Xamvn123456zxc
Sinh lý yếu
Ơn đảng ơn nhà nước ?
Ông Trọng khi sinh thời có nói đại khái rằng nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày hôm nay. Vấn đề là ông Trọng không nói rõ nhờ ơn ai mà "ta" đạt được cơ đồ như vậy ? Đảng hay nhà nước ?
Thử "quay xe" trở lại trước thời kỳ đổi mới. Vụ này tôi có nhắc trong 2 bài "Bảo vệ thành quả cách mạng là bảo vệ cái gì ?" và "Căn bịnh tả khuynh trong đảng CSVN".
Trước khi Đại hội VI diễn ra vào tháng 12 năm 1986, nội bộ đảng CSVN đã trải qua một giai đoạn tranh luận gay gắt, kịch liệt kéo dài nhiều năm. Đây không đơn thuần là sự bất đồng về chính sách, mà là cuộc đụng độ nảy lửa giữa hai tư tưởng: Bảo thủ giáo điều (tả khuynh: kiên trì mô hình kinh tế kế hoạch tập trung) và Đổi mới thực dụng (hữu khuynh: thừa nhận quy luật thị trường).
Bà con tầm tuổi tôi chắc phải nhớ (tới ê răng vì ăn bo bo thay gạo). Bối cảnh đất nước lúc đó vô cùng bi đát, không khác Iran bây giờ: Lạm phát phi mã lên tới hơn 700%, đất nước bị cấm vận, người dân thiếu ăn nghiêm trọng.
Khủng hoảng kép (đe doạ phá sản và nạn đói) buộc các nhà lãnh đạo phải tranh luận để tìm lối thoát. Nội bộ đảng phân chia thành hai chiến tuyến rõ rệt:
Phe "bảo thủ" (tả khuynh, giáo điều): phe này quyết cố thủ trong chủ nghĩa xã hội nguyên bản.
Phe này bao gồm nhiều nhà lãnh đạo "có công" trong chiến tranh "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào", nhưng tư duy của họ nặng nề chất "bần cố nông", tiêu biểu là ông Trường Chinh (giai đoạn trước năm 1985), Tố Hữu (Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách kinh tế) và một số nhà lý luận chính trị cổ hủ.
Những người này cho rằng kinh tế thị trường, tư nhân và tiền tệ là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Nếu thừa nhận những yếu tố này là phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Họ đổ lỗi cho việc quản lý kém chứ không phải do mô hình sai. Giải pháp của họ là siết chặt hơn nữa kỷ cương, tăng cường kế hoạch hóa, xóa bỏ triệt để kinh tế tư nhân và "ngăn sông cấm chợ" để kiểm soát giá cả.
Đỉnh điểm của tư duy "tả khuynh" này là cuộc cải cách sai lầm mang tên "giá - lương - tiền" năm 1985 do Tố Hữu đạo diễn. Hệ quả làm cho nền kinh tế VN sụp đổ hoàn toàn.
Phe "Cải cách" (hữu khuynh, thực dụng): phe này dám nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá lại nội hàm các nghị quyết.
Phe này tập hợp những nhà lãnh đạo bám sát thực tế địa phương, chứng kiến cảnh dân đói khổ, tiêu biểu là Nguyễn Văn Linh (Bí thư Thành ủy TP.HCM), Võ Văn Kiệt (Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) và các lãnh đạo tỉnh Long An, An Giang.
Nhóm người này cho rằng mô hình bao cấp là không tưởng, vì nó chỉ nhằm triệt tiêu động lực lao động. Khẩu hiệu nổi tiếng của họ lúc đó là "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".
Giải pháp của họ là hợp pháp hóa các hình thức "khoán chui" trong nông nghiệp, phá bỏ thế độc quyền thương nghiệp của nhà nước, cho phép tư nhân mua bán tự do và thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
Nhớ lại những trận "đụng độ" trong nội bộ, thì dụ cuộc tranh giành kiểm síat Sài gòn. Ông Nguyễn Văn Linh làm bí thư, trong ba năm 1980-1982, ông đã "xé rào" cho các xí nghiệp tự "bơi", tự tìm nguyên liệu và bán sản phẩm theo giá thị trường. Phe bảo thủ ở Trung ương lập tức quy kết tp Hồ Chí Minh "chạy theo chủ nghĩa tư bản". Hệ quả làm cho Nguyễn Văn Linh bị mất ghế bí thư năm 1982 (trước khi được đưa trở lại vào năm 1985).
