Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng

NHỮNG NHÂN VẬT TRONG SỰ KIỆN NHIỀU NGƯỜI CÒN SỐNG, VÀ CŨNG CHÍNH HỌ KỂ LẠI NÊN CHUYỆN NÀY KHÔNG BỊA ĐẶT, ĐÂY LÀ SỰ THẬT
Vào tháng 4 năm 1975, khi mà nước Việt Nam Cộng Hòa đang rơi vào khoảnh khắc tồn tại cuối cùng thì xuất hiện một lượng vàng tồn tại là 16 tấn được gọi là ngân khoản dự trữ của chính phủ cất trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Số lượng vàng gồm 1234 thỏi, mỗi thỏi 12 đến 14kg, tổng trọng lượng khoảng 16 tấn và tổng trị giá là 71.66 triệu đô la Mỹ theo giá vàng của thời điểm năm 1975.
Về khối lượng 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa, ngày 2/5/1975, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo đã đến gặp trực tiếp lãnh đạo Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định và đề nghị Ủy ban tiếp quản số vàng ấy.
Vào tháng 12/1974, đoàn C282.Q công an nhân dân vũ trang (đơn vị B17 Hà Tĩnh) đã nhận được lệnh vào Nam để hỗ trợ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thật hạnh phúc khi vào ngày giải phóng dân tộc, khi tiếng súng ngừng bắn, giây phút miền Bắc và miền Nam được về chung một nhà, những người lính, trong đó có ông Hoàng Minh Duyệt đã vui mừng khôn xiết, nước mắt cứ thế mà chảy suốt. Đến ngày 1/5/1975, ông cùng các anh em được nhận nhiệm vụ bảo vệ Ngân hàng Quốc gia ở số 17 bến Chương Dương (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 8 đường Võ Văn Kiệt, quận 1 ngày nay). Ông và đồng đội tâm niệm rằng đây là nhiệm vụ quan trọng. Hoàng Minh Duyệt cùng với Chỉ huy trưởng là ông Đặng Hồng Minh và Chính trị viên Bùi Bá Lân được tham gia vào nhóm kiểm kê 16 tấn vàng của chế độ cũ. Sau đó các anh em chiến sĩ được thông báo thông tin này và cùng nhau bảo vệ số lượng vàng này. Ông Hoàng Minh Duyệt còn nói thêm, khi ông và các anh em lần đầu tiên được bước chân vào hầm chứa vàng đã cảm thấy choáng ngợp với nơi này vì lần đầu tiên thấy được số vàng lớn như thế. Nhưng ông và tất cả mọi người không hề có ý lấy làm của riêng. Vả lại công tác bảo vệ là an toàn tuyệt đối, chỉ huy điều đi đâu cũng đi hết, không hề nề hà. Anh em còn vui sướng khi được cấp trên tin tưởng thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, tất cả anh em đều cố gắng bảo vệ tài sản được an toàn để giúp Nhà nước quản lý và phát triển đất nước.
Cũng phải nói thêm, ông Huỳnh Bửu Sơn và Lê Minh Khiêm là người được trực tiếp thấy số vàng được chuyển giao cho chính quyền mới tiếp quản. Sau đó vào tháng 6 năm 1975, ông Huỳnh Bửu Sơn với cương vị là người giữ chìa khóa kho vàng, còn ông Lê Minh Khiêm là người giữ mã số của hầm bạc. Sau đó 2 người này cùng với đơn vị tiếp quản số vàng đã kiểm kê và cho ra kết quả hoàn toàn trùng khớp giữa số vàng và thông tin ghi trong sổ sách. Về cuộc kiểm kê kho vàng cuối cùng ở chế độ cũ, ông Huỳnh Bửu Sơn đã miêu tả rằng tất cả số lượng vàng đều là vàng nguyên chất. Mỗi thỏi vàng có khối lượng khoảng từ 12- 14kg, số hiệu và thỏi vàng đều được khắc ở trên mỗi thỏi. Ông còn nói thêm số vàng được cất kỹ càng ở những tủ sắt và được trang bị đến 2 lớp khóa, vàng được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ sẽ để được 5 – 6 thỏi vàng. Sức nặng của vàng được miêu tả nặng và chắc đến nỗi vì vàng được đặt trên các kệ sắt nên kệ bị cong xuống vì nặng. Về phần của những đồng tiền vàng lẻ thì được cất gọn gàng trong hộp gỗ, những hộp gỗ sẽ được để trong tủ sắt. Những đồng tiền vàng đa phần được xuất phát từ thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, toàn bộ đều là đồng vàng cổ xưa của nhiều quốc gia khác, không chỉ riêng của Việt Nam. Vì là tiền cổ được đúc từ thế kỷ trước nên tính ra đồng tiền vàng còn có giá trị cao hơn hẳn vàng thời đó. Tất cả những số hiệu, tuổi vàng sẽ được ghi trong sổ kiểm kê và bộ phận máy tính tin học của ngân hàng sẽ có nhiệm vụ theo dõi hằng tháng hằng năm, kèm theo đó là những thay đổi khi xuất nhập kho của vàng.
