Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng


Kinh thành Thăng Long gồm 3 vòng thành: Vòng ngoài gọi là La Thành; Vòng giữa là Hoàng Thành; Vòng trong cùng là Cấm Thành. Đây là một trong những công trình quan trọng nhất còn lại của Hoàng thành Thăng Long.
Ngay sau khi lên ngôi vua được một năm, Lý Công Uẩn đã xuống chiếu dời đô về thành Đại La. Nhưng công lao xây và hoạ tiết là văn minh Champa. Đại Việt thời đó vẫn là đám mọi
Những khu định cư của người Chăm được thiết lập xung quanh Thăng Long cả Đông, Nam, Đoài, Bắc. Các nhà nghiên cứu đã biết đến những địa danh như thôn Bà Già bên Hồ Tây (nay thuộc đất làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) là nơi an cư của tù binh Chămpa từ thời Lý Thánh Tông (Nguyễn Vinh Phúc, 1977: 280-281). Qua bên kia sông Hồng, đến làng Võng La, một địa bàn ngay sát sông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện trong ngôi chùa làng 2 pho tượng Chămpa chính hiệu, một là tượng thần Shiva, chất liệu sa thạch, một là tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) tiếc là pho tượng này đã bị đánh tráo từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy nhiên pho tượng đá còn lại và phiên bản của pho tượng bị đánh tráo thì không ai có thể nói là không phải của người Chăm (Nguyễn Tiến Đông, Nguyễn Hữu Thiết, 2005: 806-808).

Tượng thần Shiva (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Chất liệu đá, nguồn: Nguyễn Tiến Đông
Tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Phục chế, nguồn: Nguyễn Tiến Đông

Tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Phục chế, nguồn: Nguyễn Tiến Đông
Bên xứ Bắc, cả một quần thể di tích chùa chiền được khởi dựng từ thời Lý với những chứng cứ về sự có mặt của văn hoá Chămpa như cột đá chùa Dạm, bệ sen chùa Phật tích, hình tượng chim thần Garuda chùa Phật Tích... Điều đó gợi ý rằng làng Võng La cũng có thể là một trong những làng của người Chăm xưa. Chúng ta đều biết ở nhiều ngôi chùa Việt Nam người ta đã thống kê được hàng trăm bệ đá hoa sen mang dấu ấn của văn hoá Chămpa với những nét chạm khắc tinh xảo mà tôi nghĩ có sự tham gia của các nghệ nhân Chăm. Những ngôi tháp cổ như Chương Sơn, Bình Sơn với những đặc trưng về gạch, đất nung và đặc biệt là trang trí rất gần gũi với văn hóa Chămpa từ lâu đã được nhiều người biết tới và Nguyễn Hồng Kiên đã cho rằng nơi đây có sự góp mặt chung tay xây dựng của những người thợ Chămpa mà anh còn nói thẳng ra là tù binh Chămpa (Nguyễn Hồng Kiên, 2000: 744-745). Ở vùng ven sông Đáy thuộc huyện Đan Phượng (Hà Tây cũ, ngoại ô kinh thành Thăng Long xưa) ngoài hệ thống các chùa những bệ đá hoa sen ảnh hưởng từ hình thức bệ thờ Chămpa đã được nhắc đến, người ta còn thấy dấu vết của các công trình dân sinh như những giếng nước được xây bằng kỹ thuật của người Chăm ở xã Song Phương. Điều này cho thấy những người Chăm đến Đại Việt không chỉ mang đến những tác phẩm nghệ thuật mà còn mang theo cả những kiến thức, những kỹ thuật phục vụ cho cuộc sống thường nhật của cộng đồng (Nguyễn Tiến Đông, Ogawa Yako, 2000: 717-718). Có một hình tượng điêu khắc thể hiện cả yếu tố văn hóa vật thể lẫn phi vật thể có nguồn gốc Chăm mà người ta không thể không nhắc đến ở Đại Việt, đó là những pho tượng Phỗng Chàm. Có thể thấy ở bất cứ đâu từ các tỉnh miền núi phía Bắc, đến châu thổ sông Hồng, Thanh Hoá... trong những ngôi chùa, đền, đình đều có sự hiện diện của hình tượng này. Tư liệu văn hóa dân gian cho thấy: “Ở làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân,Thanh Hoá trước kia còn có một trò diễn trong lễ hội làng gọi là trò Chiêm Thành, với 14 người tham gia (1 chúa, 1 nàng, 2 phỗng, 10 quân). Hai phỗng này làm động tác quỳ dâng hương và động tác quỳ bái rất giống với các pho tượng phỗng Chàm” (Nguyễn Xuân Diện, 2000: 727).
Văn minh Chăm pa quá lớn, Chămpa xây 100% Hoàng Thành Thăng Long
Múa dân gian “Con đĩ đánh bồng” thường được thấy trong các hội làng ở châu thổ Bắc bộ, nhất là bên Kinh Bắc và Phú Thọ khá giống với điệu Múa bóng ở xóm Bóng, thành phố Nha Trang, một lưu dấu rõ nét của điệu múa Chămpa (Ngô Văn Doanh, 2006: 48-53). Tài liệu cũng cho biết vua Lý rất mê khúc nhạc Tây Thiên của Chămpa. “Tháng 8, ban ra khúc nhạc và điệu đánh trống của Chiêm Thành khiến nhạc công hát” (Ngô Sĩ Liên, 1967: 231) Hình ảnh trên cho thấy sự đồng điệu về các nét chạm vũ công trên bệ thờ Mĩ Sơn E1 với hoạ tiết vũ công trên đồ gốm ở Hoàng thành Thăng Long.

Vũ nữ trên mô hình tháp bằng gốm men trắng (18 Hoàng Diệu, Hà Nội)


Viên gạch khắc chữ Chăm tại 18 Hoàng Diệu.
Nếu như những viên gạch của thời kỳ Đại La chủ yếu có màu xám với độ nung khá cao, cứng và khó chạm khắc thì gạch của Hoàng Thành Thăng Long thời kỳ này đại bộ phận là có màu đỏ tươi, chất liệu mịn, độ nung không cao và dễ gọt cắt, chạm khắc. Những đặc trưng kỹ thuật này cho thấy đã có sự thay đổi lớn trong kỹ thuật làm gạch để phục vụ cho một ý đồ tạo hình và xây dựng khác với thời trước đó. Kỹ thuật này có thể đã được tham khảo từ kỹ thuật làm gạch của Chămpa
Vật liệu đá

Chân tảng đá hoa sen tại 18 Hoàng Diệu
Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại 18 Hoàng Diệu
Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại tháp Dương Long

Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại 18 Hoàng Diệu

Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại tháp Dương Long
Trên kinh thành Thăng Long người ta có thể nhận thấy có rất nhiều cấu kiện kiến trúc bằng đá, chủ đạo là sa thạch, một loại đá rất gần gũi với người thợ Chămpa.
Nghệ thuật tạo hình

Lá đề cân trang trí hình chim phượng tại 18 Hoàng Diệu
Lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên trán các ngôi đền thờ Chămpa
Còn lá đề lệch, nhìn qua ta thấy đâu đó phảng phất hình bóng của vật trang trí góc tháp Chăm (người Pháp gọi là pierre d’accent). Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn là vậy, chỉ phảng phất thôi và ở Chămpa nó được đặt ở các góc tháp, đền để tạo nên sự bay bổng, nhẹ nhõm cho một khối gạch đá khổng lồ. Còn ở đây, nó chạy dọc hai bên bờ nóc, chạy xuống bờ dải cùng với tàu mái lượn lên, với những hàng ngói ống có đầu ngói trang trí phong phú và cái lá đề tinh xảo trên lưng tạo nên một bộ mái mỹ miều và thanh thoát. Đó là nét đặc trưng không ai phủ nhận được của một bộ mái cung đình Đại Việt.
Lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên trán các ngôi đền thờ Chămpa

Lá đề lệch trang trí hình rồng tại 18 Hoàng Diệu
Tượng Makara (Chămpa) tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng
Tượng đầu rồng tại 18 Hoàng Diệu
Rồng Tháp Mẫm, Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng
Mặt hổ phù đất nung tại 18 Hoàng Diệu
Mặt Kala trên tường tháp Mĩ Sơn F1
Tượng Kinari chùa Phật Tích, Bắc Ninh

Tượng Makara (Chămpa) tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng

Tượng đầu rồng tại 18 Hoàng Diệu

Rồng Tháp Mẫm, Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng

Mặt hổ phù đất nung tại 18 Hoàng Diệu

Mặt Kala trên tường tháp Mĩ Sơn F1

Tượng Kinari chùa Phật Tích, Bắc Ninh
Lại bàn thêm về một số hình tượng khác như đầu rồng, chúng ta dễ nhận thấy rồng thời kỳ này có cái vòi, cái nanh, cái lưỡi mang dáng dấp của makara Chămpa (Hà Bích Liên, 1998: 75-80).
Nên nói thẳng Hoàng Thành Thăng Long, Đại Việt chẳng có giá trị đóng góp cặc gì cả. Đụ mẹ nhân vơ là giỏi. Tau nói có sách, có chứng cứ! Cãi thế Lồn nào được? Mấy thằng sử gia Cộng Sản?