TÂM LÝ NHÂN DÂN AN NAM

m0nters

Khổ vì lồn
Những đặc điểm như tâm lý , tố chất của một dân tộc nó luôn song hành cùng dân tộc đó qua những giai đoạn phát triển . Kể cả từ giai đoạn lịch sử trước đây cho đến hiện tại những dân tộc tính đó vẫn biểu hiện trong cuộc sống bình thường cũng như qua các cuộc chiến tranh, thiên tai , dịch bệnh ...
Đọc cuốn sách "Tâm lí dân tộc An Nam” của Paul Giran lột tả phần nào cho ta thấy cái " dân tộc tính " đó, cho dù những nhận xét là của một cá nhân cách đây cả thế kỷ , nhũng nhận xét đó tất nhiên là dưới góc nhìn của một người phương tây , một quan chức của hệ thống thuộc địa cũ.
Trước hết là vài dòng về tác giả Paul Giran. Tác giả xuất thân là một quan chức hành chánh từng có thời làm việc ở Đông Dương vào đầu thế kỉ 20. Ông sanh ngày 2/12/1875, lớn lên theo học tại Ecole Coloniale (Trường Thuộc Địa). Năm 1899, tức mới 24 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương. Trong thời gian đó, ông đã tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội Việt Nam và có những phân tích theo cách nhìn của một người quan chức phương Tây.
Những cái nhìn của ông được đúc kết trong cuốn sách nhỏ này. Đây là một cuốn sách dễ làm cho rất nhiều người Việt nổi giận. Nổi giận vì tự ái dân tộc. Trong sách, tác giả Paul Giran hầu như không có một nhận xét tích cực nào cho dân tộc mà ông gọi là ‘An Nam’. Nếu có nhận xét tích cực, thì cách ông viết làm cho người đọc thấy như là một cách mỉa mai. Chẳng hạn như ông nhận xét người An Nam là can đảm, nhưng ngay sau đó ông viết rằng đối với người Pháp thì đó là “táo bạo, mạo hiểm, và liều lĩnh” chứ không phải can đảm như cách người Pháp hiểu. Đó là một dân tộc — theo Giran – yếu đuối về thể chất, nghèo nàn về cảm xúc, có tâm hồn trẻ con, sợ quyền thế nhưng hám quyền, không có tính sáng tạo, tàn nhẫn và man rợ. Những ‘tố chất’ dân tộc đó, theo Giran, là do kết tinh từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa Trung Hoa.
Tố chất
Cái ‘luận án’ chính của Giran là tố chất của một dân tộc chịu sự chi phối của yếu tố môi trường tự nhiên, nên ông dành khá nhiều trang mô tả môi trường sống ở Việt Nam. Về môi trường, ông cho rằng khí hậu khắc nghiệt ở Nam Kì không tốt cho sức khỏe, vì đất lúc nào cũng ẩm ướt, thường bị ngập lụt, cây cối sinh sôi nẩy nở nhanh, và dưới cái nóng, tạo nên nhưng lam chướng độc hại. Những yếu tố môi trường này là yếu tố nguy cơ cho các bệnh truyền nhiễm như kiết lị, tiêu chảy, sốt rét, tả, đậu mùa. Có lẽ đó là một trong những lí do giải thích tại sao tuổi thọ ở người An Nam vào đầu thế kỉ 20 còn khá thấp.
Về tâm lí, Giran mô tả dân tộc An Nam là vô cảm và lãnh đạm. Ông lấy trường hợp những bệnh nhân phong cùi “bị đuổi ra khỏi nhà như súc vật” để minh họa cho sự vô cảm. Ngay từ đầu thế kỉ 20 mà Giran đã nhận xét rằng người An Nam lãnh đạm và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, vì không có nhu cầu to tát, không có mong ước lớn, nên họ là “một dân tộc hạnh phúc”. Tuy nhiên, ngay sau đó, Giran nhận xét rằng “điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn”!
Không chỉ vô cảm và lãnh đạm, dân tộc An Nam còn … tàn ác. Giran trích bộ luật Gia Long mô tả những nhục hình man rợ được áp dụng cho những phạm nhân như là một minh họa cho nhận xét tàn ác.
