu công nghiệp lớn nhất Đông Nam Á). – Bảy Phụng nói đầy tự hào.

- Thật đáng mặt trượng phu Á châu! Anh xây thành phố ở trong rừng, anh phải đợi 10 năm người ta mới đến. Còn vợ chồng tôi, chúng tôi dự định mua những căn nhà nát ở đường Nguyễn Huệ, Đồng Khởi. Chúng tôi đập đi xây lại. Ngày mai mở cửa, khách đã đứng xếp hàng đầy đường. Anh buôn tương lai, còn chúng tôi buôn hiện tại. – Vị đại gia cười khẩy với nụ cười sắc như dao cạo.
 
Câu nói đó như một gáo nước lạnh tát vào mặt Phụng.

Sau bữa tiệc là đến bữa trà, các vị trưởng lão của bang hội đang ngồi bàn chuyện với nhau. Một vị Trưởng lão già nhất, tay mân mê quân cờ mạt chược, cất tiếng:

- A Phụng, nị vay tiền của bang hội hơi nhiều rồi. Đất Sông Bé của nị mênh mông quá, nhưng giấy tờ thì lằng nhằng. Nghe nói nị dựa vào Cụ Sáu?

- Dạ, Cụ Sáu ủng hộ con. Ngay cả Anh Ba ở Sông Bé cũng chào đón con đó. – Phụng đáp nhanh.

Vị Trưởng lão lắc đầu:

- Quan nhất thời, dân vạn đại. Cụ Sáu rồi cũng phải về hưu. Khi Cụ về rồi, ai đỡ lưng cho nị? Cái dù của nị to, nhưng nó làm bằng giấy. – Rồi lại quay sang nhìn người phụ nữ mặc sườn xám.

- Còn A Muội, nghe nói nị vừa kết nghĩa chị em với bà Tư, bà Ba nào đó trên Trung ương?

- Dạ thưa chú, con phận đàn bà yếu đuối, phải tìm bóng cây tùng bách để nương nhờ. Chị Hai của con thương con như ruột thịt. Còn chồng con đây, ảnh có dòng tiền từ các quỹ đầu tư Hồng Kông, không cần vay tiền của các chú, chỉ xin các chú cho một tiếng nói ủng hộ để làm ăn cho thuận cái tình hương thân.

Tiếng quân cờ mạt chược gõ xuống bàn “Cốp!” Đó là tiếng búa của định mệnh.

- A Phụng, từ tháng này, bang hội sẽ siết lại hạn mức của nị. Nị phải tự bơi thôi. Còn A Muội, Chợ Lớn này là của nị.

Tăng Minh Phụng bước ra khỏi Tửu lầu Ái Huê. Trời Sài Gòn đổ cơn mưa tầm tã. Lần đầu tiên, ông cảm thấy lạnh thấu xương. Bang hội – bầu sữa mẹ nuôi ông lớn – đã cai sữa. Họ đã nhìn thấy một con phượng hoàng mới rực rỡ hơn, khôn ngoan hơn con phượng hoàng lửa đang tự thiêu đốt mình. Ông nhìn thấy hai vợ chồng vị đại gia Hồng Kông bước lên chiếc xe Mercedes đen bóng. Trước khi cửa kính xe kéo lên, ông thấy ánh mắt của muội muội nhìn ông. Không phải là sự thương hại, mà là sự tiễn biệt. Bà biết, tài sản của người đàn ông này rồi trong tương lai bà sẽ là người dọn dẹp những gì ông để lại.

Chính trong cơn tuyệt vọng bị bang hội từ chối đó, Tăng Minh Phụng mới điên cuồng lao vào vòng tay của Liên Khui Thìn và Phạm Nhật Hồng. Bị cắt bầu sữa “vốn hội”, ông buộc phải hút cạn bầu sữa “vốn công” để duy trì sự sống. Và đó là khởi đầu của sự kết thúc.

Không rõ rồi bộ phim kịch tính đó sẽ đi về đâu? Những gì đang giày vò tâm can của ông trong màn đêm buông xuống, rồi sáng mai khi thức dậy, rủi ro giáng xuống đầu Tăng đại gia sẽ là gì? Xem Phần 3 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Khép lại Phần 2, chúng ta không thấy sự hả hê của kẻ giàu sang, mà thấy nỗi cô đơn tột cùng của một con người đang chạy đua với cái bóng của chính mình. Tăng Minh Phụng mang mệnh Phá Quân (Hao Tán) và được ví như Ông Táo. Định mệnh của Ông Táo là gì? Là Giữ Lửa cho nhân gian, là gánh củi, là chịu nóng, để người đời có cơm ăn áo mặc. Ông Táo không bao giờ là chủ nhân của ngôi nhà. Ông chỉ là người phục vụ. Bi kịch của Bảy Phụng là ông đã lầm tưởng mình là “Ông Chủ”. Ông ngỡ rằng số tiền khổng lồ chảy qua tay mình là của mình. Nhưng không, như Mẫu Trầu đã cảnh báo: “Con là Thủ kho”. Khi người thủ kho nảy sinh lòng tham muốn chiếm hữu kho tàng làm của riêng (biến dòng tiền lưu thông thành đất đai bất động), Khế ước bị vi phạm. Ngọn lửa vốn dĩ dùng để nấu cơm nay quay lại thiêu rụi chính người nhóm bếp. Khi bạn cố gắng dùng tốc độ của dòng nước (tín dụng ngắn hạn) để nuôi dưỡng sự tĩnh lặng của đất đai (tài sản dài hạn), bạn đang chống lại quy luật tự nhiên. Nước chảy xiết quá sẽ gây sạt lở đất. Sự sụp đổ của Minh Phụng chính là sự “sạt lở” của cấu trúc tài chính khi Dòng và Tụ mất cân bằng. Tăng Minh Phụng đã mua được ngàn héc-ta đất, nhưng ông đã đánh mất mảnh đất duy nhất mà con người thực sự sở hữu: Sự bình An trong tâm hồn. Ổ bánh mì thịt 1.000 đồng ông ăn vội vã ngon hơn hay những bữa tiệc triệu đô ngon hơn? Có lẽ, trong những giây phút cuối đời, ông mới nhận ra: Hạnh phúc không nằm ở việc sở hữu cả thế giới, mà nằm ở việc biết buông bỏ gánh củi trên vai xuống để ngắm nhìn một cơn mưa chiều.

(Còn tiếp)…

Nguồn: ***QUYHOCFAQ
 

Có thể bạn quan tâm

Top