Ăn chơi [Ông Hoàng Bẩy vốn là nhân vật Bốc Phét] bọn bake thờ phường buôn mai thúy mới là thật - có Mr 10 mới là dân học thức , nhưng tụi bake toàn thờ Mr 7.

  • Tạo bởi Tạo bởi 8Lake
  • Start date Start date
Mấy ông sapa dẹp tượng bạch mi đi rồi bảo là đền mẫu
Còn phét lác bịa đặt ra đền thời Trần
Còn sáng tác ra câu chuyện Liễu Hạnh con gái Sơn Tinh
Trong khi bà hạnh con anh hoàng còn bà bình mới con anh sơn
Đền thì tên mẫu thượng
Thờ thì thờ Liễu Hạnh
Lại bảo là con gái Sơn Tinh
Đúng là dân dốt nát lấy của bà nọ cắm vào bà kia rồi lập đền thờ
Liễu Hạnh là Mẫu Thượng thì chữ Thượng ở đây là Thượng Thiên, còn có Mẫu Thượng Ngàn là khác nữa
 
thớt này hay quá, các cao nhân có chuyện gì về sông Tô Lịch không khai sáng cho t với, thấy bảo cũng thần thánh trấn yểm ghê lắm
 
Thằng viết bài lộn qua Mẫu Thượng Ngàn rồi.

Nhìn cái nguồn Tổng hợp của nó là tao biết nó ko phân biệt được ai với ai rồi.
 
Ngôi đền mày đang hỏi chính là Đền Mẫu Thượng Sapa (hay còn gọi là Đền Mẫu Thượng).
Vị trí: Nằm tại tổ 11, thị trấn Sapa, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai (cách trung tâm thị trấn khoảng vài km, gần khu vực cũ có xưởng máy cưa của người Pháp nên trước đây còn gọi là Đền Máy Cưa). (trên đường đi xuống Bản Cát Cát).
Lịch sử liên quan: Theo một số câu chuyện dân gian và truyền miệng (được nhắc trong các bài đăng, bình luận trên mạng), ngôi đền/miếu ban đầu do các cô gái làm nghề “lầu xanh” (kỹ nữ) phục vụ lính Pháp thời kỳ thuộc địa dựng lên để thờ thần Bạch Mi – vị thần được coi là tổ nghề của giới thanh lâu, tửu quán, ca nhi trong văn hóa Trung Quốc cổ. Sau này, đền được cải biến, chuyển sang thờ Đạo Mẫu (chủ yếu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Tứ Phủ Công Đồng), trở thành một trong ba ngôi đền tâm linh nổi tiếng nhất Sapa (cùng với Đền Mẫu Sơn và Đền Hàng Phố
Kkk, bác quả là thông thái, dân ta có truyền thống bốc phét từ lâu đời, ngẫm nay lại phì cười cái miếu thờ vong đuối nước ở cạnh con sông gì đó ở thủ đô cũng phong làm thánh thần mà hàng ngàn dân xì xụp lạy lấy lạy để.
 
dân ta còn u mê lắm, có khi vn sắp thành trung tâm tâm linh của thế giới :burn_joss_stick:
 
dân ta còn u mê lắm, có khi vn sắp thành trung tâm tâm linh của thế giới :burn_joss_stick:
Có mấy thằng Xàm mơ cũng y hệt mày.

Buồn cười là tụi nó đều đi hầu đồng mà mõm thì đòi bài trừ mê tín dị đoan.

Tao hỏi là ra hầu vì bị chấm trúng hay ra hầu vì muốn kiếm tiền thì đéo 1 đứa nào dám nói gì.
 
