8Lake
Thần điêu đại bịp
“Thầy ơi, thầy giúp tôi với... Tôi già thế này rồi mà chúng nó cứ phá tôi thì sao tôi sống nổi hở giời…”
Tiếng người phụ nữ thở dốc bên kia đầu dây, giọng thê thiết như vừa khóc vừa van xin.
“Dạ không! Không! Tôi có phải thầy trừ tà đâu! Tôi là nhà báo!” – tôi gào lên tuyệt vọng, cố giữ lý trí với một người đã chẳng còn giữ được bình tĩnh.
“Người ta đồn thầy có duyên lắm. Thầy coi làm sao, làm lễ làm nải gì cho chúng nó. Thầy rộng lòng ban ơn giáng phước cho tôi đi… thầy ơiiii…”
“Tôi không làm được đâu chị. Chị gọi thầy cúng nhé… tuttt…” – tôi nói gọn lỏn rồi tắt máy. Lòng rối như tơ vò.
Tôi nghiến răng rủa thằng Tuấn c.h.ế.t tiệt – thằng em đồng nghiệp của tôi. Tôi biết chính nó công khai số tôi cho mấy người dân ở Ngõ Trạm. Tôi chỉ là nhà báo, mà qua miệng nó giờ đã thành “thầy trừ tà”.
Đây là cuộc gọi thứ năm trong tháng. Tất cả đều hỏi tôi về những cái bóng con nít chạy lăng quăng ban đêm.
“Chắc cái đám nghỉ hè chạy chơi rồi ông bà nào đó trông gà hóa cuốc thôi. Làm gì có ma cỏ nào mà chạy công khai giữa phố cho cả xóm thấy...”
Tôi đã lầm.
Tôi – Lê Văn Hữu. Một nhà báo tự do, mắc chứng mất ngủ mãn tính – và giờ thì nặng hơn, nhờ mấy cuộc điện thoại kêu cứu lúc nửa đêm như thế này.
Tôi đã nghỉ viết báo chính thống từ lâu. Không hợp. Những thứ tôi theo đuổi – những vụ kỳ án, những chi tiết bất thường, những âm thanh không có tên nhưng được cái chúng lại hợp với internet.
Đúng vậy, internet!
Cái nơi mà bài viết của tôi trôi tuột giữa những status bán hàng, clip bóc phốt, và những video câu like.
Cái thứ văn tôi viết – chắc chắn không bao giờ có chỗ trên mặt báo chính thống. Không đạt giải, không được tái bản, không có giá trị sưu tầm. Những gì tôi kể, có khi chính tôi cũng không dám chắc mình có tin vào chúng không. Nhưng chúng có thật – ít nhất là theo đánh giá của hai con mắt trực tiếp chứng kiến của tôi.
Người ta đọc bài của tôi như thưởng thức một món ăn vặt: "12 giờ đêm rồi sốp!", "Đọc giữa đêm nổi da gà!", "Làm gì có chuyện ma mà thật thế?"
Rồi người ta lướt tiếp.
Thế nhưng, dù có thể nào thì trong nhận thức của tôi, thế giới này không chỉ đơn giản là trắng và đen, nó còn có mảng xám cái thứ màu sắc nằm ở phần “rìa của lý trí” không thể dung logic thông thường để giải thích được.
“Thầy ơi... nó nằm dưới chân tủ. Tôi thấy rồi. Là trẻ con. Trần truồng, đen sì sì. Nó ngẩng lên nhìn tôi…”
“…không có tròng trắng, nó không có con ngươi! Rồi... rồi nó chui ngược vào gầm giường, thầy ơi...”
Giọng người phụ nữ trong bản ghi âm cuộc gọi vẫn lạc đi vì hoảng. Tôi nhớ rõ, cuộc gọi diễn ra vào 2 giờ 41 phút sáng. Mặc dù không có trách nhiệm với những cuộc gọi này nhưng tôi vẫn ghi chép lại chúng như một phản ứng của nhà báo trước thông tin. Đây là cuộc gọi thứ năm trong tháng này, năm cuộc gọi đến từ những người khác nhau, và có lẽ do thất vọng vì bị từ chối nên họ không gọi lại nữa.
Tôi mở sổ tay lật qua trang trước đó, bút đỏ đánh dấu những điểm giống nhau của mỗi cuộc gọi. Hầu hết các cuộc gọi đều đến từ các khu vực như Ngõ Trạm, Hà Trung, Đường Thành, Cửa Đông..vv, các khu vực này nằm cũng gần nhau nhưng dường như không có mối liên hệ gì với nhau cả.
Những người gọi cho tôi thường báo cáo là họ thấy bóng trẻ con chỉ nằm quơ chân tay hoặc lẫn vào khe tường, gầm giường một trường hợp thấy bóng người lớn đứng im, đội nón và không có mặt, họ đều khẳng định là nhà không có trẻ con hoặc không “làm gì” có lỗi hay đắc tội với cõi tâm linh cả, họ chỉ là người bình thường bị mất ngủ do tuổi già và tình cờ nhìn thấy chúng vào giờ sớm.