Một khía cạnh tâm lí khác của người An Nam là tính nhẫn nhục và chịu đựng. Ông giải thích rằng vì tính chịu đựng tốt nên người An Nam không có ý chí phản kháng. Họ (người An Nam) rất sợ quyền lực, rất quị lụy trước người có quyền thế, cho dù là người có quyền thấp nhứt. Người An Nam sẵn sàng “dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.”
Tuy nhiên, người An Nam rất hám quyền và thích các chức vụ trong hệ thống công quyền. Tại sao? Tại vì, theo Giran nhận xét, “nghề này thỏa mãn tình yêu quyền lực, phỉnh nịnh thiên hướng của họ, đưa đến sự trơ ỳ và phù hợp với sự thiếu sáng tạo của họ. Vì vậy, hầu hết những người An Nam thông minh hoặc giàu có đều khao khát quan trường.”
Người An Nam có tài năng hay sáng kiến không? Theo Giran, người An Nam không có năng lực sáng tạo vì họ kém trí tưởng tượng. Cũng như người Trung Hoa, người An Nam nghèo nàn về cảm xúc và trí tưởng tượng. Thật ra, Giran viết rằng “Năng lực trừu tượng ở gần họ gần như hoàn toàn không có; đó là lí do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung”
Do đó, người An Nam chỉ thích làm theo đường mòn, làm theo những gì người khác đã vạch ra, chứ không tự mình đặt ra con đường mới. Ông nhìn cách những người thợ tranh sơn mài và khảm xà cừ, và đi đến nhận xét rằng họ làm tỉ mỉ và khéo léo, nhưng đó chỉ là những thói quen, chớ không có sáng tạo. Ngay cả thiếu sót cũng trở thành một thói quen! Họ bắt chước sao cho gần như hoàn hảo. Ông kết luận “Sự thờ ơ, không có sáng kiến, không có tinh thần sáng chế, họ chưa bao giờ là người sáng tạo […] Họ có tài năng nhất định, nhưng không bao giờ là thiên tài”.
Trong sách, Giran cũng có những nhận xét tiêu cực về khoa học của người An Nam. Ông cho rằng người An Nam tin vào thuyết định mệnh, cộng thêm trí tưởng tượng ấu trĩ và nhận thức mơ hồ, nên họ không tạo ra được một nền khoa học đúng nghĩa. Những màn bói toán, thuật gọi hồn, y thuật phù thủy đối với ông là những ‘trò lừa đảo’ và ngụy tạo chứ không có gì gọi là khoa học cả.
Giran không có chút ấn tượng tốt nào dành cho nền giáo dục An Nam. Ông nhận xét rằng trình độ học vấn được đánh giá dựa trên số chữ và số câu châm ngôn thời xa xưa mà một cá nhân biết được, chớ không dựa vào kiến thức. Còn những kì thi thì chỉ xoay quanh những bài luận văn triết học, đạo đức, tôn giáo, mà trong đó thí sinh phải thể hiện sự uyên bác chớ không có khoa học bài bản và thực sự. Người An Nam đánh giá “trí nhớ là tất cả trí thông minh; khoa học chỉ là uyên bác, triết học chỉ là thể thức.”
Rất khó phán xét những nhận xét của ông ấy đúng hay sai, vì khái niệm đúng/sai trong khoa học xã hội rất khó xác định. Mỗi người có một cách nhìn tùy theo trình độ và trải nghiệm của cá nhân. Ngay cả bây giờ nhìn lại có lẽ chúng ta cũng đồng ý với Giran ở vài (thậm chí ‘nhiều’) nhận xét của ông. Ngay từ thời đó, Giran đã nhận xét rằng người An Nam rất mê cờ bạc mà ông xem là một trong những ‘dục vọng’, và điều này vẫn đúng cho ngày hôm nay. Những thái độ vô cảm, dã man, bầy đàn, .v.v thì vẫn còn đó hay tồn tại ở một dạng khác. Bất cứ ai đọc báo ngày nay cũng đều có thể lấy ra vài ví dụ để minh hoạ cho những nhận xét hơn 100 năm trước của Giran.