Bước ngoặt từ sự "thức tỉnh" của TBT Trường Chinh. Ông Trường Chinh vốn là "anh cả" của phe giáo điều lý luận. Tuy nhiên, sau khi trực tiếp đi khảo sát thực tế tại các tỉnh phía Nam và chứng kiến sự thất bại thảm khốc của cuộc cải cách "giá - lương - tiền" của Tố Hữu năm 1985, ông đã thay đổi hoàn toàn tư duy. Khi được bầu làm Tổng Bí thư năm 1986 (sau khi ông Lê Duẩn mất), ông Trường Chinh đã dùng quyền lực tối cao của mình để "quay xe" về phe cải cách, dẹp bỏ các ý kiến bảo thủ để viết lại dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội VI.
Trận chiến hạ màn khi phe bảo thủ chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ kinh tế năm 1985. Tố Hữu bị mất hết chức vụ trong Đảng và chính quyền ngay trước Đại hội. Ba nhà lãnh đạo cao tuổi nhứt thuộc thế hệ cũ là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đồng loạt rút lui khỏi Bộ Chính trị về làm "ba ông Cố vấn". Ông Nguyễn Văn Linh - kiến trúc sư của những thử nghiệm "xé rào" tại miền Nam - được bầu làm Tổng Bí thư, chính thức mở ra thời kỳ Đổi mới.
Làm dấu ngoặc ở đây là toàn đảng phải cám ơn ông Nguyễn Văn Linh. Ông Linh người xứ Hưng Yên. Nếo ông này không thử nghiệm các vụ "xé rào" các năm 1980-1985 thì chế độ đã sụp đổ trước khi làn sóng Đông Âu diễn ra.
Nhưng toàn dân VN phải cám ơn mấy ông "xé rào", đặc biệt mấy ông "cố vấn" trong Nhóm thứ sáu, đã chỉ vẽ cho ông Linh, ông Kiệt dựng kế hoạch kiến trúc lại nền kinh tế VN trong thời kỳ đổi mới. Từ đó VN mới có "cơ đồ" mà ông Trọng đã thiệt thà hãnh diện.
Mấy ông "xé rào" là ai ? mấy ông "cố vấn" trong "nhóm thứ sáu" là ai ? Họ đã làm gì mà quan trọng hoá họ quá vậy ?
Thứ nhứt, quan trọng hơn hết là ở Long An với thí nghiệm "cân bằng mức lương theo giá nông sản thị trường" 1980. Đâu là điểm khởi đầu của chính sách xóa bỏ bao cấp.
Cuối thập niên 1970, cơ chế "cung cấp" của nhà nước rơi vào bế tắc. Nhà nước mua nông sản của nông dân với giá rẻ mạt như cho, rồi bán lại cho công chức theo chế độ tem phiếu với giá thấp. Hậu quả là nông dân giấu lúa không bán, còn công chức nhận được gạo mốc, mì mốc Liên xô.
Ông Nguyễn Văn Chính (bí danh Chín Cần), Bí thư Tỉnh ủy Long An, đã quyết định đưa ra một chính sách táo bạo: Mua giá nào bán giá đó và bỏ tem phiếu. Tỉnh Long An chấp nhận mua lúa của nông dân theo giá sát thị trường tự do, sau đó tính toán quy ra tiền mặt để cộng thẳng vào lương cho công nhân viên chức, để họ tự ra chợ mua gạo ăn.
Hệ quả như uống thuốc tiên: nông dân phấn khởi, lập tức bán lúa cho nhà nước. Kho lương thực của Long An từ chỗ trống rỗng trở nên đầy ắp. Tiếp theo hàng hóa lưu thông tự do, thị trường chợ đen lập tức biến mất, đời sống công chức ổn định hơn vì được xài tiền thật, tương ứng với giá cả hàng hoá thật.
Bài học cho mấy ông giáo điều là gì ?
Đó là "chân lý đơn giản" : Tiền tệ và giá cả thị trường không phải là "vũ khí của chủ nghĩa tư bản" mà là quy luật kinh tế khách quan. Nếu tôn trọng nó, nền kinh tế sẽ tự vận hành ổn định.
Nguyễn Văn Linh lúc đó đã "mở rộng tầm mắt" liền dẫn các đoàn cán bộ Trung ương xuống Long An để "học tập mô hình".
Thứ hai, thành Hồ với biện pháp "tự bơi" của các xí nghiệp và "Chợ gạo" của cô Ba Thi.
Tại thành Hồ, đầu thập niên 1980, các nhà máy rơi vào cảnh "chết lâm sàng" vì Trung ương không cung cấp đủ nguyên liệu theo kế hoạch, nhưng lại cấm các nhà máy tự đi mua bên ngoài. Thành phố lúc đó thiếu gạo ăn trầm trọng vì cơ chế "ngăn sông cấm chợ".
Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đã bật đèn xanh cho các giám đốc nhà máy (tiêu biểu là Nhà máy dệt Thành Công, thuốc lá Vĩnh Hội...) áp dụng công thức "Kế hoạch 3 phần". Sau khi hoàn thành chỉ tiêu ít ỏi của nhà nước, các nhà máy được quyền tự tìm nguồn nguyên liệu ngoài thị trường, tự sản xuất và tự bán để lấy tiền thưởng nâng cao đời sống cho công nhân.
Chiến dịch cứu đói của "Cô Ba Thi" (tức bà Nguyễn Thị Ráo). Được ông Linh bật đèn xanh, bà Ba Thi (Giám đốc Công ty Lương thực thành Hồ) đã gom vàng, vượt qua các trạm kiểm soát nghiêm ngặt để xuống các tỉnh miền Tây mua lúa của dân theo giá thị trường, mang về xay và bán trực tiếp cho dân thành phố với giá rẻ hơn chợ đen. Việc làm này hoàn toàn bất hợp pháp theo luật lúc bấy giờ (bị quy vào tội buôn lậu).
Như luồn gió hồi sinh, các xí nghiệp tại thành Hồ bật dậy mạnh mẽ, công nhân có việc làm và thu nhập tăng vọt. Thành phố giải quyết được nạn đói kinh niên mà không cần chờ một hạt gạo nào từ sự phân phối của Trung ương.
Những bằng chứng từ Long An và thành Hồ đã tạo ra hai tác động đảo chiều cục diện nhưng vẫn không thể khiến đảng CS tự giải tán.
Lúc trước phe giáo điều cáo buộc miền Nam là "mất lập trường", "chạy theo tư bản". Phe cải cách đã bịt miệng họ bằng câu hỏi : "Cái gọi là "cơ chế XHCN" của các đồng chí giúp dân có cơm ăn không ? hay chỉ giữ đúng lập trường XHCN trên giấy trong khi dân đói le lưỡi ?".
Những con số tăng trưởng thực tế của Long An và thành Hồ đã khiến phe bảo thủ không thể phản bác.
Như đã phân tích, TBT Trường Chinh chính là người thay đổi cục diện khi ông trực tiếp vào Nam khảo sát các mô hình xé rào này vào năm 1983-1985. Thấy tận mắt cảnh các nhà máy nhộn nhịp và đời sống công nhân khởi sắc nhờ thị trường, ông thừa nhận mình đã sai lầm và thốt lên: "Thực tế miền Nam đã dạy cho chúng ta bài học tư duy mới".
Tóm lại, nếu không có sự dũng cảm "đánh cược cả mạng sống chính trị" của các nhà lãnh đạo địa phương tại Long An và thành Hồ để làm những thí nghiệm này, phe cải cách tại Trung ương sẽ không bao giờ có đủ lý lẽ thực tiễn để thuyết phục toàn đảng chấp nhận khai tử mô hình bao cấp tại Đại hội VI.
Rõ ràng là ơn ông Chín Cần, ơn Bà Ba Thi, ơn ông Kiệt, ơn ông Linh (Hưng Yên)... ơn những ông, bà đã dám "phản đảng" chớ nào phải ơn đảng ơn nhà nước mà Việt nam có được cơ đồ như ngày hôm nay ?