Cuối cùng 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa và 24 tấn vàng cướp của người dân miền nam được sử dụng như thế nào?
Sau vụ việc 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa, số vàng này vẫn còn ở lại Việt Nam và đến năm 1979. Ngày 1/12/1979, số vàng 101 hòm, nặng 4445kg đã được rời khỏi Hà Nội. Vn đề hợp đồng vàng tái chế, vay mượn cầm cố vàng với số lượng hơn 40 tấn đã thu về được hơn 500 triệu USD. Ông Nguyễn Văn Dễ, khi ấy là tổng giám đốc ngân hàng Vietcombank đã phát biểu vấn đề này và được ghi lại trong cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Ông cho biết thêm, sau khi đất nước hoàn toàn được giải phóng vào năm 1975 thì vấn đề lương thực, nguyên liệu, trả nợ quốc tế cần phải được giải quyết. Vì vậy đất nước cần phải có ngoại tệ để xử lý vấn đề đó. Đất nước sau năm 1975 bị rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn, vấn đề miếng ăn của người dân cũng khiến chính phủ đau đầu. Chính phủ lúc bấy giờ phải lo vấn đề lúa gạo cho người dân. Người dân thậm chí phải ăn cả hạt bo bo chưa xay, lúa mì thì không có loại cao cấp để ăn, chỉ đành ăn loại cấp thấp. Trước tình thế cấp bách này, việc làm sao để có đủ lương thực cho người dân là vấn đề quan trọng nhưng nông nghiệp trong nước lúc đó hoàn toàn không thể đáp ứng đủ. Chính phủ bắt buộc phải xoay xở nguồn nông nghiệp từ nước ngoài, thế nhưng việc mua lương thực phải có ngoại tệ, và thế là chính phủ quyết định bán số vàng dự trữ để lấy ngoại lệ.
Theo cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho biết thêm, Ngân hàng Nhà nước ngoài việc tiếp nhận vàng của miền Bắc được tính bằng tạ ra thì còn tiếp nhận vàng của chính quyền Sài Gòn và cả các nguồn khác. Vậy nên có một vấn đề được đặt ra là cơ cấu của kho vàng hoàn toàn không giống nhau. Có vàng thỏi của Anh thì mỗi thỏi nặng 12.7kg, còn thỏi vàng của Mỹ lại nặng 10kg mỗi thỏi. Mỗi thỏi sẽ có nhãn hiệu, xuất xứ riêng. Đó là chưa kể vàng lá Kim Thành và các vàng vụn như nhẫn, vòng,… Thành thử ra khi giao dịch với Liên Xô ở số lượng vàng đầu tiên này, chúng ta biết được rằng để có thể giao dịch trên thị trường Quốc tế thì phải là vàng chuẩn Anh, Mỹ hoặc Liên Xô. Còn vàng xuất xứ từ Việt Nam thì không thể giao dịch, đó là chưa kể vàng ở Việt Nam còn bị dính chính sách cấm vận của Mỹ.
Vấn đề dường như sắp rơi vào ngõ cụt thì Việt Nam và Liên Xô đã đưa ra một cách đó là tái chế lại vàng theo kiểu Liên Xô với trọng lượng là 1kg/1 thỏi vàng. Cuối năm 1979, Vietcombank cùng với Liên Xô đã ký hợp đồng tái chế, vay mượn, cầm cố vàng, tiêu thụ vàng trên thế giới theo lệnh của chính phủ Việt Nam và dưới sự ủy nhiệm của Ngân hàng Nhà nước. Về phía Liên Xô, họ đã cung cấp cho Việt Nam một số thùng hàng bằng thép theo tiêu chuẩn ngân hàng của Liên Xô để giúp để vàng và di chuyển bằng máy bay thương mại của Liên Xô. Tất nhiên những hoạt động này được thực hiện bí mật và tất cả các hành khách không biết được vấn đề mật này.