Nhận xét của Giran về làm theo đường mòn và trí lực kém của người Việt cũng không hẳn là sai. Chúng ta có thể lấy vài ca thiểu số xuất sắc để phản bác ông, nhưng sự thật là vài ca thiểu số không thể đại diện cho cộng đồng dân tộc. Người Việt Nam có thể sáng tạo, nhưng chỉ đi từ 1 đến 10, chớ không đi từ 0 đến 1. Nói cách khác, người Việt Nam (và ngay cả người Nhật cũng tự thú nhận rằng họ) không/chưa có những sáng tạo mang tính đột phá, mà chỉ là những sáng tạo mang tính cải tiến trên những gì người khác đã đột phá.
Có thể xem cuốn sách là một phiên bản “Người Việt Xấu Xí”, nhưng do một người ngoại quốc viết. Những ai hay quan tâm đến tình hình xã hội hiện nay sẽ dễ dàng đồng tình với một số nhận xét của tác giả. Nhưng những ai thuộc thành phần ‘elite’ hay tự cho mình là ‘elite’ thì sẽ rất khó chịu với những nhận xét không khoan nhượng của Giran. Dù đồng tình hay không đồng tình với tác giả, cuốn sách vẫn là một lời cảnh tỉnh cần thiết cho những người Việt đang tự ru ngủ mình là một dân tộc đỉnh cao, nhân ái, can đảm, thông minh, và sáng tạo.

242847320_404256307717640_2653113853162047709_n.jpg
 
Những đặc điểm như tâm lý , tố chất của một dân tộc nó luôn song hành cùng dân tộc đó qua những giai đoạn phát triển . Kể cả từ giai đoạn lịch sử trước đây cho đến hiện tại những dân tộc tính đó vẫn biểu hiện trong cuộc sống bình thường cũng như qua các cuộc chiến tranh, thiên tai , dịch bệnh ...
Đọc cuốn sách "Tâm lí dân tộc An Nam” của Paul Giran lột tả phần nào cho ta thấy cái " dân tộc tính " đó, cho dù những nhận xét là của một cá nhân cách đây cả thế kỷ , nhũng nhận xét đó tất nhiên là dưới góc nhìn của một người phương tây , một quan chức của hệ thống thuộc địa cũ.
Trước hết là vài dòng về tác giả Paul Giran. Tác giả xuất thân là một quan chức hành chánh từng có thời làm việc ở Đông Dương vào đầu thế kỉ 20. Ông sanh ngày 2/12/1875, lớn lên theo học tại Ecole Coloniale (Trường Thuộc Địa). Năm 1899, tức mới 24 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương. Trong thời gian đó, ông đã tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội Việt Nam và có những phân tích theo cách nhìn của một người quan chức phương Tây.
Những cái nhìn của ông được đúc kết trong cuốn sách nhỏ này. Đây là một cuốn sách dễ làm cho rất nhiều người Việt nổi giận. Nổi giận vì tự ái dân tộc. Trong sách, tác giả Paul Giran hầu như không có một nhận xét tích cực nào cho dân tộc mà ông gọi là ‘An Nam’. Nếu có nhận xét tích cực, thì cách ông viết làm cho người đọc thấy như là một cách mỉa mai. Chẳng hạn như ông nhận xét người An Nam là can đảm, nhưng ngay sau đó ông viết rằng đối với người Pháp thì đó là “táo bạo, mạo hiểm, và liều lĩnh” chứ không phải can đảm như cách người Pháp hiểu. Đó là một dân tộc — theo Giran – yếu đuối về thể chất, nghèo nàn về cảm xúc, có tâm hồn trẻ con, sợ quyền thế nhưng hám quyền, không có tính sáng tạo, tàn nhẫn và man rợ. Những ‘tố chất’ dân tộc đó, theo Giran, là do kết tinh từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa Trung Hoa.
Tố chất
Cái ‘luận án’ chính của Giran là tố chất của một dân tộc chịu sự chi phối của yếu tố môi trường tự nhiên, nên ông dành khá nhiều trang mô tả môi trường sống ở Việt Nam. Về môi trường, ông cho rằng khí hậu khắc nghiệt ở Nam Kì không tốt cho sức khỏe, vì đất lúc nào cũng ẩm ướt, thường bị ngập lụt, cây cối sinh sôi nẩy nở nhanh, và dưới cái nóng, tạo nên nhưng lam chướng độc hại. Những yếu tố môi trường này là yếu tố nguy cơ cho các bệnh truyền nhiễm như kiết lị, tiêu chảy, sốt rét, tả, đậu mùa. Có lẽ đó là một trong những lí do giải thích tại sao tuổi thọ ở người An Nam vào đầu thế kỉ 20 còn khá thấp.