thớt này hay quá, các cao nhân có chuyện gì về sông Tô Lịch không khai sáng cho t với, thấy bảo cũng thần thánh trấn yểm ghê lắm
Tất cả đều là vẽ thần, vẽ thánh nhảm loz hết.
Cao Biền là người nhà Đường, thế kỷ thứ 9. Dẫn quân qua đánh Giao Chỉ. Xong thắng thì làm tiết độ sứ luôn.
Cũng phải nói trước, Cao Biền là một người giỏi, rất giỏi. Cao Biền là tướng võ, nhưng văn võ song toàn. Qua Giao Chỉ cai trị bằng luật pháp, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, kết hợp giao thông. Ngoài ra còn xây thành luỹ, đặt nền móng cho đất Thăng Long xưa và Hà Nội nay.
Về chuyện sông Tô Lịch.
Trước khi Cao Biền làm tiết độ sứ thì Hà Nội có cái hào nước giữ thành đó là sông Hồng. Sau chiến tranh thì bờ thành hỏng, Cao Biền cho người đi đắp lại, mở rộng tường thành. Trong lúc làm thì nhiều khu vực tường thành qua sông Tô Lịch bị sụt lún nên phải kè bằng gỗ và đá, khu vực phải kè lớn nhất là khu Nghĩa Đô - Bưởi bây giờ vì chỗ đó có 1 con ngòi tạo thành ngã 3 dòng chảy, nhưng ngu dân thì đâu có hiểu, người ta xây kè để chống sụt lún thì về kháo nhau là nó trấn yểm. Hay việc buộc người vào cây tre xong tạo khung đòn bẩy để bê đá xây kè với kiểm tra công trình thì vẽ ra việc ngồi diều bay lên trời soi long mạch. Chính Cao Biền là người biến sông Tô Lịch thành trục giao thông chính của Thành Thăng Long (lúc đó gọi là La Thành)
Thần Long Đỗ ở đền Bạch Mã hiện nay còn là cấp dưới của Cao Biền, được Cao Biền phong làm chủ La Thành. Mà đền Bạch Mã thờ cả Cao Biền ngang với Long Đỗ, các vua thời phong kiến khi sắc phong đều đặt Cao Biền ngang Long Đỗ, thế nhưng qua mồm ngu dân thì Long Đỗ với Cao Biền đấu phép với nhau bùm chéo các kiểu.
Bản chất dân Việt rất thích mấy cái thần bí, thần thánh, phép thuật. Dân thì chỉ tin vào lời truyền miệng, lời kể lại, thêm mắm thêm muối.
Câu truyện trấn yểm kia được viết trong Nam Hải Liệt Truyện, một quyển sách tổng hợp lại những câu truyện truyền miệng trong dân gian. Nó dạng như "truyền thuyết đô thị" hiện nay và với 1 lòng ghét Tàu thì việc câu truyện này được phổ biến cũng k có gì là lạ.
Thực ra con sông này ngắc ngoải từ đầu thế kỷ 18 khi phù sa lắng đọng quá nhiều ở ngoài sông Hồng làm dòng chảy nhỏ đi, sau đó sông Hồng đổi dòng chảy thì sông chết hẳn luôn vì lượng nước vào k đủ sức làm trôi đi rác thải, cứt đái mà người dân đã quen thải xuống sông. Chính vì vậy mà khi Pháp chiếm Hà Nội, Pháp cho lấp đi luôn.
Nhưng con sông này là nguồn sống của nhiều đời chủ tịch Hà Nội rồi, từ thời chung con với hoá chất xử lý, hoá chất diệt tảo đã diệt đến 90% tôm nước ngọt tự nhiên và các loại cá đặc thù ở các hồ ở Hà Nội. Hay gần nhất là hệ thống dẫn nước từ Hồ Tây vào để rửa trôi nhưng nước từ đâu để dẫn vào Hồ Tây thì k ai nói.
1 lũ mất dạy lấy lý do thần thánh để bào chữa cho cái sự kém phát triển của bọn nó.
 
Tất cả đều là vẽ thần, vẽ thánh nhảm loz hết.
Cao Biền là người nhà Đường, thế kỷ thứ 9. Dẫn quân qua đánh Giao Chỉ. Xong thắng thì làm tiết độ sứ luôn.
Cũng phải nói trước, Cao Biền là một người giỏi, rất giỏi. Cao Biền là tướng võ, nhưng văn võ song toàn. Qua Giao Chỉ cai trị bằng luật pháp, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, kết hợp giao thông. Ngoài ra còn xây thành luỹ, đặt nền móng cho đất Thăng Long xưa và Hà Nội nay.
Về chuyện sông Tô Lịch.
Trước khi Cao Biền làm tiết độ sứ thì Hà Nội có cái hào nước giữ thành đó là sông Hồng. Sau chiến tranh thì bờ thành hỏng, Cao Biền cho người đi đắp lại, mở rộng tường thành. Trong lúc làm thì nhiều khu vực tường thành qua sông Tô Lịch bị sụt lún nên phải kè bằng gỗ và đá, khu vực phải kè lớn nhất là khu Nghĩa Đô - Bưởi bây giờ vì chỗ đó có 1 con ngòi tạo thành ngã 3 dòng chảy, nhưng ngu dân thì đâu có hiểu, người ta xây kè để chống sụt lún thì về kháo nhau là nó trấn yểm. Hay việc buộc người vào cây tre xong tạo khung đòn bẩy để bê đá xây kè với kiểm tra công trình thì vẽ ra việc ngồi diều bay lên trời soi long mạch. Chính Cao Biền là người biến sông Tô Lịch thành trục giao thông chính của Thành Thăng Long (lúc đó gọi là La Thành)
Thần Long Đỗ ở đền Bạch Mã hiện nay còn là cấp dưới của Cao Biền, được Cao Biền phong làm chủ La Thành. Mà đền Bạch Mã thờ cả Cao Biền ngang với Long Đỗ, các vua thời phong kiến khi sắc phong đều đặt Cao Biền ngang Long Đỗ, thế nhưng qua mồm ngu dân thì Long Đỗ với Cao Biền đấu phép với nhau bùm chéo các kiểu.
Bản chất dân Việt rất thích mấy cái thần bí, thần thánh, phép thuật. Dân thì chỉ tin vào lời truyền miệng, lời kể lại, thêm mắm thêm muối.
Câu truyện trấn yểm kia được viết trong Nam Hải Liệt Truyện, một quyển sách tổng hợp lại những câu truyện truyền miệng trong dân gian. Nó dạng như "truyền thuyết đô thị" hiện nay và với 1 lòng ghét Tàu thì việc câu truyện này được phổ biến cũng k có gì là lạ.
Thực ra con sông này ngắc ngoải từ đầu thế kỷ 18 khi phù sa lắng đọng quá nhiều ở ngoài sông Hồng làm dòng chảy nhỏ đi, sau đó sông Hồng đổi dòng chảy thì sông chết hẳn luôn vì lượng nước vào k đủ sức làm trôi đi rác thải, cứt đái mà người dân đã quen thải xuống sông. Chính vì vậy mà khi Pháp chiếm Hà Nội, Pháp cho lấp đi luôn.
Nhưng con sông này là nguồn sống của nhiều đời chủ tịch Hà Nội rồi, từ thời chung con với hoá chất xử lý, hoá chất diệt tảo đã diệt đến 90% tôm nước ngọt tự nhiên và các loại cá đặc thù ở các hồ ở Hà Nội. Hay gần nhất là hệ thống dẫn nước từ Hồ Tây vào để rửa trôi nhưng nước từ đâu để dẫn vào Hồ Tây thì k ai nói.
1 lũ mất dạy lấy lý do thần thánh để bào chữa cho cái sự kém phát triển của bọn nó.
hay quá, nghe m nói rất hợp lý, cứ không thấy đả động gì tới cái sông đen ngòm bao đời này, rồi lý do là có âm binh trấn yểm là bình phong cũng hợp lý đấy nhỉ
 
Tất cả đều là vẽ thần, vẽ thánh nhảm loz hết.
Cao Biền là người nhà Đường, thế kỷ thứ 9. Dẫn quân qua đánh Giao Chỉ. Xong thắng thì làm tiết độ sứ luôn.
Cũng phải nói trước, Cao Biền là một người giỏi, rất giỏi. Cao Biền là tướng võ, nhưng văn võ song toàn. Qua Giao Chỉ cai trị bằng luật pháp, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, kết hợp giao thông. Ngoài ra còn xây thành luỹ, đặt nền móng cho đất Thăng Long xưa và Hà Nội nay.
Về chuyện sông Tô Lịch.
Trước khi Cao Biền làm tiết độ sứ thì Hà Nội có cái hào nước giữ thành đó là sông Hồng. Sau chiến tranh thì bờ thành hỏng, Cao Biền cho người đi đắp lại, mở rộng tường thành. Trong lúc làm thì nhiều khu vực tường thành qua sông Tô Lịch bị sụt lún nên phải kè bằng gỗ và đá, khu vực phải kè lớn nhất là khu Nghĩa Đô - Bưởi bây giờ vì chỗ đó có 1 con ngòi tạo thành ngã 3 dòng chảy, nhưng ngu dân thì đâu có hiểu, người ta xây kè để chống sụt lún thì về kháo nhau là nó trấn yểm. Hay việc buộc người vào cây tre xong tạo khung đòn bẩy để bê đá xây kè với kiểm tra công trình thì vẽ ra việc ngồi diều bay lên trời soi long mạch. Chính Cao Biền là người biến sông Tô Lịch thành trục giao thông chính của Thành Thăng Long (lúc đó gọi là La Thành)
Thần Long Đỗ ở đền Bạch Mã hiện nay còn là cấp dưới của Cao Biền, được Cao Biền phong làm chủ La Thành. Mà đền Bạch Mã thờ cả Cao Biền ngang với Long Đỗ, các vua thời phong kiến khi sắc phong đều đặt Cao Biền ngang Long Đỗ, thế nhưng qua mồm ngu dân thì Long Đỗ với Cao Biền đấu phép với nhau bùm chéo các kiểu.
Bản chất dân Việt rất thích mấy cái thần bí, thần thánh, phép thuật. Dân thì chỉ tin vào lời truyền miệng, lời kể lại, thêm mắm thêm muối.
Câu truyện trấn yểm kia được viết trong Nam Hải Liệt Truyện, một quyển sách tổng hợp lại những câu truyện truyền miệng trong dân gian. Nó dạng như "truyền thuyết đô thị" hiện nay và với 1 lòng ghét Tàu thì việc câu truyện này được phổ biến cũng k có gì là lạ.
Thực ra con sông này ngắc ngoải từ đầu thế kỷ 18 khi phù sa lắng đọng quá nhiều ở ngoài sông Hồng làm dòng chảy nhỏ đi, sau đó sông Hồng đổi dòng chảy thì sông chết hẳn luôn vì lượng nước vào k đủ sức làm trôi đi rác thải, cứt đái mà người dân đã quen thải xuống sông. Chính vì vậy mà khi Pháp chiếm Hà Nội, Pháp cho lấp đi luôn.
Nhưng con sông này là nguồn sống của nhiều đời chủ tịch Hà Nội rồi, từ thời chung con với hoá chất xử lý, hoá chất diệt tảo đã diệt đến 90% tôm nước ngọt tự nhiên và các loại cá đặc thù ở các hồ ở Hà Nội. Hay gần nhất là hệ thống dẫn nước từ Hồ Tây vào để rửa trôi nhưng nước từ đâu để dẫn vào Hồ Tây thì k ai nói.
1 lũ mất dạy lấy lý do thần thánh để bào chữa cho cái sự kém phát triển của bọn nó.
@atlas05
 
ngày xưa chỉ dân gọi là số má lên lễ lạt. giờ đjt mẹ cán bộ công chức cũng đi. tao làm bank thằng sếp tao cũng kéo cả bank đi lễ. dcm bọn dở hơi
 
khổng tử ngày xưa mê nhất là nghiên cứu luận kinh dịch
“Về già, Khổng Tử rất thích Kinh Dịch, soạn các phần Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết Quái, Văn Ngôn. Đọc Kinh Dịch đến mức dây da buộc sách bị đứt ba lần.”
(Vi biên tam tuyệt)
 
Cứ như Tiên nho - từ Hán nho đến Minh nho, đã nói thì Kinh dịch bắt đầu rađời từ vua Phục Hy, một ông vua về đời thần thoại trong sử Tàu, cũng gọiBào Hy, không biết cách đây mấy nghìn hay mấy vạn năm. Lúc ấy HoàngHà có con long mã[1]hiện hình lưng nó có khoáy thành đảm, từ một đếnchín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mớiđem lẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền, tức là “vạch lẻ” đểlàm phù hiệu cho khí Dương, và một nét đứt, tức là “vạch chẵn” để làm phùhiệu cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm mộtnét nữa, thành ra bốn cái “hai vạch”, gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lạivạch thêm một vạch nữa, thành ra tám cái “ba vạch”, gọi là tám Quẻ[2]. Saucùng, vua ấy lại đem Quẻ nọ chồng lên Quẻ kia, điên đảo khắp lượt, thành rasáu mươi tư cái “sáu vạch”, gọi là sáu mươi tư Quẻ[3]. Từ thời Phục Hy đếncuối nhà Thương, Kinh dịch vẫn chỉ là một mớ vạch liền, vạch đứt, chưa cótên hiệu chữ nghĩa gì cả[4].Sang đầu nhà Chu (Trước lịch Tây độ hơn nghìn năm), Văn Vương mới đemnhững quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ đểnói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ 元亨利貞(Nguyên hanh lợi trinh) ởquẻ Kiền, hay chữ 元亨利牝⾺之負 (nguyên hanh lợi tẩn mã chi trịnh) ởquẻ Khôn v.v… Lời đó vẫn gọi là Lời Quẻ 卦辭 (quái tử) hay Lời Thoán 彖辭 (Thoán từ)[5].Kế đó, Cơ Đán, tức Chu Công, con trai thứ Văn Vương, lại theo số vạch củacác quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một hào, và dướimỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào,như câu 初九:潜⿓勿⽤: (Sơ Cửu: tiềm long vật dụng) hay câu 九⼆:克⿓在⽥ (Cửu Nhị hiện long tại điền), trong quẻ Kiền và câu 初六:履霜堅冰⾄办(Sơ Lục lý sương kiên băng chí) hay câu 六三:含章可貞 (Lục Tam: Hàmchương khả trinh) trong quẻ Khôn… Lời đó vẫn gọi Lời Hào (⽘ 辭 HàoTừ) vì nó phần nhiều đều căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên cũnggọi là Lời Tượng (象解 tượng từ)[6].Tiếp đến, Khổng Tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là: Thoán truyện, Tượng truyện,Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái, Thoán truyện có haithiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng vàHạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên,Tiên nho gọi là “Thập dực” (mười cánh).Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ cómột tính cách.Thoán truyện thích lời quẻ của vua Văn, tức là những câu dưới chữ “LờiThoán nói rằng”.Tượng truyện thích hình tượng của các quẻ và các hào, tức là những câudưới chữ “Lời Tượng nói rằng”; thích chung cả quẻ gọi là Đại Tượng, thíchriêng từng hào gọi là Tiểu Tượng.Văn ngôn chuyên thích hại quẻ Kiền, Khôn.Hệ từ nói về đại thể, phàm lệ của Kinh dịch và công phu cùng ý nghĩa trongviệc làm Kinh dịch của Văn Vương Chu Công.Thuyết quái nói về đức nghiệp, pháp tượng và sự biến hóa của tám quẻ.Tự quái nói về những cớ tại sao quẻ này lại để ở dưới quẻ kia.Tạp quái nói về những ý vụn vặt của các quẻ.Những thiên của Khổng Tử, trước vẫn tách riêng, không phụ hẳn vào lờiquẻ, lời hào của Văn Vương Chu Công. Đến đời Hán, Phi Trực mới đemThoán truyện, Tượng truyện và Văn ngôn thuộc về quẻ Kiền hợp với Kinhdịch của Văn Vương Chu Công, để thay vào lời chú thích. Rồi, Trịnh Huyềnlại sáp nhập nốt những câu Văn ngôn của quẻ Khôn và Thoán truyện, Tượngtruyện của các quẻ kia. Từ đó bảy thiên Thoán truyện, Tượng truyện, Vănngôn mới xen vào trong các quẻ. Còn ba thiên kia thì đệ phụ riêng ở cuốisách. Tới đời Tống, Chu Hy làm sách Chu Dịch bản nghĩa đã sắp đặt lại nhưcũ, nhưng mà người ta không theo. Những bản được thịnh hành trong hồigần đây, vẫn là thể tài của bọn Phí Trực, Trịnh Huyền.

Nay nói chính văn Kinh dịch, tức là gồm cả: vạch quẻ của Phục Hy, lời quẻcủa Văn Vương, lời hào của Chu Công, và Thoán truyện, Tượng truyện, Vănngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái của Khổng Tử.Đó là theo lời cựu truyền của tiên nho mà thuật ra, để độc giả biết qua lailịch Kinh dịch là vậy
 
2 - KHÁI LUẬT CỦA KINH DỊCHDù sao mặc lòng, Kinh dịch vẫn là một cuốn sách lạ trong văn học giới củanhân loại. Thể tài sách này không giống một cuốn sách nào. Bởi vì cái gốccủa nó chỉ là một nét vạch ngang, do một nét vạch ngang, đảo điên xoay xỏathành một bộ sách, vậy mà hầu hết chi tiết ở trong, đều có thể thống lụật lệnhất định, chứ không lộn xộn. Trước khi đọc, phải biết qua loa những thểthống luật lệ ấy, thì sau mới dễ nhận hiểu. Vậy nay, theo sự kê cứu của Tiênnho, nên qua ít điều quan hệ trong những thể thống luật lệ đó, như sau:Quẻ. - Quẻ có hai thứ: Một là quẻ đơn, tức là tám quẻ: Kiền, Khảm, Cấn,Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, mỗi quẻ có ba nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ bavạch”. Hai là quẻ kép, tức là sáu mươi tư quẻ do tám quẻ đơn đắp đổi chồngnhau mà thành ra, như quẻ Hàm, quẻ Hằng, quẻ Đại tráng, quẻ Gia nhân…các quẻ này mỗi quẻ có sáu nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ sáu vạch”. Cả haithứ đó, trong sách đều gọi là quẻ (卦Quái), thật ra, tính chất rất không giốngnhau, quẻ đơn là những yếu tố làm nên quẻ kép, mà quẻ kép thì là hợp thểcủa hai quẻ đơn chồng nhau.Hào. - Hào và vạch ngang của quẻ kép, mỗi quẻ sáu vạch, tức là sáu hào.Thứ tự bắt đầu từ dưới kể lên, dưới nhất là hào Đầu, đến hào Hai, đến hàoBa, đến hào Tư, đến hào Năm, cuối cùng là hào Trên. Hào cũng chia làm haithứ: Những hào thuộc nét ngang liền là hào Dương; những hào thuộc nétngang đứt, là hào Âm. Ví như quẻ Chuân, do hai quẻ Chấn, Khảm hợp lạithành mà ra, thì hào Đầu, hào Năm là Dương, hào Hai, hào Ba, Hào Tư, hàoTrên là Am. Ở lời Kinh, hào Dương gọi là hào Chín, hào Âm gọi là hào Sáu.Ví như quẻ Chuân: hào Đầu gọi hào Chín Đầu (初九 Sơ Cửu), hào Hai gọi làhào Sáu Hai (六⼆ Lục Nhị) v.v… Sở dĩ gọi vậy, - theo Tiên nho - là vì khíDương số bảy là trẻ, số chín là già, khí Âm số tám là trẻ, số sáu là già, già thìbiến đổi, chứ trẻ thì chưa biến đổi, Kinh dịch chú trọng ở sự biến đổi, chonên mới lấy số Chín làm tên hào Dương và lấy số Sáu làm tên hào Âm.Tính của các quẻ và các hào - Tám quẻ đơn, mỗi quẻ đều có tính riêng, đạikhái, tính Kiền thì mạnh, tính Khôn thì thuận, tính Chấn thì động, tính Tốn lànhún, tính Cấn hay đậu, tính Đoái hay đẹp lòng, tính Ly có khi thì sáng, cókhi là trống rỗng, tính Khảm có khi là hiểm, có khi là dầy đặc. Vậy ở sáchnày, nói mạnh là chỉ về Kiền, nói thuận là chỉ về Khôn, nói động là chỉ vềChấn, nói nhún là chỉ về Tốn, nói động là chỉ về Cấn, nói đẹp lòng là chỉ vềĐoái, nói sáng hay trống rỗng là chỉ về Ly, nói hiểm hay dày đặc là chỉ vềKhảm - Còn hào, thì hào Dương tất nhiên cứng mạnh thích động và hay đilên, hào Âm tất nhiên mềm yếu thích tĩnh và hay đi xuống. Vậy ở sách này,nói cứng là chỉ về hào Dương, nói mềm là chỉ về hào Âm.Tượng của quẻ và hào - Tám quẻ đơn đều làm biểu hiện cho các vật ở vũtrụ, mỗi quẻ là hình tượng của một hoặc nhiều vật. Ví như Kiền là tượngtrời, lại là tượng con rồng; Khôn là tượng đất, lại là tượng con trâu; Chấn làtượng sấm, lại là tượng cái cây; Khảm là tượng nước, lại là tượng mây,tượng mưa; Tốn là tượng gió, Ly là tượng lửa; Cấn là tượng núi; Đoài làtượng chằm… Đó là nói qua, sau đây đọc đến các quẻ sẽ thấy rõ hơn. Cònhào, tự nó không có tượng riêng, vì không chuyên hình dung cho vật gi,nhưng khi đã hợp nhau lại thành quẻ, thì cũng có khi có tượng. Ví như hàogiữa quẻ Khảm là tượng “dày đặc”, bởi vì hào ấy là nét ngang liền, đứnggiữa hai nét ngang đứt, giống như một vật đặc giữa; hay như hào giữa quẻLy là tượng “trống rỗng bên trong”, bởi vì hào này là nét ngang đứt, đứnggiữa hai nét ngang liền, giống như một vật rồng ruột vậy.Sự áp dụng của hào và quẻ - Trong Kinh dịch phần của Văn Vương ChuCông chú trọng ở sự bói toán, phần của Khổng Tử chú trọng ở cách tu nhânxử thế của từng người, đó là điều rất rõ rệt. Dù là việc bói toán, dù là cách tunhân xử thế, cũng đều phải lấy nhân sự làm căn cứ, vì vậy, người ta mới chiamỗi quẻ ra làm ba thứ: thì, ngôi và người.Thì là thời kỳ. Trong sáu mươi tư quẻ kép, mỗi quẻ là một thời kỳ. Ví nhưquẻ Thái tức là thời kỳ hanh thái, quẻ Bĩ tức là thời kỳ bế tắc, v.v… Trongmỗi quẻ, hào Đầu là đầu thời kỳ, hào Trên là cuối thời kỳ, còn các hào giữa,cố nhiên là giữa thời kỳ. Đó là nói về đại khái, chính ra một quẻ có khikhông chỉ về một thời kỳ mà chỉ về một công cuộc, ví như quẻ Tốn, Ích, Ty,Tụng v.v… Nhưng về nghĩa này rất ít.Ngôi là thứ tự của các hào. Mỗi quẻ sáu hào, tức là sáu ngôi. Theo lời chúthích của Tiên nho, nhất là lời chú thích của Trình Di và Chu Hy, thì trongmột quẻ, hào Đầu là ngôi thứ dân, hào Hai là ngôi tư mục, hào Ba là ngôiquan Khanh, quan Đại phu, hào Tư là ngôi đại thần, hào Năm là ngôi vua,hào Trên là ngôi các vị lão thành. Đây cũng là nói đại khái mà thôi, khôngphải các quẻ đều đúng lệ đó.Tất cả các ngôi, đều có nhiều hạng tương phản với nhau, ví như chính vàkhông chính, giữa và không giữa, có ứng và không ứng. Hào Dương mà ởngôi lẻ, tức là ngôi Đậu, ngôi Ba, ngôi Năm; hào Âm mà ở ngôi chẵn tức làngôi Hai, ngôi Tư, ngôi Trên, thế là được chỗ chính; trái lại, nếu hào Dươngmà ở ngôi chẵn, hào Âm mà ở ngôi lẻ thì là bất chính. Trong mỗi quẻ, chỉ cóhào Hai, hào Năm là giữa, vì một quẻ kép do hai quẻ đơn hợp lại, mà hàoHai là giữa quẻ (đơn) dưới, hào Năm thì ở giữa quẻ (đơn) trên. Còn cốc hàokhác đều là không giữa.Ứng là hào nọ ứng với hào kia, như làm ngoại viện cho nhau. Trong một quẻ(kép), hào Đầu ứng với hào Tư, hào Hai ứng với hào Năm, hào Ba ứng vớihào Trên, thường lệ như thế. Nhưng phải một hào là Dương, một hào là Âmmới là có ứng. Nếu hai hào cùng một loại, ví như hào Đầu là hào Dương,hào Tư cũng là hào Dương, hào Hai là hào Âm, hào Năm cũng là hào Âm…thì không tương ứng. Vậy nói “chính giữa có ứng” tức là hào Âm ở ngôi Haimà trên ngôi Năm là hào Dương, hay hào Dương ở ngôi Năm mà dưới ngôiHai là hào Âm.Trên đây là lệ nhất định.Người là bản thân kẻ xem bói, nói rộng ra thì là bản thân kẻ ở địa vị nào,trong thời kỳ nào, ví như hào Đầu quẻ Bĩ tức là thứ dân trong đời bĩ tắc, hàoNăm quẻ Thái thì ông vua trong đời hanh thái v.v… Người có hai dạng quântử và tiểu nhân, hay là đàn ông và đàn bà. Tiên nho cho rằng: Hào Dương làquân tử hay đàn ông, hào Âm là tiểu nhân hay đàn bà. Hào Dương ở ngôiDương, tức là quân tử được ngôi, hào Âm ở ngôi chẵn, tức là tiểu nhân biếtđiều, trái lại, hào Dương ở ngôi chẵn, thì là quân tử không ngôi, hào Âm ởngôi lẻ, thì là tiểu nhân càn bậy. Lệ này cũng là thuộc về phần nhiều, khôngphải hết thảy như thế.Tượng và Chiêm - Theo ý Chu Hy, một hào thường làm hai thứ, là Tượng vàChiêm. Tượng là hình tượng. Chiêm là lời đoán. Ví như hào Chín Đầu củaquẻ Kiền có câu: “rồng lặn chớ dùng”, thì “rồng lặn” là tượng, vì Kiền làtượng con rồng, mà ngôi Đầu là chỗ rất thấp, tức là tượng của sự lặn; “chớdùng” là Chiêm, vì nó là lời khuyên bảo người ta. Tượng thì tùy quẻ tùy hàomà hình dung ra, không có nhất định. Còn Chiêm đại để chia làm hai loại,hay dở. Về mặt hay, hay nhất là nguyên cát (cả tốt) đến cát hanh (tốt và hanhthông), đến cát (tốt), đến hanh (hanh thông), đến lợi (lợi về sự gi), đến vô hối(không ăn năn), đến vô cữu (không lỗi); về mặt dở, dở nhất là hung (dữ), đếnlệ (nguy), đến vô du lợi (không lợi về sự gì), đến lận (đáng thẹn tiếc), đếnhữu cữu (có lỗi), đến hữu hối (có ăn năn). Đem tính chất của lời Chiêm màphân tích ra, thì thay nặng nhẹ khác nhau như vậy. Trong sáu tư quẻ, ba trămtám mươi tư hào, nhiều hào có Tượng mà không có Chiêm, cũng nhiều hàomà có Chiêm mà không có Tượng, không phải hào nào cũng đủ cả hai thứ đó
 
hôm qua có ngồi ở chỗ đền mẫu đại lộ chỗ ninh xá thường tín thấy bảo niên đại 700 năm, thờ tứ thánh,linh thiêng lắm, trước vua về suốt,k biết phải không
;))
 

Có thể bạn quan tâm

Top