Số vàng cuối cùng đã được chuyển sang Liên Xô dưới sự giám sát của Tổng giám đốc Ngân hàng Nguyễn Văn Dễ. Còn ông phó Tổng giám đốc Vietcombank Nguyễn Duy Lộ có nhiệm vụ kiểm kê số vàng, đóng kiện hàng và niêm phong theo tiêu chuẩn để chuẩn bị đưa vàng đi. Vàng được chuyển từ kho đến sân bay Nội Bài, sau khi hoàn tất hết tất cả thủ tục và được niêm phong kỹ càng, số vàng ấy sẽ chuyển đến máy bay của Liên Xô. Khi số vàng được đưa lên máy bay, ông Nguyễn Văn Dễ đã đi theo kiện hàng ấy lên chuyến bay của hãng hàng không Aeroflot. Hộ chiếu ngoại giao Liên Xô của ông được phép đi lại bất cứ lúc nào giữa hai nước để lo liệu các vấn đề liên quan đến số lượng vàng. Sau khi hạ cánh, xe bọc thép Liên Xô đã đứng đợi sẵn và niêm phong thùng hàng để tiếp tục chuyển đến kho bảo mật của Liên Xô.
Vấn đề lương thực, trả nợ cùng các vấn đề liên quan của đất nước đã được giải quyết khi chính phủ Việt Nam gửi văn kiện ngoại giao đến Liên Xô vay 100 triệu USD để thanh toán nợ. Tất cả đều được giải quyết khi 40 tấn vàng, trong đó có 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa và các nguồn cướp vàng khác của người dân miền nam được chuyển đến Liên Xô.
Vì Liên Xô lúc đó cũng không có ngoại tệ dư, vả lại họ phải huy động từ thị trường. Để vay ngoại tệ, Việt Nam chỉ được thực hiện với điều kiện thế chấp bằng chính số lượng vàng được chuyển đến Liên Xô. Cuối cùng hiệp định vay 100 triệu USD được hoàn tất vào tháng 3 năm 1980.
Vào tháng 4 năm 1975, khi mà nước Việt Nam Cộng Hòa đang rơi vào khoảnh khắc tồn tại cuối cùng thì xuất hiện một lượng vàng tồn tại là 16 tấn được gọi là ngân khoản dự trữ của chính phủ cất trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Số lượng vàng gồm 1234 thỏi, mỗi thỏi 12 đến 14kg, tổng trọng lượng khoảng 16 tấn và tổng trị giá là 71.66 triệu đô la Mỹ theo giá vàng của thời điểm năm 1975.

Về khối lượng 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa, ngày 2/5/1975, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo đã đến gặp trực tiếp lãnh đạo Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định và đề nghị Ủy ban tiếp quản số vàng ấy.

Vào tháng 12/1974, đoàn C282.Q công an nhân dân vũ trang (đơn vị B17 Hà Tĩnh) đã nhận được lệnh vào Nam để hỗ trợ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thật hạnh phúc khi vào ngày giải phóng dân tộc, khi tiếng súng ngừng bắn, giây phút miền Bắc và miền Nam được về chung một nhà, những người lính, trong đó có ông Hoàng Minh Duyệt đã vui mừng khôn xiết, nước mắt cứ thế mà chảy suốt. Đến ngày 1/5/1975, ông cùng các anh em được nhận nhiệm vụ bảo vệ Ngân hàng Quốc gia ở số 17 bến Chương Dương (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 8 đường Võ Văn Kiệt, quận 1 ngày nay). Ông và đồng đội tâm niệm rằng đây là nhiệm vụ quan trọng. Hoàng Minh Duyệt cùng với Chỉ huy trưởng là ông Đặng Hồng Minh và Chính trị viên Bùi Bá Lân được tham gia vào nhóm kiểm kê 16 tấn vàng của chế độ cũ. Sau đó các anh em chiến sĩ được thông báo thông tin này và cùng nhau bảo vệ số lượng vàng này. Ông Hoàng Minh Duyệt còn nói thêm, khi ông và các anh em lần đầu tiên được bước chân vào hầm chứa vàng đã cảm thấy choáng ngợp với nơi này vì lần đầu tiên thấy được số vàng lớn như thế. Nhưng ông và tất cả mọi người không hề có ý lấy làm của riêng. Vả lại công tác bảo vệ là an toàn tuyệt đối, chỉ huy điều đi đâu cũng đi hết, không hề nề hà. Anh em còn vui sướng khi được cấp trên tin tưởng thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, tất cả anh em đều cố gắng bảo vệ tài sản được an toàn để giúp Nhà nước quản lý và phát triển đất nước.