Về tâm lí, Giran mô tả dân tộc An Nam là vô cảm và lãnh đạm. Ông lấy trường hợp những bệnh nhân phong cùi “bị đuổi ra khỏi nhà như súc vật” để minh họa cho sự vô cảm. Ngay từ đầu thế kỉ 20 mà Giran đã nhận xét rằng người An Nam lãnh đạm và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, vì không có nhu cầu to tát, không có mong ước lớn, nên họ là “một dân tộc hạnh phúc”. Tuy nhiên, ngay sau đó, Giran nhận xét rằng “điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn”!
Không chỉ vô cảm và lãnh đạm, dân tộc An Nam còn … tàn ác. Giran trích bộ luật Gia Long mô tả những nhục hình man rợ được áp dụng cho những phạm nhân như là một minh họa cho nhận xét tàn ác.
Một khía cạnh tâm lí khác của người An Nam là tính nhẫn nhục và chịu đựng. Ông giải thích rằng vì tính chịu đựng tốt nên người An Nam không có ý chí phản kháng. Họ (người An Nam) rất sợ quyền lực, rất quị lụy trước người có quyền thế, cho dù là người có quyền thấp nhứt. Người An Nam sẵn sàng “dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.”
Tuy nhiên, người An Nam rất hám quyền và thích các chức vụ trong hệ thống công quyền. Tại sao? Tại vì, theo Giran nhận xét, “nghề này thỏa mãn tình yêu quyền lực, phỉnh nịnh thiên hướng của họ, đưa đến sự trơ ỳ và phù hợp với sự thiếu sáng tạo của họ. Vì vậy, hầu hết những người An Nam thông minh hoặc giàu có đều khao khát quan trường.”
Người An Nam có tài năng hay sáng kiến không? Theo Giran, người An Nam không có năng lực sáng tạo vì họ kém trí tưởng tượng. Cũng như người Trung Hoa, người An Nam nghèo nàn về cảm xúc và trí tưởng tượng. Thật ra, Giran viết rằng “Năng lực trừu tượng ở gần họ gần như hoàn toàn không có; đó là lí do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung”
Do đó, người An Nam chỉ thích làm theo đường mòn, làm theo những gì người khác đã vạch ra, chứ không tự mình đặt ra con đường mới. Ông nhìn cách những người thợ tranh sơn mài và khảm xà cừ, và đi đến nhận xét rằng họ làm tỉ mỉ và khéo léo, nhưng đó chỉ là những thói quen, chớ không có sáng tạo. Ngay cả thiếu sót cũng trở thành một thói quen! Họ bắt chước sao cho gần như hoàn hảo. Ông kết luận “Sự thờ ơ, không có sáng kiến, không có tinh thần sáng chế, họ chưa bao giờ là người sáng tạo […] Họ có tài năng nhất định, nhưng không bao giờ là thiên tài”.
Trong sách, Giran cũng có những nhận xét tiêu cực về khoa học của người An Nam. Ông cho rằng người An Nam tin vào thuyết định mệnh, cộng thêm trí tưởng tượng ấu trĩ và nhận thức mơ hồ, nên họ không tạo ra được một nền khoa học đúng nghĩa. Những màn bói toán, thuật gọi hồn, y thuật phù thủy đối với ông là những ‘trò lừa đảo’ và ngụy tạo chứ không có gì gọi là khoa học cả.
Giran không có chút ấn tượng tốt nào dành cho nền giáo dục An Nam. Ông nhận xét rằng trình độ học vấn được đánh giá dựa trên số chữ và số câu châm ngôn thời xa xưa mà một cá nhân biết được, chớ không dựa vào kiến thức. Còn những kì thi thì chỉ xoay quanh những bài luận văn triết học, đạo đức, tôn giáo, mà trong đó thí sinh phải thể hiện sự uyên bác chớ không có khoa học bài bản và thực sự. Người An Nam đánh giá “trí nhớ là tất cả trí thông minh; khoa học chỉ là uyên bác, triết học chỉ là thể thức.”