Vốn đã quen đọc hồ sơ vụ án để lùng tìm các chi tiết tâm linh kì lạ, tôi thật sự rối não vì giờ đây tôi phải cố tìm một chi tiết logic trong cái câu chuyện tâm linh kì ảo mà tôi vừa vẽ ra. Rõ ràng họ không thể rơi vào tình trạng thôi miên tập thể hay có biểu hiện tâm thần được, những người này cũng không quen biết nhau nên chuyện này xem ra rất phức tạp và không hề có đầu mối.
“chắc mấy vụ trước mình hên thôi, làm gì có cái chuyện duyên gặp cõi âm được”
Tôi lại lầm…
Tôi nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ Hà Nội để trên tường. Những dấu gạch đỏ – nơi người ta thấy bóng – trông như vết máu đông trên bề mặt da. Dưới ánh đèn vàng, chúng run rẩy, vô thức, chắc phải nhờ cứu trợ thôi.
Tôi lục trong danh bạ, kéo đến tên "Thầy Huỳnh”
Chưa bao giờ gặp. Chưa từng video call. Chỉ nhắn tin và hai lần gọi thoại. Vụ trước, thầy đã cầu siêu cho bốn nạn nhân vụ thiên linh cái để giải thoát kiếp sống khùng điên cơ cực của cô Gấm, để xem thầy có ý kiến gì về vụ này dù sao đây không phải là vụ án hình sự, chỉ là hiện tượng tâm linh thôi.
Tôi bấm gọi.
Tút… Tút… "Alo?"
Giọng đàn ông, miền Trung, đặc sệt, khàn như gió lùa qua mộ đá:
"Ai đó? Giờ ni còn gọi?"
Tôi nuốt khan.
“Dạ… con là Hữu. Nhà báo. Người vụ thiên linh cái… dạ thầy còn nhớ?”
Ông im lặng vài giây. Rồi trả lời bằng một câu mà tôi không rõ là đùa hay thật:
“Đừng gọi là thầy. Ở đây ai kêu tui thầy là đêm về tui mất ngủ.”
“Dạ… con xin lỗi, là thói quen.”
“Ừ. Vụ mới à?”
“Dạ, ở Hà Nội. Nhưng không phải vụ án. Chỉ có… người thấy bóng trẻ con..”
“Ở đâu?”
“Ngõ Trạm. Gần phố Hà Trung, Cửa Đông. Toàn khu dân cư cũ.”
“Chỉ thấy bóng? Không bị nhập? Không có thương tích?”
“Bóng trẻ con đen xì, chỉ nằm quơ chân tay không có mặt mùi gì, duy có trường hợp thấy bóng người lớn”
Lại im lặng. Rồi tiếng ông thở khẽ – như đang xếp lại một cuốn sách cũ trong đầu.
“Cậu không cần kể nữa. Cái này… không phải do nhà ai bị, không phải âm lẻ. Mà là vùng vọng.”
“Vùng vọng… là gì ạ?”
“Tôi không biết miền Bắc các cậu gọi là gì. Ở đây tụi tôi gọi là vùng vọng – nghĩa là một vùng đất từng tập trung nhiều linh hồn, đến mức sau khi chuyện đã qua rồi… hình ảnh của chúng vẫn vọng lại. Không phải ma hiện. Mà ký ức của linh hồn hiện.”
“Bóng không làm gì con người, không xô ngã, không hù dọa. Nó chỉ bò, nằm, ngồi, ngó. Như thể… đang sống tiếp khoảnh khắc cuối cùng trước khi c.h.ế.t”
Tôi lạnh sống lưng. Tay cầm bút, nhưng không thể ghi nổi.
“Ở Trảng Bom năm 1996, có một vụ gần giống. Khu đó từng là nghĩa địa cũ. Sau giải tỏa, người ta dựng nhà máy làm thức ăn gia súc. Ba năm sau, cứ tầm 3 giờ sáng, bảo vệ đi tuần đều thấy bóng người trong xưởng, họ đi kiểm tra nhiều lắm cũng cầu siêu cho mấy người bi tại nạn lao động ở đấy nhưng không hết.”
“Tôi đến. Gieo quẻ, không thấy oán khí. Chỉ thấy một lớp năng lượng tái diễn. Kiểu như đoạn phim phát lại – không thể đuổi, không thể cúng. Vì không có linh hồn thật để gọi.” “Khi tôi đào lại lịch sử khu đó, mới biết ngày xưa từng là nghĩa trang, mà trước đó nữa khoảng năm 69 có vụ c.h.ô.n tập thể ở đây”
“Sau khi cậu nói ‘trẻ bò, ngó, chui vào góc’... tôi nghĩ đến đúng cảnh đó. Những đứa bé... tìm đường trốn, Nhưng không kịp.”