Cũng phải nói thêm, ông Huỳnh Bửu Sơn và Lê Minh Khiêm là người được trực tiếp thấy số vàng được chuyển giao cho chính quyền mới tiếp quản. Sau đó vào tháng 6 năm 1975, ông Huỳnh Bửu Sơn với cương vị là người giữ chìa khóa kho vàng, còn ông Lê Minh Khiêm là người giữ mã số của hầm bạc. Sau đó 2 người này cùng với đơn vị tiếp quản số vàng đã kiểm kê và cho ra kết quả hoàn toàn trùng khớp giữa số vàng và thông tin ghi trong sổ sách. Về cuộc kiểm kê kho vàng cuối cùng ở chế độ cũ, ông Huỳnh Bửu Sơn đã miêu tả rằng tất cả số lượng vàng đều là vàng nguyên chất. Mỗi thỏi vàng có khối lượng khoảng từ 12- 14kg, số hiệu và thỏi vàng đều được khắc ở trên mỗi thỏi. Ông còn nói thêm số vàng được cất kỹ càng ở những tủ sắt và được trang bị đến 2 lớp khóa, vàng được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ sẽ để được 5 – 6 thỏi vàng. Sức nặng của vàng được miêu tả nặng và chắc đến nỗi vì vàng được đặt trên các kệ sắt nên kệ bị cong xuống vì nặng. Về phần của những đồng tiền vàng lẻ thì được cất gọn gàng trong hộp gỗ, những hộp gỗ sẽ được để trong tủ sắt. Những đồng tiền vàng đa phần được xuất phát từ thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, toàn bộ đều là đồng vàng cổ xưa của nhiều quốc gia khác, không chỉ riêng của Việt Nam. Vì là tiền cổ được đúc từ thế kỷ trước nên tính ra đồng tiền vàng còn có giá trị cao hơn hẳn vàng thời đó. Tất cả những số hiệu, tuổi vàng sẽ được ghi trong sổ kiểm kê và bộ phận máy tính tin học của ngân hàng sẽ có nhiệm vụ theo dõi hằng tháng hằng năm, kèm theo đó là những thay đổi khi xuất nhập kho của vàng.
Cuối cùng 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa và 24 tấn vàng cướp của người dân miền nam được sử dụng như thế nào?
Sau vụ việc 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa, số vàng này vẫn còn ở lại Việt Nam và đến năm 1979. Ngày 1/12/1979, số vàng 101 hòm, nặng 4445kg đã được rời khỏi Hà Nội. Vn đề hợp đồng vàng tái chế, vay mượn cầm cố vàng với số lượng hơn 40 tấn đã thu về được hơn 500 triệu USD. Ông Nguyễn Văn Dễ, khi ấy là tổng giám đốc ngân hàng Vietcombank đã phát biểu vấn đề này và được ghi lại trong cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Ông cho biết thêm, sau khi đất nước hoàn toàn được giải phóng vào năm 1975 thì vấn đề lương thực, nguyên liệu, trả nợ quốc tế cần phải được giải quyết. Vì vậy đất nước cần phải có ngoại tệ để xử lý vấn đề đó. Đất nước sau năm 1975 bị rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn, vấn đề miếng ăn của người dân cũng khiến chính phủ đau đầu. Chính phủ lúc bấy giờ phải lo vấn đề lúa gạo cho người dân. Người dân thậm chí phải ăn cả hạt bo bo chưa xay, lúa mì thì không có loại cao cấp để ăn, chỉ đành ăn loại cấp thấp. Trước tình thế cấp bách này, việc làm sao để có đủ lương thực cho người dân là vấn đề quan trọng nhưng nông nghiệp trong nước lúc đó hoàn toàn không thể đáp ứng đủ. Chính phủ bắt buộc phải xoay xở nguồn nông nghiệp từ nước ngoài, thế nhưng việc mua lương thực phải có ngoại tệ, và thế là chính phủ quyết định bán số vàng dự trữ để lấy ngoại lệ.