Rất khó phán xét những nhận xét của ông ấy đúng hay sai, vì khái niệm đúng/sai trong khoa học xã hội rất khó xác định. Mỗi người có một cách nhìn tùy theo trình độ và trải nghiệm của cá nhân. Ngay cả bây giờ nhìn lại có lẽ chúng ta cũng đồng ý với Giran ở vài (thậm chí ‘nhiều’) nhận xét của ông. Ngay từ thời đó, Giran đã nhận xét rằng người An Nam rất mê cờ bạc mà ông xem là một trong những ‘dục vọng’, và điều này vẫn đúng cho ngày hôm nay. Những thái độ vô cảm, dã man, bầy đàn, .v.v thì vẫn còn đó hay tồn tại ở một dạng khác. Bất cứ ai đọc báo ngày nay cũng đều có thể lấy ra vài ví dụ để minh hoạ cho những nhận xét hơn 100 năm trước của Giran.
Nhận xét của Giran về làm theo đường mòn và trí lực kém của người Việt cũng không hẳn là sai. Chúng ta có thể lấy vài ca thiểu số xuất sắc để phản bác ông, nhưng sự thật là vài ca thiểu số không thể đại diện cho cộng đồng dân tộc. Người Việt Nam có thể sáng tạo, nhưng chỉ đi từ 1 đến 10, chớ không đi từ 0 đến 1. Nói cách khác, người Việt Nam (và ngay cả người Nhật cũng tự thú nhận rằng họ) không/chưa có những sáng tạo mang tính đột phá, mà chỉ là những sáng tạo mang tính cải tiến trên những gì người khác đã đột phá.
Có thể xem cuốn sách là một phiên bản “Người Việt Xấu Xí”, nhưng do một người ngoại quốc viết. Những ai hay quan tâm đến tình hình xã hội hiện nay sẽ dễ dàng đồng tình với một số nhận xét của tác giả. Nhưng những ai thuộc thành phần ‘elite’ hay tự cho mình là ‘elite’ thì sẽ rất khó chịu với những nhận xét không khoan nhượng của Giran. Dù đồng tình hay không đồng tình với tác giả, cuốn sách vẫn là một lời cảnh tỉnh cần thiết cho những người Việt đang tự ru ngủ mình là một dân tộc đỉnh cao, nhân ái, can đảm, thông minh, và sáng tạo.

View attachment 559713


Riêng phần này thì mình nghĩ ông này chắc chưa bao giờ tìm dc người xem đúng. Chứ nếu gặp mình thì đảm bảo, ông sẽ phải thay đổi toàn bộ quan điểm này.

Thứ nữa, người An Nam thực chất ít người có nền tảng pháp luật và coi trọng pháp luật. Nó làm cho dân tộc này ít theo tư duy logic. Không biết trong sách ông có nói đến vấn đề này không.
 
Những đặc điểm như tâm lý , tố chất của một dân tộc nó luôn song hành cùng dân tộc đó qua những giai đoạn phát triển . Kể cả từ giai đoạn lịch sử trước đây cho đến hiện tại những dân tộc tính đó vẫn biểu hiện trong cuộc sống bình thường cũng như qua các cuộc chiến tranh, thiên tai , dịch bệnh ...
Đọc cuốn sách "Tâm lí dân tộc An Nam” của Paul Giran lột tả phần nào cho ta thấy cái " dân tộc tính " đó, cho dù những nhận xét là của một cá nhân cách đây cả thế kỷ , nhũng nhận xét đó tất nhiên là dưới góc nhìn của một người phương tây , một quan chức của hệ thống thuộc địa cũ.
Trước hết là vài dòng về tác giả Paul Giran. Tác giả xuất thân là một quan chức hành chánh từng có thời làm việc ở Đông Dương vào đầu thế kỉ 20. Ông sanh ngày 2/12/1875, lớn lên theo học tại Ecole Coloniale (Trường Thuộc Địa). Năm 1899, tức mới 24 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương. Trong thời gian đó, ông đã tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội Việt Nam và có những phân tích theo cách nhìn của một người quan chức phương Tây.
