VOV.VN - Sáng 24/4, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030, trong đó chốt trần nợ công không quá 60% GDP và tổng mức vay khoảng 6,497 triệu tỷ đồng.
Nghị quyết về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030, xác định mục tiêu xây dựng nền tài chính quốc gia hiệu quả, minh bạch, bền vững, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn nợ công.
Trong giai đoạn 2026-2030, chính sách tài khóa tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phục vụ tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và tăng tính chủ động của ngân sách địa phương.
Nghị quyết về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030, xác định mục tiêu xây dựng nền tài chính quốc gia hiệu quả, minh bạch, bền vững, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn nợ công.
Trong giai đoạn 2026-2030, chính sách tài khóa tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phục vụ tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và tăng tính chủ động của ngân sách địa phương.
Toàn cảnh phiên họp sáng 24/4
Quốc hội xác định tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng, với tỷ lệ huy động bình quân đạt khoảng 18% GDP; thu nội địa chiếm 87-88%, thu ngân sách trung ương chiếm khoảng 53-54% tổng thu ngân sách.
Tổng chi ngân sách nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, trong đó dành khoảng 8,51 triệu tỷ đồng cho chi đầu tư phát triển. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển bình quân khoảng 40%, chi thường xuyên khoảng 51-52% tổng chi ngân sách. Đồng thời, bố trí tối thiểu 3% ngân sách hằng năm cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và 20% cho giáo dục, đào tạo.
Bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 được kiểm soát ở mức khoảng 5% GDP; trong đó bội chi ngân sách trung ương khoảng 4,4% GDP, ngân sách địa phương khoảng 0,6% GDP.
Quốc hội cũng đặt ra các ngưỡng an toàn nợ công, trong đó nợ công không quá 60% GDP; nợ Chính phủ không quá 50% GDP; nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không vượt quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước; nghĩa vụ trả nợ lãi không quá 10%.
Tổng mức vay của Chính phủ giai đoạn 2026-2030 khoảng 6,497 triệu tỷ đồng; riêng ngân sách trung ương khoảng 6,327 triệu tỷ đồng. Chính quyền địa phương được phép vay khoảng 622 nghìn tỷ đồng, trong khi hạn mức bảo lãnh Chính phủ là 68,4 nghìn tỷ đồng.
Về định hướng, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, nợ công và đầu tư công.
Quốc hội yêu cầu xây dựng hệ thống thuế hiện đại, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá; nâng cao hiệu quả chi tiêu công, gắn với kết quả đầu ra và hiệu quả kinh tế - xã hội. Vay bù đắp bội chi chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển và chỉ vay trong khả năng trả nợ.
Đồng thời, siết chặt kỷ luật tài chính - ngân sách, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng quản trị tài chính công.
Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ điều hành linh hoạt công tác vay, trả nợ công, bảo đảm an toàn nợ, thanh khoản thị trường trái phiếu Chính phủ, đồng thời phấn đấu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư trong thời gian tới.
Nghị quyết được thông qua với sự đồng thuận cao, tạo khuôn khổ quan trọng cho điều hành tài chính - ngân sách và quản lý nợ công trong giai đoạn 2026 - 2030.
Tổng chi ngân sách nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, trong đó dành khoảng 8,51 triệu tỷ đồng cho chi đầu tư phát triển. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển bình quân khoảng 40%, chi thường xuyên khoảng 51-52% tổng chi ngân sách. Đồng thời, bố trí tối thiểu 3% ngân sách hằng năm cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và 20% cho giáo dục, đào tạo.
Bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 được kiểm soát ở mức khoảng 5% GDP; trong đó bội chi ngân sách trung ương khoảng 4,4% GDP, ngân sách địa phương khoảng 0,6% GDP.
Quốc hội cũng đặt ra các ngưỡng an toàn nợ công, trong đó nợ công không quá 60% GDP; nợ Chính phủ không quá 50% GDP; nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không vượt quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước; nghĩa vụ trả nợ lãi không quá 10%.
Tổng mức vay của Chính phủ giai đoạn 2026-2030 khoảng 6,497 triệu tỷ đồng; riêng ngân sách trung ương khoảng 6,327 triệu tỷ đồng. Chính quyền địa phương được phép vay khoảng 622 nghìn tỷ đồng, trong khi hạn mức bảo lãnh Chính phủ là 68,4 nghìn tỷ đồng.
Về định hướng, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, nợ công và đầu tư công.
Quốc hội yêu cầu xây dựng hệ thống thuế hiện đại, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá; nâng cao hiệu quả chi tiêu công, gắn với kết quả đầu ra và hiệu quả kinh tế - xã hội. Vay bù đắp bội chi chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển và chỉ vay trong khả năng trả nợ.
Đồng thời, siết chặt kỷ luật tài chính - ngân sách, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng quản trị tài chính công.
Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ điều hành linh hoạt công tác vay, trả nợ công, bảo đảm an toàn nợ, thanh khoản thị trường trái phiếu Chính phủ, đồng thời phấn đấu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư trong thời gian tới.
Nghị quyết được thông qua với sự đồng thuận cao, tạo khuôn khổ quan trọng cho điều hành tài chính - ngân sách và quản lý nợ công trong giai đoạn 2026 - 2030.