Tôi nuốt khan. Rồi hỏi khẽ:
“Vậy thầy nghĩ... chỗ này từng có trẻ con c.h.ế.t?”
“Tôi không dám chắc. Nhưng nếu đúng là vùng vọng, thì phải từng có một chỗ tập trung rất nhiều... trẻ em. Hoặc x.á.c t.r.ẻ. Hoặc nơi từng xảy ra sự kiện gì đó như c.h.ô.n tập thể chẳng hạn”
“Cậu có bản đồ cũ không?”
“Dạ không”
“Tôi nghĩ cậu nên tìm một vài tấm có tấm nào liên quan đến khu này xem có thể hiện một vùng nào đó có khả năng là nơi chứa x.á.c em bé không, kể cả các giai thoại nữa, thứ này tôi nghĩ chúng mất hồn rồi chỉ còn vía thôi, không hại người nhưng gây nhiều phiền hà cho cuộc sống lắm, cậu cứ x.á.c định đi rồi tôi sẽ tim cách cho”
Tôi ngắt máy.
Không phải là tôi không biết hay không nghe về một nơi như thế, vì thật sự có một nơi như thế thật….
…và cái nơi đó từng được nhắc đến, thấp thoáng, trong một cuốn sách cũ mà tôi đọc khi còn là sinh viên, lúc còn tin rằng mọi bóng ma trên đời đều có thể bị bóc trần bằng logic. Nhưng giờ đây, khi logic đã bất lực, tôi buộc phải quay về với trí nhớ và thư viện.
Hôm sau, tôi tìm đến Thư viện Quốc gia, mang theo bản ghi âm cuộc gọi, sổ tay và tấm bản đồ in dấu những vết đỏ mờ nhòe như vết máu khô. Tôi nhờ thủ thư tra giúp những bản đồ cổ về khu vực Ngõ Trạm, Hà Trung – cụ thể là các tài liệu từ thời Pháp thuộc trở lại trước Cách mạng. Một loạt bản đồ với những cái tên xa lạ hiện ra: Rue des Armuriers (Phố Hàng Bông), Rue des Généraux (Phố Quán Sứ), Rue de la Banque (Phố Hà Trung), và giữa chúng là những mảng ô vuông chi chít như tổ ong – nhưng tuyệt nhiên không hề có ký hiệu nghĩa trang nào nằm gần khu tôi cần tìm.
Tôi thất vọng, khép nhẹ bản đồ lại. Một bà thủ thư lớn tuổi, có lẽ đã để ý tôi từ đầu, ghé đến hỏi nhỏ: “Cậu tìm gì ở đó? Nhà cũ hay kiến trúc cồ”
Tôi không dám nói cái mục đích của mình, nên hỏi tránh đi “dạ, em tìm một khu vực kiểu mồ c.h.ô.n tập thể chắc từ thời Pháp hoặc xa hơn, đâu đó ngay khu Ngõ Trạm này”
“Tổ báo mộng à, khu này giờ đông đúc lắm không có đào bới lung tung được đâu?” bà thủ thư nói.
“Chỉ thắp nhang thôi, các cụ về nhiều quá em không ngủ được” tôi nói đại một cái lý do mà cũng khiến da gà nổi lên, hi vọng tổ nhà tôi không quở trách vì đã lôi các cụ ra làm lý do lý trấu.
“Tôi không biết đâu! Trước thời Pháp hay khoảng thời gian đó c.h.ế.t nhiều lắm, người c.h.ô.n tập thể cũng nhiều, có một vài vị trí có mồ tập thể nhưng không phải ở đây, cậu muốn coi thêm thì coi qua cuốn Hà Nội Cũ của cụ Doãn Kế Thiện ấy, tôi hay gọi là chuyện ma đời đầu nhưng cũng có nhiều tư liệu lắm”
Đầu óc tôi như tỉnh táo cả ra, đúng vậy! hồi làm luận văn ngành báo chí tôi đã từng tham khảo cuốn Hà Nội Cũ….
“Bóng trẻ em chạy qua lại……”
“Doãn Kế Thiện….”
“Mồ c.h.ô.n tập thể….không! nếu còn ấm ức chuyện nhân gian thì hẳn là chúng không muốn ở đây…không phải nơi để c.h.ô.n mà là nơi để bỏ….không phải Mồ mà là…..Hồ…”
“Đúng rồi! Hồ X.á.c t.r.ẻ!!!”
Lòng tôi nảy lên một cái như thể tháo được xương cá khỏi cổ họng, đúng vậy, tôi nhớ hồi đó thằng bạn tôi còn cảm thương câu chuyện mấy đứa trẻ bị ném xuống hồ trong thái độ cười cợt của chính tôi! Nhưng dù gì cũng phải tìm đọc lại đã.
“Cuốn đó ở đây có không ạ!”
“Khu sách văn hóa- lịch sử, dãy C” bà thủ thư ngồi bấm điện thoại và không thèm nhìn tôi khi trả lời.