Những cái nhìn của ông được đúc kết trong cuốn sách nhỏ này. Đây là một cuốn sách dễ làm cho rất nhiều người Việt nổi giận. Nổi giận vì tự ái dân tộc. Trong sách, tác giả Paul Giran hầu như không có một nhận xét tích cực nào cho dân tộc mà ông gọi là ‘An Nam’. Nếu có nhận xét tích cực, thì cách ông viết làm cho người đọc thấy như là một cách mỉa mai. Chẳng hạn như ông nhận xét người An Nam là can đảm, nhưng ngay sau đó ông viết rằng đối với người Pháp thì đó là “táo bạo, mạo hiểm, và liều lĩnh” chứ không phải can đảm như cách người Pháp hiểu. Đó là một dân tộc — theo Giran – yếu đuối về thể chất, nghèo nàn về cảm xúc, có tâm hồn trẻ con, sợ quyền thế nhưng hám quyền, không có tính sáng tạo, tàn nhẫn và man rợ. Những ‘tố chất’ dân tộc đó, theo Giran, là do kết tinh từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa Trung Hoa.
Tố chất
Cái ‘luận án’ chính của Giran là tố chất của một dân tộc chịu sự chi phối của yếu tố môi trường tự nhiên, nên ông dành khá nhiều trang mô tả môi trường sống ở Việt Nam. Về môi trường, ông cho rằng khí hậu khắc nghiệt ở Nam Kì không tốt cho sức khỏe, vì đất lúc nào cũng ẩm ướt, thường bị ngập lụt, cây cối sinh sôi nẩy nở nhanh, và dưới cái nóng, tạo nên nhưng lam chướng độc hại. Những yếu tố môi trường này là yếu tố nguy cơ cho các bệnh truyền nhiễm như kiết lị, tiêu chảy, sốt rét, tả, đậu mùa. Có lẽ đó là một trong những lí do giải thích tại sao tuổi thọ ở người An Nam vào đầu thế kỉ 20 còn khá thấp.
Về tâm lí, Giran mô tả dân tộc An Nam là vô cảm và lãnh đạm. Ông lấy trường hợp những bệnh nhân phong cùi “bị đuổi ra khỏi nhà như súc vật” để minh họa cho sự vô cảm. Ngay từ đầu thế kỉ 20 mà Giran đã nhận xét rằng người An Nam lãnh đạm và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, vì không có nhu cầu to tát, không có mong ước lớn, nên họ là “một dân tộc hạnh phúc”. Tuy nhiên, ngay sau đó, Giran nhận xét rằng “điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn”!
Không chỉ vô cảm và lãnh đạm, dân tộc An Nam còn … tàn ác. Giran trích bộ luật Gia Long mô tả những nhục hình man rợ được áp dụng cho những phạm nhân như là một minh họa cho nhận xét tàn ác.
Một khía cạnh tâm lí khác của người An Nam là tính nhẫn nhục và chịu đựng. Ông giải thích rằng vì tính chịu đựng tốt nên người An Nam không có ý chí phản kháng. Họ (người An Nam) rất sợ quyền lực, rất quị lụy trước người có quyền thế, cho dù là người có quyền thấp nhứt. Người An Nam sẵn sàng “dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.”
Tuy nhiên, người An Nam rất hám quyền và thích các chức vụ trong hệ thống công quyền. Tại sao? Tại vì, theo Giran nhận xét, “nghề này thỏa mãn tình yêu quyền lực, phỉnh nịnh thiên hướng của họ, đưa đến sự trơ ỳ và phù hợp với sự thiếu sáng tạo của họ. Vì vậy, hầu hết những người An Nam thông minh hoặc giàu có đều khao khát quan trường.”
Người An Nam có tài năng hay sáng kiến không? Theo Giran, người An Nam không có năng lực sáng tạo vì họ kém trí tưởng tượng. Cũng như người Trung Hoa, người An Nam nghèo nàn về cảm xúc và trí tưởng tượng. Thật ra, Giran viết rằng “Năng lực trừu tượng ở gần họ gần như hoàn toàn không có; đó là lí do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung”
Do đó, người An Nam chỉ thích làm theo đường mòn, làm theo những gì người khác đã vạch ra, chứ không tự mình đặt ra con đường mới. Ông nhìn cách những người thợ tranh sơn mài và khảm xà cừ, và đi đến nhận xét rằng họ làm tỉ mỉ và khéo léo, nhưng đó chỉ là những thói quen, chớ không có sáng tạo. Ngay cả thiếu sót cũng trở thành một thói quen! Họ bắt chước sao cho gần như hoàn hảo. Ông kết luận “Sự thờ ơ, không có sáng kiến, không có tinh thần sáng chế, họ chưa bao giờ là người sáng tạo […] Họ có tài năng nhất định, nhưng không bao giờ là thiên tài”.