Theo cuốn Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho biết thêm, Ngân hàng Nhà nước ngoài việc tiếp nhận vàng của miền Bắc được tính bằng tạ ra thì còn tiếp nhận vàng của chính quyền Sài Gòn và cả các nguồn khác. Vậy nên có một vấn đề được đặt ra là cơ cấu của kho vàng hoàn toàn không giống nhau. Có vàng thỏi của Anh thì mỗi thỏi nặng 12.7kg, còn thỏi vàng của Mỹ lại nặng 10kg mỗi thỏi. Mỗi thỏi sẽ có nhãn hiệu, xuất xứ riêng. Đó là chưa kể vàng lá Kim Thành và các vàng vụn như nhẫn, vòng,… Thành thử ra khi giao dịch với Liên Xô ở số lượng vàng đầu tiên này, chúng ta biết được rằng để có thể giao dịch trên thị trường Quốc tế thì phải là vàng chuẩn Anh, Mỹ hoặc Liên Xô. Còn vàng xuất xứ từ Việt Nam thì không thể giao dịch, đó là chưa kể vàng ở Việt Nam còn bị dính chính sách cấm vận của Mỹ.
Vấn đề dường như sắp rơi vào ngõ cụt thì Việt Nam và Liên Xô đã đưa ra một cách đó là tái chế lại vàng theo kiểu Liên Xô với trọng lượng là 1kg/1 thỏi vàng. Cuối năm 1979, Vietcombank cùng với Liên Xô đã ký hợp đồng tái chế, vay mượn, cầm cố vàng, tiêu thụ vàng trên thế giới theo lệnh của chính phủ Việt Nam và dưới sự ủy nhiệm của Ngân hàng Nhà nước. Về phía Liên Xô, họ đã cung cấp cho Việt Nam một số thùng hàng bằng thép theo tiêu chuẩn ngân hàng của Liên Xô để giúp để vàng và di chuyển bằng máy bay thương mại của Liên Xô. Tất nhiên những hoạt động này được thực hiện bí mật và tất cả các hành khách không biết được vấn đề mật này.
Số vàng cuối cùng đã được chuyển sang Liên Xô dưới sự giám sát của Tổng giám đốc Ngân hàng Nguyễn Văn Dễ. Còn ông phó Tổng giám đốc Vietcombank Nguyễn Duy Lộ có nhiệm vụ kiểm kê số vàng, đóng kiện hàng và niêm phong theo tiêu chuẩn để chuẩn bị đưa vàng đi. Vàng được chuyển từ kho đến sân bay Nội Bài, sau khi hoàn tất hết tất cả thủ tục và được niêm phong kỹ càng, số vàng ấy sẽ chuyển đến máy bay của Liên Xô. Khi số vàng được đưa lên máy bay, ông Nguyễn Văn Dễ đã đi theo kiện hàng ấy lên chuyến bay của hãng hàng không Aeroflot. Hộ chiếu ngoại giao Liên Xô của ông được phép đi lại bất cứ lúc nào giữa hai nước để lo liệu các vấn đề liên quan đến số lượng vàng. Sau khi hạ cánh, xe bọc thép Liên Xô đã đứng đợi sẵn và niêm phong thùng hàng để tiếp tục chuyển đến kho bảo mật của Liên Xô.
Vấn đề lương thực, trả nợ cùng các vấn đề liên quan của đất nước đã được giải quyết khi chính phủ Việt Nam gửi văn kiện ngoại giao đến Liên Xô vay 100 triệu USD để thanh toán nợ. Tất cả đều được giải quyết khi 40 tấn vàng, trong đó có 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa và các nguồn cướp vàng khác của người dân miền nam được chuyển đến Liên Xô.
Vì Liên Xô lúc đó cũng không có ngoại tệ dư, vả lại họ phải huy động từ thị trường. Để vay ngoại tệ, Việt Nam chỉ được thực hiện với điều kiện thế chấp bằng chính số lượng vàng được chuyển đến Liên Xô. Cuối cùng hiệp định vay 100 triệu USD được hoàn tất vào tháng 3 năm 1980.
Sửa lần cuối: