Cảnh báo lừa đảo‼️ Khôi phục văn học miền nam bộ !!

aidokhongphailatoi

Địt Bùng Đạo Tổ
RỪNG MẮM



Hò… ơi! Rồng chầu ngoài Huế,

Ngựa tế Đồng Nai

Nước sông trong sao cứ chảy hoài


Thương người xa xứ lạc loài đến đây.

Truyện Ngắn Bình Nguyên Lộc

Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói từ nãy đến giờ, chờ đợi cái phút này đây.

Thật là huyền diệu, sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.

Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.

Cộc ngửa mặt lên trời để theo ông câu kỳ dị và tài tình ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại.

– Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá.

Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.

Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.

Thặng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, chỉ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.

Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.

Nhưng không hiểu sao một hôm, tía má nó bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con, rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng này đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm ổ Heo.

Nghĩ đến những năm cũ, thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.

Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui, vẫn còn sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy thường kể chuyện cho Cộc nghe, những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng tràm tối mịch hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn dùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thặng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.

Chưa bao giờ mong mỏi của Cộc được thỏa mãn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người thì tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước:

Hờ ơ… tháng ba cơm gói ra hòn.

Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai.


Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà hò. Cặp vợ chồng này Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là nghe hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về.

Thà là không được ăn, chớ còn ăn một chút xíu thì cái vị của món ăn còn chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nhìn xuồng chèo khuất dạng thì xây lưng tức khắc để chạy lên ổ Heo.

Trọn vùng này, ông nội nó đã đặt tên là ổ Heo nhưng riêng trong gia quyến nó thì ổ Heo chánh hiệu là một cái gò xa ở tận trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú.

Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một cái ổ heo rừng.

Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và canh tác của gia quyến nó về sau này đã đuổi thú dữ đi xa. Tuy nhiên, đề phòng chúng trở về, ông nội nó đã cấm nó lên ổ Heo một mình.

Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì ổ Heo có sức quyến rũ như một trái cấm. Nhưng về sau, nó đã gặp người ở nơi đó.

Đó là vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông, đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán.

Đó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi.

Cộc chạy qua khỏi ruộng nhà, và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm vì nó chạy dưới nước và dưới bùn mặc dầu lúa đã đến mùa gặt.

Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ.

Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng và lửa như con vật khổng lồ, đã táp một cái vào khối thịt xanh um của biền rừng tràm này. Thành ra ruộng nhà nó mang một hình tròn kỳ dị, không tròn đều đặn vì không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.

Cộc nhìn ruộng mình một hơi rồi cười khan lên. Đám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc, đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.

Lúa ruộng chín, cây lúa cao quá, ngã rạp xuống để lòi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được nầy, tía thằng Cộc dành cấy lúa giữa những gốc ấy, mãi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa tràm chết cũng vẫn còn đưa cẳng lên như vậy.

Sau lưng Cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng “Chết Nhát”, cứ mỗi năm chết lần mòn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, căm hận nhìn chiếc chòi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đã lấn đất của chúng, đã sát hại chúng.

Sau đó, rừng chàm dày mịt, chằng chịt những dây bóng bong, dây choại bò từ thân cây nầy qua thân cây khác.

Thằng Cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây bình bát, cây rán, mọc xen với tràm, để đi tới đích.

Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó khua lên một cái roạch, làm nó giựt mình, nhưng tiếng người trên ổ Heo cách đó chừng hai hàng cây giúp nó vững dạ.

Tiếng đờn bà hỏi:

– Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao?

Tiếng đờn ông đáp:

– Thằng Mùi thì qua cho một loi là nhào hớt.

Cộc vẹc cỏ, lá, đi mau đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh thì hai người có mặt trên gò ổ Heo sợ hãi ngồi dang xa ra. Người đờn ông gác cuốc là người quen, người đờn bà nhỏ bên thì lạ hoắc. Chị này trẻ đẹp hơn tất cả những chị nó quen biết từ lâu.

Người đàn ông trấn tĩnh lại ngay, ngoắc nó lại mà hỏi:

– Muốn về trên hay không Cộc? Muốn thì đi theo chị Hai mầy đây, chị có một đứa em gái ngộ lắm.

Trong khi thằng Cộc mắc cỡ đỏ tía tai thì chị đờn bà hỏi anh kia:

– Ở miệt này có người sao anh?

– Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm.

– Quen hay lạ?

– Lạ. Họ ở trên Sa Đéc lận.

Chị đờn bà an lòng, vui lại được và nói với Cộc để mua lòng kẻ đã bắt chợt việc thầm lén của chị:

– Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu một chỗ như vậy. Em có muốn thì phải ở rể thôi.

Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau.

Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Mình trần của nó nổi u nổi nần những bắp thịt rắn như nắm bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.

Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó. Năm nay nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vậy là xấu đến mức nào và phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm.

Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:

– Chị không ăn thịt em rể chị đâu mà sợ. Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa. Làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà.

– Nó muốn trốn để theo qua dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó còn ngại.

– Ngại gì?

– Thì lo sợ cái việc xa xôi, đất lạ đó mà.

– Em nè, chị đàn bà lại hỏi, nhà có mấy người?

– Bốn người.

– Ai với ai?

– Ông nội tôi, tía tôi, má tôi với tôi.

– Làm mấy công đất?

– Hồi đó bốn công, bây giờ mười công.

– Gặt được mấy giạ mỗi mùa?

– Tám giạ.

Chị đàn bà cười ngất một hơi rồi day lại hỏi nhân tình:

– Trời ơi, ruộng gì mà mười công đất chỉ gặt được có tám giạ thôi?

Người đàn ông không cười, đáp:

– Đất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết.

– Rồi lấy gì mà ăn, em nhỏ?

– Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm.

– Đổi bằng gì?

– Bằng cá khô. Với lại nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. ở đây rùa nhiều như kiến. Đốt rừng rồi đón trên đầu gio một cái là chúng nó lạch cạch chạy trốn, bắt không kịp lận.

Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại một hơi rồi nói:

– Nãy giờ chị nói chơi đó. Nhưng không biết tình cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị, hoặc theo anh đây cũng được.

Chị ta với tay ra sau lưng lấy bầu nước ngọt, mở nút rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị nuốt ừng ực vài cái rồi nói:

– Em có được ăn chè lần nào không?

– Không, từ năm năm nay rồi. Cách đây một ngày đường không có nhà của ai cả, không có quán, tiệm gì hết. Với lại cũng không có tiền.

– ở Sa Đéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U Minh này?

– Tui cũng không biết tại sao? ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả.

– Chị cũng không biết. Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở Cao Lãnh hay không?

– Gần.

– Em có nhớ xoài Cao Lãnh hôn?

– Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tui sẽ được ăn ngọt đấy. úy chà! Trưa rồi chắc tới bữa cơm, thôi tui về nhà, anh chị?

– ừ về, mai mốt lại lên đây nữa nhá?

– Xuồng anh chị ở đâu?

– Dưới kia. Nhổ bồn bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa è mà! Em Cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không?

Chuỗi cười của hai người nhơn tình ấy đuổi theo lưng Cộc khiến cho nó trong giây phút không muốn về nhà nữa.

Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.

Thằng Cộc về tới nhà, thì cơm trưa đã dọn.
 
– Mầy đi đâu mà tới đứng bóng mới về? Má Cộc hỏi.



– Tôi đi lượm lông chim lông ô.



– Lông đâu?



– Mà kiếm hoài hổng có.



– Mồ tổ cha mầy, nhiều chuyện. Chim lông ô đời xưa chớ đời nay đâu còn nữa. Mai gặt nghe không? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng chớ đừng đi đâu hết.



Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tích ở đây lâu ngày rồi, đã gần biến thành á khẩu vì thói quen.



Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi nãy trên gò ổ Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó.



– Nội nè, hồi tôi mới tới, giữa mùa nắng, mình uống nước gì tui quên rồi?



Nó hỏi như vậy vì nó vừa nhìn ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đã ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đã được đào năm năm rồi.



– Uống nước đọng trên lung, trên rừng chớ nước gì.



– Sao mình lại tới đây ông nội?



– Đã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng làm công khổ cả đời.



– ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Ông nội thằng Cộc làm thinh. Nó nhìn ông nội nó rồi chợt nhận ra năm nay ông cụ già quá. Tóc râu ông cụ đã trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than mình chết ngày nào không biết chừng, thường than mình nhớ mồ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông, nên dòm ra sân để quên.



Bấy giờ bóng bốn nồi rau đã tròn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn thế mà rất nhiều công dụng đối với gia đình nó.



Để tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đã đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về. Đất ở đây mặn chát dùng không được. Hành ớt, rau răm, rau òm om được trồng trong mấy vườn cao đẳng đó. Đó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.



Bốn miệng vườn cao đẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà này vào mùa khô. Cứ xem bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon.



Nhìn sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô hỏi tía nó:



– Năm nay mình gặt cỡ bao nhiêu tía?



– Nhờ ông bà, đất nước, được hăm lăm giạ là ít lắm.



– Cũng chưa đủ ăn.



– Đủ gì mà đủ, má nó nói – nhà mình phải ăn trăm rưỡi là số chót.



– Với lại, tía thằng Cộc trở vào câu chuyện tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới tao gieo giống Tằm vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng thì năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó.



Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy gì là sáng lạn cả. Trồng ổi cũng phải lâu mới có trái, trong khi đó, nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đình, nhớ hát bội và bị một hình ảnh mới quyến rũ, hình ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn bồn, tức là có duyên lắm.



Con trai làng thấy con gái thường là thế, mà họ còn thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ gì là nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại là không có gì quyến rũ cả. Đứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo mọc ra một chòm đuôi dài trông đến buồn cười.



Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm gì, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy.



Những cô con gái lớn chưa thấy hình ấy, mà đã có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.



Thẫn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi nãy, và giận dỗi thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng:



– ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta.



Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác lên đầu nọc thường.



Đó là những gốc tràm mà chảng hai chè ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đã trừ xa, đốn ở trên chảng hai ấy độ một gang rưỡi, nên bây giờ mới có nọc nạng rất tiện mà dùng gác lúa.



Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng.



Đủ thứ là cò, cò ma, cò lông bông, cò quắn, cò hương thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Đây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng này; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được ba bốn thế hệ cò rồi.



Má thằng Cộc lội sình tới đầu gối, và lội nước gần tới háng, nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết.



Bà ta đằng hắng cất tiếng hò:



Hờ ơ… Tiếng anh ăn học lầu thông



Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường



Hò xong câu đó, bà lắng đợi chồng bà hò đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ:



– Tía nó sao câm cái miệng, không bắt vậy!



– Hứ, nhiều chuyện này mà rồi còn hò với hát, bắt với nghoẹo. Bộ còn trai gái đó sao?



Vì vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đã quá mùa hò rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà còn con gái và ngay bây giờ đây tóc đã nhuốm hoa râm rồi, bà cũng có thể hưởng được nếu còn ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ hò đối đáp với nhau.



Thằng Cộc thì xôn xao trong lòng, nhớ lại lời chị nhổ bồn bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng thì ai cũng ưa. ừ nó sẽ hò đối đáp với con Thôi. Chậc! mà nó phải nhờ má nó dạy hò mới được. Nó có nghe hò lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.



Đến chiều thì xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa ra bờ rạch, còn tía, má nó và nó thì lội nước sình mà về bộ.



Đập lúa và phơi phong mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ phẳng lì giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.



Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường.



Câu hò của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, chớ đâu được phép trả lời bằng văn xuôi.



Khăn lông là vật dụng mà nó đã quên rồi thì còn biết là mấy đường để đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da.



Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như là bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi.



Hôm ấy dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói:



– Ngày mai ra biển.



Không ai hỏi ra biển để làm gì hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp đáp.



Con rạch ổ Heo trước nhà, nếu có đi trên đó thì phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà tìm làng mạc sầm uất, chớ xuôi dòng ra biển, thì còn nghĩa lý gì nữa chớ?



Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua đi một chuyến lắm, mà không được phép đi.



Chuyến đi đâu đến một chân trời lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả.



Ông nội nói tiếp, dặn mẹ nó:



– Con mẹ Trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.



Rạch ổ Heo nhỏ xíu cho nên tràm ở hai bên bờ giao nhành với nhau được, và phủ kín cả mặt nước.
Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới hiểu thấu nghĩa hai tiếng “hang mai” trong câu hát của bọn đi bắt ba khía.



Những nơi ánh nắng lọt vào được thì hai bên bờ, ô rô và cóc kèn mọc đầy.



Nước ròng chảy xiết xuồng trôi bon bon, tuy vậy ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới, hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó.



Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa.



– Nước đứng rồi, ông nội nói, tức là gần tới cửa rồi.



Họ nghỉ chèo, để xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng chẳng lùi, rồi lấy cơm dở trong mo ra ăn.



Không đi thời thôi đã trót đi, và lúc gần đến đích thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi:



– Ra đó làm gì ông nội.



– Rồi mầy sẽ biết.



Họ ăn cơm xong thì nước bắt đầu lớn. Họ chèo nước ngược cho đến quá đứng bóng thì đến một nơi mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển.



Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà không thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, ngoài một chỗ xa tít mù khơi, hai bên bờ rạch cây vẫn mọc xanh um, và ở ngoài đầu kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một tấm vách tường xanh như da trời.



– Biển ở đâu, ông nội? Cộc hỏi.



– Đằng xa kia, xanh xanh đó.



– Sao không ra ngoài, ông nội?



– Không cần.



Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cậm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.



Ông nội gọi Cộc lại gần rồi hỏi:



– Con có thấy gì khác lạ không.



– Không, ông nội à?



– Không thấy? Cây ở đây không khác cây sau lưng mình à?



– à… phải rồi.



Cộc nhìn lại quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ có bùn, tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bia lãnh thổ mình.



Hết tràm thì có một khoảng trống nửa bùn nửa đất, trên ấy cỏ ống mọc rậm rì và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.



Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom, chen nhau mà vượt lên cao, cây này cách cây kia không đầy bốn gang tay.



Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi, tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa.



Xa, xa lắm, có những cây mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công.



– Nhìn xuống gốc cây! Ông nội bảo.



– Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp.



– Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc.



Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy.



– Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây ấy bao giờ.



– Con không nghe, vì cây ấy không dùng được để làm gì cả cho đến làm củi chụm cũng không được.



– Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cây cỏ ấy.



– Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủng và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.



Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:



– Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giầm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.



Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.



Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?



Thằng Cộc nhìn lại ông nội nó và thương không biết bao nhiêu ông già đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của ổ Heo.



Phải, cứ theo dự đoán của gia đình thì nó sắp được hưởng tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều.



Nó nắm chặt tay ông nội nó và thấy nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà.



– Ông ơi, nó than, nhưng tràm buồn quá!



– Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cấy ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng ổ Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu.



Tràm hết buồn vì sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần…



– Và sẽ có chè ăn?



Ông nội cười ha hả mà rằng:



– Gì chớ chè thì sẽ có lu bù.



– Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm về ổ Heo?



– Hai năm nữa người ta sẽ đồn đất ổ Heo thuần… Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây.



Ông nói điều này, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ miền trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm cả, từ xứ Đồng Nai nước ngọt tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.



Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường để làm cầu cho bạn đi sau vào nơi có chất ngọt.



Tất cả mấy lớp tiên phong đầu đều ngã gục như rừng mắm rồi ông sơ ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn…



– Tía!



Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không và kêu tía nó bằng một giọng thương yêu trìu mến hết sức.



– Thôi nhổ sào đi về cho kịp con nước, ông nội ra lịnh.



Ông nội vui vẻ quá, ông bỗng nhớ sực lại những câu hò của thế hệ người tiên phong đi khai thác đất hoang ở miền nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:



Hò… ơi! Rồng chầu ngoài Huế,



Ngựa tế Đồng Nai



Nước sông trong sao cứ chảy hoài



Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
 
tập 3 : Ngọn cỏ gió đùa - Hồ Biểu Chánh

(Cảm tác Les Misérables của Victor Hugo)

Năm mậu- thìn (1808) nhằm Gia- Long thất niên, tại huyện Tân- Hòa, bây giờ là tỉnh Gò- Công, trời hạn luôn trong hai tháng, là tháng bảy với tháng tám, không nhểu một giọt mưa. Lúa sớm gần trổ, mà bị ruộng khô nên không nở đòng đòng 1, lúa mùa vừa mới cấy, mà bị đất nẻ 2, nên cọng teo lá úa.

Cái cánh đồng, từ Rạch- Lá tới Bến- Lội, là vú sữa của nhơn dân trong huyện Tân- Hòa, năm nào cũng nhờ đó mà nhà nhà đều được no cơm ấm áo, ngặt vì năm nay cả đồng khô héo, làm cho dân cả huyện trông thấy đều buồn- bực thở than.

Tại Vồng- Tre có nhà bà Trần- Thị bần cùn đói rách, thuở nay trời cho trúng mùa mà nhà bà cũng không được vui, huống chi năm nay mất mùa, thiên hạ nhịn đói, thì nhà bà càng thảm khổ hơn nữa.

Bà Trần- Thị đã 65 tuổi rồi, bà góa chồng mà con trai lớn của bà là Lê- văn Ðây cũng bất hạnh, khuất năm trước, để lại cho bà một nàng dâu là Thị- Huyền, với bảy đứa cháu nội, đứa nhỏ hơn hết thì còn bú, đứa lớn hơn hết thì chưa quá 12 tuổi.

Bà già yếu, từ đầu năm chí cuối năm thường òi ọp hoài, còn Thị- Huyền thì bị sắp con thơ, đứa dắt, đứa bồng nên có đi làm thì đi hái rau, bắt ốc, một giây một lát mà thôi, chớ không đi làm mướn làm thuê tối ngày cho được.

Tuy vậy mà bà Trần- Thị nhờ có thằng con nhỏ, tên là Lê- văn- Ðó, tuổi vừa mới hai mươi, vóc- vạc cao lớn, sức lực mạnh- mẽ hơn người, tánh nó chơn- chất thiệt- thà, trí nó chậm- lục u- ám, song nó hết lòng lo làm mà nuôi mẹ già, nuôi chị dâu, nuôi cháu dại.

Khi Lê- văn- Ðó mới được 12 tuổi, thì cha mẹ đem cho ở đợ chăn trâu cho nhà giàu.

Hễ trời gần sáng thì Lê- văn- Ðó đuổi trâu ra đồng, rồi khi thì nằm dưới tàng cây lớn, lúc thì ngồi trên lưng trâu cò 3, dầm mưa dang nắng tối ngày, bữa nào cũng như bữa nấy, trời chạng- vạng tối rồi mới về nhà chủ được.

Có lẽ Lê- văn- Ðó nhờ ở ngoài đồng luôn luôn hấp thụ thanh khí nên sức lực mạnh- mẽ khác thường, nhiều khi trâu chạy, nó nắm đuôi mà kéo, trâu phải đứng lại, chớ không chạy nổi.

Mà có lẽ cũng tại Lê- văn- Ðó ở ngoài đồng luôn luôn, gần- gũi với trâu bò, bạn bè cùng cây cỏ, nên trí tuệ không phát được, không biết lễ nghĩa, mà cũng không thông- thế sự chi hết.

Lê- văn- Ðó ở đợ gần 8 năm, đến năm ngoái anh cả là Lê- văn- Ðây chết rồi, mẹ mới đem về để giúp đỡ trong nhà và cho làm mướn làm thuê mà nuôi sắp cháu.

Hồi đầu mùa mưa, Thị- Huyền xới đất trồng khoai, vun vồng 4 tỉa bắp chung quanh nhà, còn Lê- văn- Ðó thì đi cày mướn lấy tiền đổi gạo đem về nuôi mẹ và nuôi sắp cháu.

Hết cày rồi tới cấy, thì Lê- văn- Ðó lại đi nhổ mạ đắp bờ, làm cực nhọc tối ngày, tuy tiền công không được bao nhiêu, song mẹ với chị dâu tiện tặn, người xúc tôm bắt cá, người đào củ hái rau, khi ít thì để ăn, khi nhiều thì đem bán, nên trong nhà dầu không dư ăn dư để, chớ cũng không đến nỗi hụt thiếu bữa nào.

Ðến tháng chín tháng mười, ngoài đồng chẳng còn công việc gì làm nữa, mà trời hạn thất mùa, lúa cao gạo kém, các nông- gia đều ngồi khoanh tay nhau nháu 5, nên cũng không ai mướn làm việc gì trong nhà.

Trong huyện Tân- Hoà lúa cũ đã ăn hết rồi, còn lúa mới thì không có mà ăn tiếp. Các nhà nghèo thảy đều khốn- đốn nên có nhiều người phải bỏ nhà dắt vợ con qua xứ khác mà kiếm ăn.

Lê- văn- Ðó ngày nào cũng vậy, hễ sớm mai thức dậy thì đi từ xóm nầy qua xóm nọ, kiếm chỗ làm mướn đặng lấy gạo đem về cho mẹ với sắp cháu ăn, mà đi năm ba ngày mới có người ta mướn làm một ngày, lại ngày nào làm được thì họ huờn công (trả công) bằng một vùa gạo (một nửa sọ dừa dùng đong gạo), không đủ nấu cháo cho gia quyến húp mỗi người một chén, có đâu tới nấu cơm chia nhau ăn cho no được.

Lúc ban đầu trong nhà còn khoai còn bắp, hễ bữa nào Lê- văn- Ðó kiếm gạo không được thì Thị- Huyền nấu khoai hoặc bắp, rồi chia cho sắp con mỗi đứa con một củ khai, hoặc đôi ba muỗng bắp mà ăn đỡ, sắp nhỏ ăn không no, đến tối Lê- văn- Ðó đi làm về, chị dâu lấy tộ bắp nấu để dành mà đưa cho Lê- văn- Ðó ăn, thì sắp nhỏ bu lại đứng ngó lom lom, đứa xin cho một vài hột. Thị- Huyền rầy con, biểu để cho chú ăn no, đặng ngày sau có sức đi làm mà kiếm gạo. Sắp nhỏ sợ mẹ nên dang ra, song bụng đói quá, nên mặt buồn xo. Lê- văn- Ðó thấy vậy thương xót, không đành ngồi ăn một mình, day qua bên nầy đút cho đứa nầy một muỗng, trở qua bên kia đút cho đứa khác một muỗng nữa, đút gần hết tộ, té ra cũng không còn đủ cho nó ăn no được.

Cách chẳng bao lâu, khoai bắp trong nhà ăn đã sạch hết. Bữa nào không ai mướn Lê- văn- Ðó làm, thì cả nhà đều phải luộc rau luộc cỏ mà ăn đỡ, chớ không có cháo mà ăn. Sắp nhỏ nhịn đói mặt mày vàng ẻo; còn Trần- Thị đã già yếu rồi, mà trót mấy tháng nay bà lại chịu cơ hàn nữa, nên bà nhuốm bịnh nằm thiêm thiếp không dậy nổi.

Một bữa nọ Lê- văn- Ðó đi tối một ngày mà không có ai mướn làm việc chi hết. Lúc trời chạng- vạng tối, nó trở về nhà, hai chơn mỏi rụng, bụng đói xếp ve, lỗ tai lùng- bùng, cặp mắt cháng- váng. Chừng gần tới nhà, nó dừng chưn lại, gục đầu ngó xuống đất một hồi, rồi chậm rãi bước từ bước, dường như nhút nhát không muốn trở về nhà.

Nó bước vô tới đám bố 6 trồng trước cửa, thì thấy trong nhà không có đèn đuốc chi hết, mà may nhờ có bóng trăng dọi, nên tuy không đèn nhưng sáng lờ mờ. Nó lén đi vòng qua phía tay mặt, rồi vạch vách lá mà dòm vô nhà.

Thị- Huyền đương bồng đứa con út mà cho bú. Bỏ ba đứa nhỏ chạy chung quanh, một đứa nằm trên võng, một đứa vịn vai Thị- Huyền, còn một đứa ngồi bên cửa, khóc và nói rằng:

- Ðói bụng quá, lấy gì ăn bây giờ má?

Thị- Huyền đáp rằng:

- Nín đi, đừng có khóc con, đợi chút nữa chú con về đem gạo về, mẹ nấu cơm cho con ăn.

Ba đứa lớn nằm co trên ván phía bên nầy, lặng thinh như ngủ, chừng nghe Thị- Huyền nói như vậy một đứa ngóc đầu hỏi rằng:

- Chừng nào chú con về, má?

Thị- Huyền đáp rằng:

- Một chút nữa chú con về.

Ðứa lớn hơn hết lại khóc mà nói rằng:

- Hôm qua chú về không có đem gạo về, sợ bữa nay cũng không có nữa.

Tên Ðó đứng ngoài nghe như vậy, rồi lại thấy Thị- Huyền lấy vạt áo lau nước mắt.

Nó đi vòng vô phía trong, khi đi ngang chỗ chõng mẹ nó nằm, thì nó lại nghe bà Trần- Thị rên hù- hù.

Lê- văn- Ðó thấy tình cảnh thê- thảm dường ấy, thì teo gan héo ruột, nên lắc đầu thở dài, rồi lật đật bước riết ra đường, dường như nó không muốn thấy tình cảnh ấy nữa.

Ra tới đường rồi nó lầm- lũi đi tới hoài. Nếu lúc ấy ai cắc cớ hỏi nó đi đâu, thì chắc nó không biết đi đâu mà nói.

May nó đi mà không gặp ai hết.

Lối nửa canh một, nó tới một xóm đông, không biết là xóm nào.

Mấy nhà trong xóm đều ngủ hết, duy ở giữa xóm có một cái nhà lớn, tre trồng bao chung quanh, trong nhà đèn đốt sáng lòa, khách khứa đông đầy- dẫy, ăn uống vui cười inh- ỏi.

Lê- văn- Ðó thấy nhà giàu cơm ăn không hết lại mời khách mà đãi thâm tới ban đêm, rồi nhớ tới nhà mình nghèo khổ, đèn không dầu nên tối mò, mẹ đau không thuốc nằm chờ ngày chết, sắp cháu đói bụng rên khóc van- vầy 7, thì tức- tủi trong lòng, quyết bước vô mà cậy 8 chủ nhà giàu nầy một vài giạ lúa đen về cho gia quyến ăn, đợi năm tới thuận mùa rồi làm mà trả lại.

Nhà nầy là nhà ông Bá- hộ Cao ở Vồng- Nâu.

Bữa ấy là bữa ông nhóm họ đặng cưới vợ cho con, nên mới dọn cỗ bàn mà đãi thân bằng quyến thích.

Lê- văn- Ðó ở ngoài xăm xăm đi vô, đứng ngay cửa cái mà ngó.

Khách trong nhà mắc ăn thịt uống rượu, mắc nói nói cười cười, không ai để ý tới ngoài sân, nên không ai thấy nó.

Cách một hồi lâu, ông Bá- hộ dòm ra, thấy có người lạ mặt đứng trước cửa, bèn sai gia- dịch ra hỏi coi đi đâu.​

Lê- văn- Ðó thuở nay không từng nói chuyện với ai, mà cũng không hiểu lễ phép chi hết, nên nghe người ta hỏi đi đâu, không lấy lời dịu ngọt thê thảm mà động lòng nhơn từ của người, lại nói xẳn- xớn rằng:

- Nhà tôi nghèo quá, tôi đi làm mướn mà không ai chịu mướn tôi làm. Bây giờ nào là mẹ, nào là chị, nào là sắp cháu nhỏ của tôi chết đói hết thảy, tôi đi đến đây, thấy nhà nầy giàu có nên tôi ghé lại mượn một ít giạ lúa về ăn đỡ.

Sắp gia- dịch nghe rồi trở vô nhà nói làm sao với ông Bá- hộ không biết, mà khách trong nhà cười rộ, rồi ông Bá- hộ sai người ra đuổi Lê- văn- Ðó biểu phải đi ra khỏi cửa cho mau.

Lê- văn- Ðó không chịu đi, cứ đứng ngó vô trong nhà, và nói lầm- bầm rằng:

- Đi đâu bây giờ mà biểu người ta đi. Mẹ ta với sắp cháu đói gần chết, ta về bây giờ lấy gì mà cho ăn.

Sắp gia- dịch thấy nó không chịu đi, mới áp lại xô đẩy.

Lê- văn- Ðó trì lại, sức Lê- văn- Ðó mạnh quá chúng nó xô không nổi, nên chúng nó giận bèn xích chó cho cắn.

Trong nhà có một bầy chó năm sáu con, hùa nhau chạy tuôn ra, rồi vây chung quanh tên Ðó mà sủa om sòm. Có một con chó dữ nhảy xốc vô cắn chơn tên Ðó, bị tên Ðó đá cho một đá té lăn cù. Bầy chó sợ đạp nên chạy dang ra rồi lại áp vô sủa nữa.

Ở trong nhà, chủ và khách óng tiếng nói om sòm.

Tên Ðó không hiểu họ rầy ai, phần bị bầy chó làm dữ quá, sợ một mình cự không nổi nên thủng thẳng sụt lùi mà đi ra.

Tên Ðó đã ra khỏi vuông tre của ông Bá- hộ rồi, mà bầy chó cũng đứng trước cửa ngõ sủa theo.

Lê- văn- Ðó không biết đi đâu, cứ gục mặt xuống đất thủng thẳng đi dọc theo bờ tre.

Ði được vài chục bước, tên Ðó nghe dưới ống chơn rát- rát, mới cúi xuống mà coi. Nhờ bóng trăng dọi sáng, nên nó thấy máu chảy ròng ròng, mới hay mình bị chó cắn.

Tên Ðó đi lại bụi tre, lấy một nắm lá tre khô mà chùi máu, rồi ngồi bẹp xuống đất khoanh tay mà thở ra. Bụng đói quá nên trời mát mà trán đổ mồ hôi ướt rượt, cặp mắt đổ hào quang, hai màn tang mạch nhảy xoi- xói 9.

Những người từng biết nhơn- tình ấm- lạnh, những người từng trải thế đạo kỳ khưu, ai gặp cảnh thê thảm như vầy chắc sao cũng oán hận vận trời, hoặc trách nhà giàu sang không thương xót kẻ nghèo hèn, hoặc thảm phận cơ hàn mà đau lòng rơi lụy.

Lê- văn- Ðó có sức mạnh chớ không có trí sáng, từ nhỏ tới lớn biết cực mà thôi, chớ không biết sướng, nên tưởng phận mình thì phải chịu cực, phải nhịn đói, bởi vậy nó gặp cảnh như vầy, mà không biết giận, lại cũng không biết buồn.

Nó ngồi đây là vì bụng đói, chơn mỏi nên mới ngồi, chớ không phải ngồi mà suy nghĩ việc chi, hay là ngồi mà tính kế chi đặng kiếm gạo đem về nuôi mẹ với sắp cháu.

Vừng trăng tỏ treo giữa trời vặc vặc, ngọn gió dàn lá tre giũ phất phơ. Rụt- rịt bên chơn con rắn mối bò đi giỡn trăng, chút- chút trong vườn tiếng chim cúc than phiền đêm lạnh lẽo.​
 
Cuộc đời đắng cay dường ấy, cảnh trời thanh lịch dường ấy, mà Lê- văn- Ðó ngồi trơ trơ như một cục đá hay là một khúc cây, không buồn, không vui, không lo, không cảm chi hết.

Cách một hồi lâu nó nghe có tiếng người nói chuyện ở trong vườn ông Bá- hộ, nó mới day lại dòm vô mà coi thì thấy có một đứa con gái đương ngồi dựa bếp lửa đút rơm khô vô mà chụm, lại có một bà già đương chóng nạnh gần đó mà coi chừng. Lúc tên Ðó dòm vô thì nó nghe bà già nói như vầy:

- Cháo heo cạn rồi thì dụt lửa 10 để đó mà đi làm việc khác, chớ mầy ngồi đó mà giữ hay sao. Vô phụ rửa chén với người ta. Ðể đó khuya cháo nguội rồi sẽ nhắc vô.

Bà già nói dứt lời rồi bỏ đi vô nhà bếp. Ðứa con gái dụt lửa đậy trã 11 cháo, rồi cũng bỏ đi mất.

Lê- văn- Ðó đứng ngoài bờ tre dòm vô, thấy nhà lớn của ông Bá- hộ phía bên kia đèn còn đốt sáng trưng, khách còn nhộn nhàng đương ăn uống vui cười.

Trong nhà bếp ở phía bên nầy, thì sắp gia- dịch qua lại lăng- xăng, mà chẳng thấy ai đi ra chỗ đứa con gái ngồi nấu cháo hồi nãy hết. Tên Ðó dòm một hồi, rồi vạch tre, chun vô vườn, đi riết lại bưng trã cháo mà đi ra.

Trã cháo lớn nên nặng, mà mới cạn nên còn nóng, song tên Ðó vác lên vai đi xông- xổng, không biết nặng, không biết nóng, mà cũng không sợ họ thấy.

Nó đi vừa được năm bảy bước, bỗng nghe trong nhà bếp có người hỏi:

- Ai vác cái gì mà đi đó?

Nó cứ đi riết không thèm trả lời. Trong nhà bếp có hai ba người chạy ra, tới chỗ nấu cháo heo thấy mất một trã cháo bèn la om sòm rằng:

- Ăn trộm vô bưng trã cháo heo mà chạy đây nè, bớ người ta, rượt theo bắt nó. Ðó, nó chạy đó. Kìa, nó đương vạch hàng tre mà chun kia kìa, bớ người ta.

Tên Ðó cứ vác trã cháo chun qua hàng tre, rồi băng ngang ruộng mà đi như thường, họ la mặc họ, nó không đứng lại, mà cũng không thèm chạy. Sắp gia- dịch của Bá- hộ Cao rượt theo, áp vô đứa nắm đầu, đứa ôm lưng mà bắt.

Tên Ðó tay trái vịn trã cháo trên vai, tay mặt gạt sắp gia- dịch té lăn cù, không đứa nào xáp vô mình nó được.

Sắp gia- dịch la hét om sòm. Khách trong nhà kẻ xách cây người cầm hèo chạy túa theo tiếp ứng.

Có một người thấy sắp gia- dịch nhút- nhát không dám vô bắt tên Ðó, mới xách một khúc tre bước tới nhắm đầu tên Ðó mà đập. Tên Ðó đưa tay ra đỡ, khúc tre gảy làm hai đoạn. Một người khác nhảy tới đập nữa, tên Ðó trớ khỏi song trật tay trã cháo rớt, trã bể nát còn cháo đổ đầy đất.

Tên Ðó đứng ngó mấy người rượt bắt mình và hỏi tỉnh táo rằng:

- Làm giống gì dữ vậy ? Ðổ cháo hết uổng hôn!

Mấy người ấy không thấy nó làm dữ nữa, mới xông vô bắt, nắm đầu rồi áp nhau kẻ thoi người đạp.

Tên Ðó lặng thinh chịu đòn, không chống cự nữa. Họ thấy vậy lại càng đánh nhiều hơn nữa. Tên Ðó nổi giận tung một cái, mấy người nắm nó đều ngã lăn, rồi nó đứng tỉnh như thường, mắt ngó chừng cháo đổ, dường như nó tiếc lắm vậy.

Họ áp vô bắt nó nữa. Nó để cho họ bắt trói ké dắt về bỏ ngồi trước sân ông Bá- hộ.

Lý- Trưởng Tùng dua bợ nhà giàu, một là muốn làm cho vừa ý chủ- nhà, hai là muốn thị oai với dân chúng, nên thấy tên Ðó bị trói ké lòi ức ngồi ngoài sân, bèn chạy ra thoi đạp và nói rằng:

- Mầy là thằng gì mà ngang dữ vậy hử ? Nhà ông Bá- hộ khách khứa đông đầy, mầy dám vô mà mượn lúa, người ta đuổi mầy đi, rồi sao mầy lại dám giựt cháo heo của người ta mà chạy. Người ta rượt bắt mầy, mầy lại đánh đến đứa gãy răng đứa sưng mặt. Ðể rồi mầy coi tao.

Lý- Trưởng Tùng nói rồi lại đánh nữa. Tên Ðó bị trói không thế gạt được nên ngồi trân- trân mà chịu đánh nhừ tử, không khóc không than, không nói chi hết.

Có một ông già thấy tên Ðó bị đánh nhiều quá mà không nhút nhít, thì bước ra can Lý- Trưởng rằng:

- Thôi, bộ thằng nầy nó điên, đánh nó làm chi lắm. Nó có tội thì giải đến Huyện cho quan trị nó.

Lý- Trưởng Tùng trợn mắt đáp rằng:

- Ông nói nó điên, nó dữ lắm chớ dễ điên đâu. Mấy đứa nào bị nó đánh hồi nãy nặng nhẹ thể nào đâu ra đây cho tao coi vít tích đặng tao làm phúc bẩm mà giải nó.

Có ba đứa gia- dịch bước ra, một đứa bị té gãy hết một cái răng cửa, máu còn chảy ròng ròng, một đứa xể mặt một đường bằng ngón tay, còn một đứa thì u trên trán một cục bằng ngón chơn cái.

Lý- Trưởng coi rồi bèn dạy đóng nọc giữa sân mà trói tên Ðó, rồi trở vô nhà ăn thịt uống rượu.

Ở trong nhà chủ khách vui say cười hỉ- hả, ở ngoài sân một người nghèo khổ bị đánh rêm mình, mà lại nhịn đói bụng xếp ve. Tình cảnh nầy người có nhứt điểm nhơn từ ai trông thấy cũng ứa lụy chau mày, mà cả đám ở trong nhà chẳng ai để chút lòng thương xót.​

Nghèo khổ không cơm mà nuôi gia quyến, họ giàu có dư dả ăn không hết, đến mượn một vài giạ lúa về mà cứu cấp mẹ già cháu nhỏ đói nằm thở hoi hóp, họ không cho mượn lại còn xô đuổi. Cùng thế bưng cháo của heo ăn đem về cho mẹ với cháu ăn đỡ, họ không nghĩ lại bắt mà đánh.

Con nhà nghèo ai gặp cảnh như vầy chắc cũng phải oán hận nhà giàu. Thảm thương Lê- văn- Ðó vì tánh dốt nát thiệt thà, nên thân khổ nhục đến nước nầy, mà cũng chưa biết buồn, chưa biết oán.

Lý- Trưởng Tùng để dần- dà mấy bữa, đánh chưởi tên Ðó đã thèm rồi mới chịu giải lên Huyện.

Quan Tri- Huyện hành phạt một lớp nữa rồi mới giải lên tỉnh.

Quan Án- sát tra hỏi sơ xịa rồi lên án định đánh đòn tên Ðó 100 trượng và đồ 12 năm năm, về tội cướp của người ta và đánh tài chủ có vết tích.

Thảm thay! Ức thay!

Cả một nhà nhịn đói, mình lén bưng đồ của họ cho heo ăn đem về ăn đỡ dạ, mà quan bắt tội đánh đòn rồi lại bị đày!

Thân mình nghèo khổ họ đánh mình thì họ không có tội, còn mình đánh lại họ thì mình phải ở tù! Cuộc đời trông thấy bắt nát ruột ứa gan! Thân phận kẻ nghèo nghĩ thiệt là chí khổ!

Quan dạy lính đóng mộc căng tay chơn Lê- văn- Ðó nằm xấp giữa sân, đánh đòn đủ 100 roi, nát thịt văng máu; chừng mở trói ra thì Lê- văn- Ðó bò mà đi, chớ đứng không nổi.

Quan chờ hơn một tháng, mấy dấu roi lành rồi, mới đày Lê- văn- Ðó lên tỉnh Gia- định.

oOO

Lê- văn- Ðó ở tù tại Gia- định, ban ngày đi làm việc nặng nề cực khổ, lại còn bị lính đánh xối trên đầu, ban đêm ngủ thất thường, mà sức lực cũng còn mạnh mẽ như xưa, chẳng hề giảm sút chút nào hết.

Bữa nọ quan sai lính dắt tù lên rừng đốn cây kéo về mà cất kho cất lẫm.

Có nhiều khúc gỗ lớn năm sáu tên tù khiêng một đầu không nổi, mà một mình Lê- văn- Ðó vác đi như chơi.

Một lần khác quan bắt tù ra cửa Cần- giờ đánh cá chở về xẻ khô để dành cho quân lính dùng.

Ghe ra khơi rồi rủi gặp giông to sóng lớn nhận ghe chìm.

Tù với lính đi một ghe đều bị chết trôi hết thảy, duy có một mình Lê- văn- Ðó, lội lặn lần vô tới mé được; mà khỏi chết rồi không thèm thừa dịp ấy mà trốn, lại trở về Gia- định báo tin cho quan tỉnh hay.

Bởi Lê- văn- Ðó có sức mạnh như vậy, nên chẳng những là mấy trăm tù trong khám đều sợ mà thôi, mà thậm chí mấy chú lính coi khám cũng đều kiêng nể nữa.

Tuy vậy mà Lê- văn- Ðó chẳng hề thừa sức mạnh mà húng hiếp tù, hoặc khinh khi lính, dầu đi làm hay ở trong khám nó cũng giữ một mực, không khi nào thấy nó buồn hay là vui, dầu làm việc nặng hay là việc nhẹ cũng chẳng hề nghe nó than phiền chi hết.

Lê- văn- Ðó ở trong nhà thấy cảnh nghèo nàn thê thảm, bước chân ra đi kiếm ăn lại gặp chúng hân- hủi hiếp đáp, bởi vậy vào chốn lao tù nó không vui được, nghĩ chẳng lạ gì. Có một đều 13 nầy chắc ai nghe cũng lấy làm kỳ, là nó không vui, mà nó cũng không buồn, lại không khi nào nghe nó nhắc tới việc nhà của nó.

Tên Ðó ở tù gần ba năm.

Một bữa kia có tên Trần- văn- Thiệt, là người đồng hương với nó, mắc tội chi không biết, mà quan đày nó lên Gia- định. Vả tên Thiệt cũng là con nhà nghèo như tên Ðó, lúc còn nhỏ hai đứa đều ở chăn trâu cho người ta, thường chơi bời với nhau, nên quen biết nhau lắm.

Khi tên Thiệt bước vào khám, tên Ðó ngó thấy nó mà không mừng, không hỏi chi hết.

Tên Thiệt thấy ý tứ như vậy, thì lấy làm kỳ, tưởng nó quên mình, nên cũng làm lơ, không thèm hỏi.

Ðến tối trong khám ngủ hết, duy có một mình tên Ðó còn ngồi gãi đầu.

Tên Thiệt bước lại đứng ngay trước mặt mà hỏi rằng:

- Anh phải tên Ðó ở Vồng- Tre hôn?

Tên Ðó ngó sửng một hồi, coi bộ như suy nghĩ lắm vậy, rồi mới đáp rằng:

- Phải. Còn anh phải là anh Thiệt hôn?

Tên Thiệt cười mà nói rằng:

- Vậy chớ ai! Mới mấy năm nay mà anh quên tôi hay sao ?

Tên Ðó xổ đầu tóc, hai tay xỏ vô tóc mà gãi một hồi rồi để đầu chơm bơm (rối, bù xù. - - Ở đây có giống dị hợm , cái lưng mốc thếch, cái đầu chơm bơm - - Ca dao miền Nam), ngồi khoanh tay lặnh thinh, không ngó tên Thiệt mà cũng không nói chi nữa hết. Tên Thiệt thấy vậy bèn ngồi xề dựa bên mà hỏi rằng:

- Anh ở tù mấy năm nay mà cực hay xướng vậy anh?

Tên Ðó chau mày lặng thinh một hồi nữa, rồi mới nói rằng:

- Cũng vậy chớ cực sướng giống gì.

Tên Thiệt thấy bộ tên Ðó lôi- thôi quá thì tức cười, muốn đi về chỗ mình mà ngủ. Thình- lình tên Ðó hỏi rằng:

- Sao anh ở tù ?

Tên Thiệt trợn mắt đáp rằng:

- Tôi cũng như anh vậy chớ có khác chi đâu. Họ ỷ họ giàu, họ hiếp mình quá! Anh nhớ hôn? Năm thất mùa đó, anh không có cơm mà ăn, anh lén bưng trã cháo heo của ông Bá- hộ đem về cho bác với mấy đứa cháu ăn, họ bắt họ đánh anh rồi giải đến quan bỏ tù anh đó; nhà tôi cũng đói quá, nên tôi dắt ông già tôi lên Vũng- Gù mà kiếm ăn. Tôi đi được ít tháng , kế ông già tôi mang bịnh mà bỏ mình. Tôi trở về Vồng- Tre xin ở đợ với ông ba Lãnh.​

Mấy năm nay tôi ở với ổng thiệt cực khổ quá. Ổng làm ruộng lớn mà có một mình tôi ở, nên làm tối ngày không hở tay, mà lại còn bị vợ chồng ổng đánh chửi nữa.

Hôm tháng trước lúa cấy xong rồi, kế gặp trời mưa dầm dề luôn sáu bảy bữa. Ông Lãnh sợ nước trên vồng đổ xuống tràn bờ ngập lúa, ổng bắt tôi ngày đêm phải ở luôn ngoài ruộng mà giữ bờ.

Có một đêm trời mưa lớn quá, nước trên vồng chảy xuống ào- ào, rồi bể bờ hai ba khúc mà tràn vô ruộng.

Phần thì trời tối đen như mực, phần thì tôi có một mình, lo đấp khúc nầy nước tràn vô khúc kia, tôi làm không nổi, nên nước tràn vô ruộng lai- láng ngập lúa hết.

Sáng ngày ông Lãnh ra thăm ruộng thấy nước bể bờ ngập lúa, ổng chửi nát ông nát cha tôi, rồi ổng vác cây rượt đập tôi. Tôi sợ tôi chạy, ổng cứ rượt theo, bị bờ trơn ổng trợt chơn rủi nhằm gốc cây cấn hông ổng nên ổng chết. Vợ con ổng la làng la xóm nói tôi giết ổng, nên làng họ bắt mà giải tôi đến Huyện. Việc thiệt tôi khai thiệt mà quan không chịu nghe nên đày tôi lên đây. Thiệt thân mình nghèo khổ quá anh há ?

Tên Ðó nghe tên Thiệt thuật chuyện rồi, nó không tỏ dấu thương xót tên Thiệt, mà cũng không trách quan xử oan- ức. Nó ngồi chau mày lặng thinh, bộ như suy nghĩ chuyện gì đó vậy. Cách một hồi lâu nó mới nói rằng:

- Không biết năm nay má tôi có đau hay không ? Còn chị tôi làm giống gì mà nuôi sắp nhỏ.

Tên Thiệt đáp rằng:

- Bác chết anh không hay hay sao ? Cơ khổ dữ hôn! Quan họ bắt anh có vài bữa gì đó kế bác mất. Còn chị dâu với sắp cháu của anh, thì khi tôi ở trên Vũng- Gù tôi trở về, tôi nghe nói sắp nhỏ đói quá nên chết hết ba bốn đứa, còn mấy đứa kia chị dâu anh dắt đi đâu không biết, không có ở Vồng- Tre nữa".

Tên Ðó nghe mấy lời ấy thì nó dùn mình 14 trợn mắt, dường như ai đem bức tranh gia đình buồn thảm ngày xưa mà treo trước mặt, nên nó vụt đứng dậy, khuỳnh hai cánh tay rồi nói lớn rằng:

- Má tôi chết, má tôi chết liền hồi đó ! \..\. Mấy đứa cháu tôi đói quá nên cũng chết, trời ôi!

Nó nói có bao nhiêu đó rồi té ngửa nằm dài dưới đất, tay chơn run bây bẩy.

Tên Thiệt thấy vậy thất kinh nên la lên. Tội nhơn đương ngủ nghe la giựt mình thức dậy áp lại khiêng Lê- văn- Ðó đem để nằm trên sập 15.

Ðêm ấy tên Ðó nằm cứ đập tay đập chơn, lắc đầu, một lát nghe nó thở dài một cái rồi chắc lưỡi kêu trời.

Sáng bữa sau mình mẩy nó nóng hầm, nên không đi làm được.

Lê- văn- Ðó nóng vùi luôn cho tới nửa tháng; mỗi bữa tội nhơn đi làm hết, còn có một mình nó nằm trong khám mà thôi.

Lúc nào nó bớt nóng thì nó suy nghĩ, nhớ tới chuyện nhà hồi trước - - trong buồng mẹ già đau không thuốc uống, cứ nằm trên chõng mà rên, ngoài trước sắp cháu đói không cơm ăn, nên quẩn bên chơn mà khóc.

Mình đi làm công họ không mướn, mình đi vay lúa họ không cho, lén bưng cháo của họ để cho heo ăn đem về cho mẹ với cháu ăn đỡ, họ bắt mà đánh khảo, rồi lại giải đến cho quan bỏ tù.

Mình có tội gì mà bỏ tù?

Họ giàu, lúa gạo ăn không hết đến nỗi lấy mà cho heo ăn, mình nghèo không có cơm ăn, lấy về ăn đỡ cho khỏi chết đói, làm như vậy có tội hay sao?

Té ra cái mạng thằng Ðó nầy với cả nhà của nó đều không bằng cái mạng mấy con heo của ông Bá- hộ Cao hay sao?

Nhà giàu họ có của rồi họ bỉ bạc nhà nghèo quá! Quan lớn họ ỷ quyền rồi họ đè ẹp dân ngu quá!​
 
bông lúa sắp nở
nứt vì khô
trâu trắng
vun vồng: đấp cao lên
nhăn nhó, cau có, quạo
miền Bắc gọi là đay, loại cây cao độ 2 thước, thân có đường kíng bằng ngón tay, võ có sớ dẽo dai, dùng để dệt vải thô: bao bố, giày bố, vải bố
van vì: van xin
mượn
liên tục
tắt lửa
nồi đất rộng miệng
phạt tù khổ sai
điều
rùn mình hay rùng mình: thân thể cử động mạnh và bất ngờ
loại giường làm bằng tre sơ sài
[td]
1
[/td]​
[td]
2
[/td]​
[td]
3
[/td]​
[td]
4
[/td]​
[td]
5
[/td]​
[td]
6
[/td]​
[td]
7
[/td]​
[td]
8
[/td]​
[td]
9
[/td]​
[td]
10
[/td]​
[td]
11
[/td]​
[td]
12
[/td]​
[td]
13
[/td]​
[td]
14
[/td]​
[td]
15
[/td]​
 

Có thể bạn quan tâm

Top