“Dãy C…khu văn hóa….
“Đại Việt Sử Ký….Lịch Sử Hà Nội….Bàn Về Phở……Nghệ Thuật Hát Bôi…..Hà Nội Cũ – Đây rồi!”
Cầm nhanh cuốn sách qua một góc tôi lần giở từng trang. Những cái tên như mảnh chắp vá của một thế giới đã mất hiện ra: chợ Âm Phủ, gò Giết Trâu, ao Chuôm Vàng, cầu Hàn. Và rồi, ở đoạn viết về phố Hà Trung, tôi bắt gặp mấy dòng khiến lưng mình lạnh buốt:
Theo nhà văn Doãn Kế Thiện, hồ x.á.c trẻ xưa là một vũng nước rộng nằm sau phố Ngõ Trạm cũ, xuất hiện vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX. Đường đi được mô tả là từ đằng sau phố Ngõ Trạm cũ, hay gọi đúng tên cũ của nó là phố Hà Trung, qua một bãi tha ma rậm rạp, rồi đến một cái vùng rất rộng, bên này dọc theo phố Đường Thành, bên kia dọc theo đường xe lửa lên mãi tới khu Cống Đục bây giờ, đó là “hồ x.á.c trẻ". Tuy gọi là hồ, nhưng không lấy gì làm sâu lắm, chỉ những khi mưa to mới nổi nước, còn thì cứ xăm xắp quanh năm. Vì không có nước, người xưa đã lợi dụng làm nơi chứa các rác bẩn, về sau có thứ bèo Nhật Bản sản sinh, thì vũng ấy lại thành một vùng bèo rất xanh tốt.
Trong những rác rưởi chồng đống và những đám bèo xanh tốt ấy, hằng ngày người ta đã thấy những cảnh tượng rùng rợn thê thảm. Đó là những x.á.c t.r.ẻ con bị vùi dập. Những x.á.c trẻ con ấy một phần là những con nhà nghèo không được c.h.ô.n cất, một phần là của những đứa con bị chết nhưng có cha mẹ mê tín sợ c.h.ô.n cất tử tế thì nó thương tiếc thường hay lộn lại, nên quăng bỏ đi cho thoát nợ. Ngoài ra, ở đó còn một số trẻ hoang t.h.a.i, kết quả của những cuộc tình vụng trộm trong sự hà khắc của lễ giáo phong kiến. Bởi, hồi ấy xã hội Việt Nam còn chú trọng lễ giáo cũ, những cặp đôi vì sự yêu thầm dấu vụng mà có t.h.a.i, sợ dư luận chỉ trích, mong trút ra để tống quái cho êm chuyện. Người đi đường thời bấy giờ, nhìn thấy cảnh tưởng ghê gớm ấy, ai nấy cứ nhắm mắt bỏ qua. Nhiều khi người đi đường lại thấy cả những x.á.c người lớn bị á.m s.á.t do h.u.n.g t.h.ủ đã giấu hay quăng bỏ vào đó phi tang đi.
Tim tôi đập chậm lại. Tôi lật sang trang khác, tìm các chú giải địa lý. Một đoạn ghi rõ: “Hồ này không còn, đã bị san lấp khi người Pháp mở rộng khu phố Rue de la Banque (Hà Trung), phía sau các số nhà từ 22 đến 32. Dấu tích còn lại chỉ là một đoạn nền thấp, thường tụ nước mưa.” Tôi đối chiếu lại với bản đồ cổ năm 1911. Đúng là tại vị trí đó – giữa một mảng trắng không đề tên, bị kẹp giữa các tuyến phố, là một khoảng đất trống không giải thích. Trên bản đồ sau này thì chỗ ấy biến mất.
Tôi nhớ lại từng đoạn, nhớ luôn cái điệu cười cợt trước sự thương cảm của thằng bạn năm đó, đối với tôi đây chẳng qua chỉ là câu chuyện dân gian hấp dẫn…thế thôi.
Giờ tôi biết tôi đã lầm.
Hồ x.á.c t.r.ẻ là có thật? Không ai gọi tên nó bằng tiếng chính thức. Không ai đánh dấu nó trên bản đồ. Nhưng nó từng ở đó. Một nơi dùng để quên – và bị lãng quên – bởi cả thành phố. Nhưng lũ trẻ thì chưa quên.
Tôi rút sổ, tay run lên vì không còn phân biệt được nữa đâu là cảm giác của một người viết báo, đâu là cảm giác của một kẻ sắp bước chân vào cõi tối.
Ghi chú: Vùng vọng – Ngõ Trạm, Hà Trung. Từng tồn tại hồ x.á.c t.r.ẻ sơ sinh – bị c.h.ô.n tập thể từ thập niên 1930, theo ghi chép của Doãn Kế Thiện trong Hà Nội cũ. Không có trong bản đồ chính thống. Cần x.á.c định thực địa phía sau dãy số 22–32 Hà Trung. Dấu hiệu trùng khớp với hiện tượng linh ảnh lập lại.
