2 - KHÁI LUẬT CỦA KINH DỊCHDù sao mặc lòng, Kinh dịch vẫn là một cuốn sách lạ trong văn học giới củanhân loại. Thể tài sách này không giống một cuốn sách nào. Bởi vì cái gốccủa nó chỉ là một nét vạch ngang, do một nét vạch ngang, đảo điên xoay xỏathành một bộ sách, vậy mà hầu hết chi tiết ở trong, đều có thể thống lụật lệnhất định, chứ không lộn xộn. Trước khi đọc, phải biết qua loa những thểthống luật lệ ấy, thì sau mới dễ nhận hiểu. Vậy nay, theo sự kê cứu của Tiênnho, nên qua ít điều quan hệ trong những thể thống luật lệ đó, như sau:Quẻ. - Quẻ có hai thứ: Một là quẻ đơn, tức là tám quẻ: Kiền, Khảm, Cấn,Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, mỗi quẻ có ba nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ bavạch”. Hai là quẻ kép, tức là sáu mươi tư quẻ do tám quẻ đơn đắp đổi chồngnhau mà thành ra, như quẻ Hàm, quẻ Hằng, quẻ Đại tráng, quẻ Gia nhân…các quẻ này mỗi quẻ có sáu nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ sáu vạch”. Cả haithứ đó, trong sách đều gọi là quẻ (卦Quái), thật ra, tính chất rất không giốngnhau, quẻ đơn là những yếu tố làm nên quẻ kép, mà quẻ kép thì là hợp thểcủa hai quẻ đơn chồng nhau.Hào. - Hào và vạch ngang của quẻ kép, mỗi quẻ sáu vạch, tức là sáu hào.Thứ tự bắt đầu từ dưới kể lên, dưới nhất là hào Đầu, đến hào Hai, đến hàoBa, đến hào Tư, đến hào Năm, cuối cùng là hào Trên. Hào cũng chia làm haithứ: Những hào thuộc nét ngang liền là hào Dương; những hào thuộc nétngang đứt, là hào Âm. Ví như quẻ Chuân, do hai quẻ Chấn, Khảm hợp lạithành mà ra, thì hào Đầu, hào Năm là Dương, hào Hai, hào Ba, Hào Tư, hàoTrên là Am. Ở lời Kinh, hào Dương gọi là hào Chín, hào Âm gọi là hào Sáu.Ví như quẻ Chuân: hào Đầu gọi hào Chín Đầu (初九 Sơ Cửu), hào Hai gọi làhào Sáu Hai (六⼆ Lục Nhị) v.v… Sở dĩ gọi vậy, - theo Tiên nho - là vì khíDương số bảy là trẻ, số chín là già, khí Âm số tám là trẻ, số sáu là già, già thìbiến đổi, chứ trẻ thì chưa biến đổi, Kinh dịch chú trọng ở sự biến đổi, chonên mới lấy số Chín làm tên hào Dương và lấy số Sáu làm tên hào Âm.Tính của các quẻ và các hào - Tám quẻ đơn, mỗi quẻ đều có tính riêng, đạikhái, tính Kiền thì mạnh, tính Khôn thì thuận, tính Chấn thì động, tính Tốn lànhún, tính Cấn hay đậu, tính Đoái hay đẹp lòng, tính Ly có khi thì sáng, cókhi là trống rỗng, tính Khảm có khi là hiểm, có khi là dầy đặc. Vậy ở sáchnày, nói mạnh là chỉ về Kiền, nói thuận là chỉ về Khôn, nói động là chỉ vềChấn, nói nhún là chỉ về Tốn, nói động là chỉ về Cấn, nói đẹp lòng là chỉ vềĐoái, nói sáng hay trống rỗng là chỉ về Ly, nói hiểm hay dày đặc là chỉ vềKhảm - Còn hào, thì hào Dương tất nhiên cứng mạnh thích động và hay đilên, hào Âm tất nhiên mềm yếu thích tĩnh và hay đi xuống. Vậy ở sách này,nói cứng là chỉ về hào Dương, nói mềm là chỉ về hào Âm.Tượng của quẻ và hào - Tám quẻ đơn đều làm biểu hiện cho các vật ở vũtrụ, mỗi quẻ là hình tượng của một hoặc nhiều vật. Ví như Kiền là tượngtrời, lại là tượng con rồng; Khôn là tượng đất, lại là tượng con trâu; Chấn làtượng sấm, lại là tượng cái cây; Khảm là tượng nước, lại là tượng mây,tượng mưa; Tốn là tượng gió, Ly là tượng lửa; Cấn là tượng núi; Đoài làtượng chằm… Đó là nói qua, sau đây đọc đến các quẻ sẽ thấy rõ hơn. Cònhào, tự nó không có tượng riêng, vì không chuyên hình dung cho vật gi,nhưng khi đã hợp nhau lại thành quẻ, thì cũng có khi có tượng. Ví như hàogiữa quẻ Khảm là tượng “dày đặc”, bởi vì hào ấy là nét ngang liền, đứnggiữa hai nét ngang đứt, giống như một vật đặc giữa; hay như hào giữa quẻLy là tượng “trống rỗng bên trong”, bởi vì hào này là nét ngang đứt, đứnggiữa hai nét ngang liền, giống như một vật rồng ruột vậy.Sự áp dụng của hào và quẻ - Trong Kinh dịch phần của Văn Vương ChuCông chú trọng ở sự bói toán, phần của Khổng Tử chú trọng ở cách tu nhânxử thế của từng người, đó là điều rất rõ rệt. Dù là việc bói toán, dù là cách tunhân xử thế, cũng đều phải lấy nhân sự làm căn cứ, vì vậy, người ta mới chiamỗi quẻ ra làm ba thứ: thì, ngôi và người.Thì là thời kỳ. Trong sáu mươi tư quẻ kép, mỗi quẻ là một thời kỳ. Ví nhưquẻ Thái tức là thời kỳ hanh thái, quẻ Bĩ tức là thời kỳ bế tắc, v.v… Trongmỗi quẻ, hào Đầu là đầu thời kỳ, hào Trên là cuối thời kỳ, còn các hào giữa,cố nhiên là giữa thời kỳ. Đó là nói về đại khái, chính ra một quẻ có khikhông chỉ về một thời kỳ mà chỉ về một công cuộc, ví như quẻ Tốn, Ích, Ty,Tụng v.v… Nhưng về nghĩa này rất ít.Ngôi là thứ tự của các hào. Mỗi quẻ sáu hào, tức là sáu ngôi. Theo lời chúthích của Tiên nho, nhất là lời chú thích của Trình Di và Chu Hy, thì trongmột quẻ, hào Đầu là ngôi thứ dân, hào Hai là ngôi tư mục, hào Ba là ngôiquan Khanh, quan Đại phu, hào Tư là ngôi đại thần, hào Năm là ngôi vua,hào Trên là ngôi các vị lão thành. Đây cũng là nói đại khái mà thôi, khôngphải các quẻ đều đúng lệ đó.Tất cả các ngôi, đều có nhiều hạng tương phản với nhau, ví như chính vàkhông chính, giữa và không giữa, có ứng và không ứng. Hào Dương mà ởngôi lẻ, tức là ngôi Đậu, ngôi Ba, ngôi Năm; hào Âm mà ở ngôi chẵn tức làngôi Hai, ngôi Tư, ngôi Trên, thế là được chỗ chính; trái lại, nếu hào Dươngmà ở ngôi chẵn, hào Âm mà ở ngôi lẻ thì là bất chính. Trong mỗi quẻ, chỉ cóhào Hai, hào Năm là giữa, vì một quẻ kép do hai quẻ đơn hợp lại, mà hàoHai là giữa quẻ (đơn) dưới, hào Năm thì ở giữa quẻ (đơn) trên. Còn cốc hàokhác đều là không giữa.Ứng là hào nọ ứng với hào kia, như làm ngoại viện cho nhau. Trong một quẻ(kép), hào Đầu ứng với hào Tư, hào Hai ứng với hào Năm, hào Ba ứng vớihào Trên, thường lệ như thế. Nhưng phải một hào là Dương, một hào là Âmmới là có ứng. Nếu hai hào cùng một loại, ví như hào Đầu là hào Dương,hào Tư cũng là hào Dương, hào Hai là hào Âm, hào Năm cũng là hào Âm…thì không tương ứng. Vậy nói “chính giữa có ứng” tức là hào Âm ở ngôi Haimà trên ngôi Năm là hào Dương, hay hào Dương ở ngôi Năm mà dưới ngôiHai là hào Âm.Trên đây là lệ nhất định.Người là bản thân kẻ xem bói, nói rộng ra thì là bản thân kẻ ở địa vị nào,trong thời kỳ nào, ví như hào Đầu quẻ Bĩ tức là thứ dân trong đời bĩ tắc, hàoNăm quẻ Thái thì ông vua trong đời hanh thái v.v… Người có hai dạng quântử và tiểu nhân, hay là đàn ông và đàn bà. Tiên nho cho rằng: Hào Dương làquân tử hay đàn ông, hào Âm là tiểu nhân hay đàn bà. Hào Dương ở ngôiDương, tức là quân tử được ngôi, hào Âm ở ngôi chẵn, tức là tiểu nhân biếtđiều, trái lại, hào Dương ở ngôi chẵn, thì là quân tử không ngôi, hào Âm ởngôi lẻ, thì là tiểu nhân càn bậy. Lệ này cũng là thuộc về phần nhiều, khôngphải hết thảy như thế.Tượng và Chiêm - Theo ý Chu Hy, một hào thường làm hai thứ, là Tượng vàChiêm. Tượng là hình tượng. Chiêm là lời đoán. Ví như hào Chín Đầu củaquẻ Kiền có câu: “rồng lặn chớ dùng”, thì “rồng lặn” là tượng, vì Kiền làtượng con rồng, mà ngôi Đầu là chỗ rất thấp, tức là tượng của sự lặn; “chớdùng” là Chiêm, vì nó là lời khuyên bảo người ta. Tượng thì tùy quẻ tùy hàomà hình dung ra, không có nhất định. Còn Chiêm đại để chia làm hai loại,hay dở. Về mặt hay, hay nhất là nguyên cát (cả tốt) đến cát hanh (tốt và hanhthông), đến cát (tốt), đến hanh (hanh thông), đến lợi (lợi về sự gi), đến vô hối(không ăn năn), đến vô cữu (không lỗi); về mặt dở, dở nhất là hung (dữ), đếnlệ (nguy), đến vô du lợi (không lợi về sự gì), đến lận (đáng thẹn tiếc), đếnhữu cữu (có lỗi), đến hữu hối (có ăn năn). Đem tính chất của lời Chiêm màphân tích ra, thì thay nặng nhẹ khác nhau như vậy. Trong sáu tư quẻ, ba trămtám mươi tư hào, nhiều hào có Tượng mà không có Chiêm, cũng nhiều hàomà có Chiêm mà không có Tượng, không phải hào nào cũng đủ cả hai thứ đó