Tiếng người phụ nữ thở dốc bên kia đầu dây, giọng thê thiết như vừa khóc vừa van xin.
“Dạ không! Không! Tôi có phải thầy trừ tà đâu! Tôi là nhà báo!” – tôi gào lên tuyệt vọng, cố giữ lý trí với một người đã chẳng còn giữ được bình tĩnh.
“Người ta đồn thầy có duyên lắm. Thầy coi làm sao, làm lễ làm nải gì cho chúng nó. Thầy rộng lòng ban ơn giáng phước cho tôi đi… thầy ơiiii…”
“Tôi không làm được đâu chị. Chị gọi thầy cúng nhé… tuttt…” – tôi nói gọn lỏn rồi tắt máy. Lòng rối như tơ vò.
Tôi nghiến răng rủa thằng Tuấn c.h.ế.t tiệt – thằng em đồng nghiệp của tôi. Tôi biết chính nó công khai số tôi cho mấy người dân ở Ngõ Trạm. Tôi chỉ là nhà báo, mà qua miệng nó giờ đã thành “thầy trừ tà”.
Đây là cuộc gọi thứ năm trong tháng. Tất cả đều hỏi tôi về những cái bóng con nít chạy lăng quăng ban đêm.
“Chắc cái đám nghỉ hè chạy chơi rồi ông bà nào đó trông gà hóa cuốc thôi. Làm gì có ma cỏ nào mà chạy công khai giữa phố cho cả xóm thấy...”
Tôi đã lầm.
Tôi – Lê Văn Hữu. Một nhà báo tự do, mắc chứng mất ngủ mãn tính – và giờ thì nặng hơn, nhờ mấy cuộc điện thoại kêu cứu lúc nửa đêm như thế này.
Tôi đã nghỉ viết báo chính thống từ lâu. Không hợp. Những thứ tôi theo đuổi – những vụ kỳ án, những chi tiết bất thường, những âm thanh không có tên nhưng được cái chúng lại hợp với internet.
Đúng vậy, internet!
Cái nơi mà bài viết của tôi trôi tuột giữa những status bán hàng, clip bóc phốt, và những video câu like.
Cái thứ văn tôi viết – chắc chắn không bao giờ có chỗ trên mặt báo chính thống. Không đạt giải, không được tái bản, không có giá trị sưu tầm. Những gì tôi kể, có khi chính tôi cũng không dám chắc mình có tin vào chúng không. Nhưng chúng có thật – ít nhất là theo đánh giá của hai con mắt trực tiếp chứng kiến của tôi.
Người ta đọc bài của tôi như thưởng thức một món ăn vặt: "12 giờ đêm rồi sốp!", "Đọc giữa đêm nổi da gà!", "Làm gì có chuyện ma mà thật thế?"
Rồi người ta lướt tiếp.
Thế nhưng, dù có thể nào thì trong nhận thức của tôi, thế giới này không chỉ đơn giản là trắng và đen, nó còn có mảng xám cái thứ màu sắc nằm ở phần “rìa của lý trí” không thể dung logic thông thường để giải thích được.
“Thầy ơi... nó nằm dưới chân tủ. Tôi thấy rồi. Là trẻ con. Trần truồng, đen sì sì. Nó ngẩng lên nhìn tôi…”
“…không có tròng trắng, nó không có con ngươi! Rồi... rồi nó chui ngược vào gầm giường, thầy ơi...”
Giọng người phụ nữ trong bản ghi âm cuộc gọi vẫn lạc đi vì hoảng. Tôi nhớ rõ, cuộc gọi diễn ra vào 2 giờ 41 phút sáng. Mặc dù không có trách nhiệm với những cuộc gọi này nhưng tôi vẫn ghi chép lại chúng như một phản ứng của nhà báo trước thông tin. Đây là cuộc gọi thứ năm trong tháng này, năm cuộc gọi đến từ những người khác nhau, và có lẽ do thất vọng vì bị từ chối nên họ không gọi lại nữa.
Tôi mở sổ tay lật qua trang trước đó, bút đỏ đánh dấu những điểm giống nhau của mỗi cuộc gọi. Hầu hết các cuộc gọi đều đến từ các khu vực như Ngõ Trạm, Hà Trung, Đường Thành, Cửa Đông..vv, các khu vực này nằm cũng gần nhau nhưng dường như không có mối liên hệ gì với nhau cả.
Những người gọi cho tôi thường báo cáo là họ thấy bóng trẻ con chỉ nằm quơ chân tay hoặc lẫn vào khe tường, gầm giường một trường hợp thấy bóng người lớn đứng im, đội nón và không có mặt, họ đều khẳng định là nhà không có trẻ con hoặc không “làm gì” có lỗi hay đắc tội với cõi tâm linh cả, họ chỉ là người bình thường bị mất ngủ do tuổi già và tình cờ nhìn thấy chúng vào giờ sớm.
Vốn đã quen đọc hồ sơ vụ án để lùng tìm các chi tiết tâm linh kì lạ, tôi thật sự rối não vì giờ đây tôi phải cố tìm một chi tiết logic trong cái câu chuyện tâm linh kì ảo mà tôi vừa vẽ ra. Rõ ràng họ không thể rơi vào tình trạng thôi miên tập thể hay có biểu hiện tâm thần được, những người này cũng không quen biết nhau nên chuyện này xem ra rất phức tạp và không hề có đầu mối.
“chắc mấy vụ trước mình hên thôi, làm gì có cái chuyện duyên gặp cõi âm được”
Tôi lại lầm…
Tôi nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ Hà Nội để trên tường. Những dấu gạch đỏ – nơi người ta thấy bóng – trông như vết máu đông trên bề mặt da. Dưới ánh đèn vàng, chúng run rẩy, vô thức, chắc phải nhờ cứu trợ thôi.
Tôi lục trong danh bạ, kéo đến tên "Thầy Huỳnh”
Chưa bao giờ gặp. Chưa từng video call. Chỉ nhắn tin và hai lần gọi thoại. Vụ trước, thầy đã cầu siêu cho bốn nạn nhân vụ thiên linh cái để giải thoát kiếp sống khùng điên cơ cực của cô Gấm, để xem thầy có ý kiến gì về vụ này dù sao đây không phải là vụ án hình sự, chỉ là hiện tượng tâm linh thôi.
Tôi bấm gọi.
Tút… Tút… "Alo?"
Giọng đàn ông, miền Trung, đặc sệt, khàn như gió lùa qua mộ đá:
"Ai đó? Giờ ni còn gọi?"
Tôi nuốt khan.
“Dạ… con là Hữu. Nhà báo. Người vụ thiên linh cái… dạ thầy còn nhớ?”
Ông im lặng vài giây. Rồi trả lời bằng một câu mà tôi không rõ là đùa hay thật:
“Đừng gọi là thầy. Ở đây ai kêu tui thầy là đêm về tui mất ngủ.”
“Dạ… con xin lỗi, là thói quen.”
“Ừ. Vụ mới à?”
“Dạ, ở Hà Nội. Nhưng không phải vụ án. Chỉ có… người thấy bóng trẻ con..”
“Ở đâu?”
“Ngõ Trạm. Gần phố Hà Trung, Cửa Đông. Toàn khu dân cư cũ.”
“Chỉ thấy bóng? Không bị nhập? Không có thương tích?”
“Bóng trẻ con đen xì, chỉ nằm quơ chân tay không có mặt mùi gì, duy có trường hợp thấy bóng người lớn”
Lại im lặng. Rồi tiếng ông thở khẽ – như đang xếp lại một cuốn sách cũ trong đầu.
“Cậu không cần kể nữa. Cái này… không phải do nhà ai bị, không phải âm lẻ. Mà là vùng vọng.”
“Vùng vọng… là gì ạ?”
“Tôi không biết miền Bắc các cậu gọi là gì. Ở đây tụi tôi gọi là vùng vọng – nghĩa là một vùng đất từng tập trung nhiều linh hồn, đến mức sau khi chuyện đã qua rồi… hình ảnh của chúng vẫn vọng lại. Không phải ma hiện. Mà ký ức của linh hồn hiện.”
“Bóng không làm gì con người, không xô ngã, không hù dọa. Nó chỉ bò, nằm, ngồi, ngó. Như thể… đang sống tiếp khoảnh khắc cuối cùng trước khi c.h.ế.t”
Tôi lạnh sống lưng. Tay cầm bút, nhưng không thể ghi nổi.
“Ở Trảng Bom năm 1996, có một vụ gần giống. Khu đó từng là nghĩa địa cũ. Sau giải tỏa, người ta dựng nhà máy làm thức ăn gia súc. Ba năm sau, cứ tầm 3 giờ sáng, bảo vệ đi tuần đều thấy bóng người trong xưởng, họ đi kiểm tra nhiều lắm cũng cầu siêu cho mấy người bi tại nạn lao động ở đấy nhưng không hết.”
“Tôi đến. Gieo quẻ, không thấy oán khí. Chỉ thấy một lớp năng lượng tái diễn. Kiểu như đoạn phim phát lại – không thể đuổi, không thể cúng. Vì không có linh hồn thật để gọi.” “Khi tôi đào lại lịch sử khu đó, mới biết ngày xưa từng là nghĩa trang, mà trước đó nữa khoảng năm 69 có vụ c.h.ô.n tập thể ở đây”
“Sau khi cậu nói ‘trẻ bò, ngó, chui vào góc’... tôi nghĩ đến đúng cảnh đó. Những đứa bé... tìm đường trốn, Nhưng không kịp.”
Tôi nuốt khan. Rồi hỏi khẽ:
“Vậy thầy nghĩ... chỗ này từng có trẻ con c.h.ế.t?”
“Tôi không dám chắc. Nhưng nếu đúng là vùng vọng, thì phải từng có một chỗ tập trung rất nhiều... trẻ em. Hoặc x.á.c t.r.ẻ. Hoặc nơi từng xảy ra sự kiện gì đó như c.h.ô.n tập thể chẳng hạn”
“Cậu có bản đồ cũ không?”
“Dạ không”
“Tôi nghĩ cậu nên tìm một vài tấm có tấm nào liên quan đến khu này xem có thể hiện một vùng nào đó có khả năng là nơi chứa x.á.c em bé không, kể cả các giai thoại nữa, thứ này tôi nghĩ chúng mất hồn rồi chỉ còn vía thôi, không hại người nhưng gây nhiều phiền hà cho cuộc sống lắm, cậu cứ x.á.c định đi rồi tôi sẽ tim cách cho”
Tôi ngắt máy.
Không phải là tôi không biết hay không nghe về một nơi như thế, vì thật sự có một nơi như thế thật….
…và cái nơi đó từng được nhắc đến, thấp thoáng, trong một cuốn sách cũ mà tôi đọc khi còn là sinh viên, lúc còn tin rằng mọi bóng ma trên đời đều có thể bị bóc trần bằng logic. Nhưng giờ đây, khi logic đã bất lực, tôi buộc phải quay về với trí nhớ và thư viện.
Hôm sau, tôi tìm đến Thư viện Quốc gia, mang theo bản ghi âm cuộc gọi, sổ tay và tấm bản đồ in dấu những vết đỏ mờ nhòe như vết máu khô. Tôi nhờ thủ thư tra giúp những bản đồ cổ về khu vực Ngõ Trạm, Hà Trung – cụ thể là các tài liệu từ thời Pháp thuộc trở lại trước Cách mạng. Một loạt bản đồ với những cái tên xa lạ hiện ra: Rue des Armuriers (Phố Hàng Bông), Rue des Généraux (Phố Quán Sứ), Rue de la Banque (Phố Hà Trung), và giữa chúng là những mảng ô vuông chi chít như tổ ong – nhưng tuyệt nhiên không hề có ký hiệu nghĩa trang nào nằm gần khu tôi cần tìm.
Tôi thất vọng, khép nhẹ bản đồ lại. Một bà thủ thư lớn tuổi, có lẽ đã để ý tôi từ đầu, ghé đến hỏi nhỏ: “Cậu tìm gì ở đó? Nhà cũ hay kiến trúc cồ”
Tôi không dám nói cái mục đích của mình, nên hỏi tránh đi “dạ, em tìm một khu vực kiểu mồ c.h.ô.n tập thể chắc từ thời Pháp hoặc xa hơn, đâu đó ngay khu Ngõ Trạm này”
“Tổ báo mộng à, khu này giờ đông đúc lắm không có đào bới lung tung được đâu?” bà thủ thư nói.
“Chỉ thắp nhang thôi, các cụ về nhiều quá em không ngủ được” tôi nói đại một cái lý do mà cũng khiến da gà nổi lên, hi vọng tổ nhà tôi không quở trách vì đã lôi các cụ ra làm lý do lý trấu.
“Tôi không biết đâu! Trước thời Pháp hay khoảng thời gian đó c.h.ế.t nhiều lắm, người c.h.ô.n tập thể cũng nhiều, có một vài vị trí có mồ tập thể nhưng không phải ở đây, cậu muốn coi thêm thì coi qua cuốn Hà Nội Cũ của cụ Doãn Kế Thiện ấy, tôi hay gọi là chuyện ma đời đầu nhưng cũng có nhiều tư liệu lắm”
Đầu óc tôi như tỉnh táo cả ra, đúng vậy! hồi làm luận văn ngành báo chí tôi đã từng tham khảo cuốn Hà Nội Cũ….
“Bóng trẻ em chạy qua lại……”
“Doãn Kế Thiện….”
“Mồ c.h.ô.n tập thể….không! nếu còn ấm ức chuyện nhân gian thì hẳn là chúng không muốn ở đây…không phải nơi để c.h.ô.n mà là nơi để bỏ….không phải Mồ mà là…..Hồ…”
“Đúng rồi! Hồ X.á.c t.r.ẻ!!!”
Lòng tôi nảy lên một cái như thể tháo được xương cá khỏi cổ họng, đúng vậy, tôi nhớ hồi đó thằng bạn tôi còn cảm thương câu chuyện mấy đứa trẻ bị ném xuống hồ trong thái độ cười cợt của chính tôi! Nhưng dù gì cũng phải tìm đọc lại đã.
“Cuốn đó ở đây có không ạ!”
“Khu sách văn hóa- lịch sử, dãy C” bà thủ thư ngồi bấm điện thoại và không thèm nhìn tôi khi trả lời.
“Dãy C…khu văn hóa….
“Đại Việt Sử Ký….Lịch Sử Hà Nội….Bàn Về Phở……Nghệ Thuật Hát Bôi…..Hà Nội Cũ – Đây rồi!”
Cầm nhanh cuốn sách qua một góc tôi lần giở từng trang. Những cái tên như mảnh chắp vá của một thế giới đã mất hiện ra: chợ Âm Phủ, gò Giết Trâu, ao Chuôm Vàng, cầu Hàn. Và rồi, ở đoạn viết về phố Hà Trung, tôi bắt gặp mấy dòng khiến lưng mình lạnh buốt:
Theo nhà văn Doãn Kế Thiện, hồ x.á.c trẻ xưa là một vũng nước rộng nằm sau phố Ngõ Trạm cũ, xuất hiện vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX. Đường đi được mô tả là từ đằng sau phố Ngõ Trạm cũ, hay gọi đúng tên cũ của nó là phố Hà Trung, qua một bãi tha ma rậm rạp, rồi đến một cái vùng rất rộng, bên này dọc theo phố Đường Thành, bên kia dọc theo đường xe lửa lên mãi tới khu Cống Đục bây giờ, đó là “hồ x.á.c trẻ". Tuy gọi là hồ, nhưng không lấy gì làm sâu lắm, chỉ những khi mưa to mới nổi nước, còn thì cứ xăm xắp quanh năm. Vì không có nước, người xưa đã lợi dụng làm nơi chứa các rác bẩn, về sau có thứ bèo Nhật Bản sản sinh, thì vũng ấy lại thành một vùng bèo rất xanh tốt.
Trong những rác rưởi chồng đống và những đám bèo xanh tốt ấy, hằng ngày người ta đã thấy những cảnh tượng rùng rợn thê thảm. Đó là những x.á.c t.r.ẻ con bị vùi dập. Những x.á.c trẻ con ấy một phần là những con nhà nghèo không được c.h.ô.n cất, một phần là của những đứa con bị chết nhưng có cha mẹ mê tín sợ c.h.ô.n cất tử tế thì nó thương tiếc thường hay lộn lại, nên quăng bỏ đi cho thoát nợ. Ngoài ra, ở đó còn một số trẻ hoang t.h.a.i, kết quả của những cuộc tình vụng trộm trong sự hà khắc của lễ giáo phong kiến. Bởi, hồi ấy xã hội Việt Nam còn chú trọng lễ giáo cũ, những cặp đôi vì sự yêu thầm dấu vụng mà có t.h.a.i, sợ dư luận chỉ trích, mong trút ra để tống quái cho êm chuyện. Người đi đường thời bấy giờ, nhìn thấy cảnh tưởng ghê gớm ấy, ai nấy cứ nhắm mắt bỏ qua. Nhiều khi người đi đường lại thấy cả những x.á.c người lớn bị á.m s.á.t do h.u.n.g t.h.ủ đã giấu hay quăng bỏ vào đó phi tang đi.
Tim tôi đập chậm lại. Tôi lật sang trang khác, tìm các chú giải địa lý. Một đoạn ghi rõ: “Hồ này không còn, đã bị san lấp khi người Pháp mở rộng khu phố Rue de la Banque (Hà Trung), phía sau các số nhà từ 22 đến 32. Dấu tích còn lại chỉ là một đoạn nền thấp, thường tụ nước mưa.” Tôi đối chiếu lại với bản đồ cổ năm 1911. Đúng là tại vị trí đó – giữa một mảng trắng không đề tên, bị kẹp giữa các tuyến phố, là một khoảng đất trống không giải thích. Trên bản đồ sau này thì chỗ ấy biến mất.
Tôi nhớ lại từng đoạn, nhớ luôn cái điệu cười cợt trước sự thương cảm của thằng bạn năm đó, đối với tôi đây chẳng qua chỉ là câu chuyện dân gian hấp dẫn…thế thôi.
Giờ tôi biết tôi đã lầm.
Hồ x.á.c t.r.ẻ là có thật? Không ai gọi tên nó bằng tiếng chính thức. Không ai đánh dấu nó trên bản đồ. Nhưng nó từng ở đó. Một nơi dùng để quên – và bị lãng quên – bởi cả thành phố. Nhưng lũ trẻ thì chưa quên.
Tôi rút sổ, tay run lên vì không còn phân biệt được nữa đâu là cảm giác của một người viết báo, đâu là cảm giác của một kẻ sắp bước chân vào cõi tối.
Ghi chú: Vùng vọng – Ngõ Trạm, Hà Trung. Từng tồn tại hồ x.á.c t.r.ẻ sơ sinh – bị c.h.ô.n tập thể từ thập niên 1930, theo ghi chép của Doãn Kế Thiện trong Hà Nội cũ. Không có trong bản đồ chính thống. Cần x.á.c định thực địa phía sau dãy số 22–32 Hà Trung. Dấu hiệu trùng khớp với hiện tượng linh ảnh lập lại.