Trong sách, Giran cũng có những nhận xét tiêu cực về khoa học của người An Nam. Ông cho rằng người An Nam tin vào thuyết định mệnh, cộng thêm trí tưởng tượng ấu trĩ và nhận thức mơ hồ, nên họ không tạo ra được một nền khoa học đúng nghĩa. Những màn bói toán, thuật gọi hồn, y thuật phù thủy đối với ông là những ‘trò lừa đảo’ và ngụy tạo chứ không có gì gọi là khoa học cả.
Giran không có chút ấn tượng tốt nào dành cho nền giáo dục An Nam. Ông nhận xét rằng trình độ học vấn được đánh giá dựa trên số chữ và số câu châm ngôn thời xa xưa mà một cá nhân biết được, chớ không dựa vào kiến thức. Còn những kì thi thì chỉ xoay quanh những bài luận văn triết học, đạo đức, tôn giáo, mà trong đó thí sinh phải thể hiện sự uyên bác chớ không có khoa học bài bản và thực sự. Người An Nam đánh giá “trí nhớ là tất cả trí thông minh; khoa học chỉ là uyên bác, triết học chỉ là thể thức.”
Rất khó phán xét những nhận xét của ông ấy đúng hay sai, vì khái niệm đúng/sai trong khoa học xã hội rất khó xác định. Mỗi người có một cách nhìn tùy theo trình độ và trải nghiệm của cá nhân. Ngay cả bây giờ nhìn lại có lẽ chúng ta cũng đồng ý với Giran ở vài (thậm chí ‘nhiều’) nhận xét của ông. Ngay từ thời đó, Giran đã nhận xét rằng người An Nam rất mê cờ bạc mà ông xem là một trong những ‘dục vọng’, và điều này vẫn đúng cho ngày hôm nay. Những thái độ vô cảm, dã man, bầy đàn, .v.v thì vẫn còn đó hay tồn tại ở một dạng khác. Bất cứ ai đọc báo ngày nay cũng đều có thể lấy ra vài ví dụ để minh hoạ cho những nhận xét hơn 100 năm trước của Giran.
Nhận xét của Giran về làm theo đường mòn và trí lực kém của người Việt cũng không hẳn là sai. Chúng ta có thể lấy vài ca thiểu số xuất sắc để phản bác ông, nhưng sự thật là vài ca thiểu số không thể đại diện cho cộng đồng dân tộc. Người Việt Nam có thể sáng tạo, nhưng chỉ đi từ 1 đến 10, chớ không đi từ 0 đến 1. Nói cách khác, người Việt Nam (và ngay cả người Nhật cũng tự thú nhận rằng họ) không/chưa có những sáng tạo mang tính đột phá, mà chỉ là những sáng tạo mang tính cải tiến trên những gì người khác đã đột phá.
Có thể xem cuốn sách là một phiên bản “Người Việt Xấu Xí”, nhưng do một người ngoại quốc viết. Những ai hay quan tâm đến tình hình xã hội hiện nay sẽ dễ dàng đồng tình với một số nhận xét của tác giả. Nhưng những ai thuộc thành phần ‘elite’ hay tự cho mình là ‘elite’ thì sẽ rất khó chịu với những nhận xét không khoan nhượng của Giran. Dù đồng tình hay không đồng tình với tác giả, cuốn sách vẫn là một lời cảnh tỉnh cần thiết cho những người Việt đang tự ru ngủ mình là một dân tộc đỉnh cao, nhân ái, can đảm, thông minh, và sáng tạo.

View attachment 559713
Quyển này hay
 
Cái này thì hoàn toàn đồng ý =))
Tao làm với nhiều thằng, chúng nó 1 2 chỉ biết làm theo "các thầy" chứ đéo chịu tìm hiểu vì sao "các thầy" lại làm như thế =)) Cứ như "các thầy" phát minh ra vấn đề, phương pháp đó không bằng =)) Tao đưa tài liệu đến tận nơi, chỉ ra mày cần đọc cái này ở chỗ này mới hiểu được, nhưng rồi lại "em bận quá, thôi anh xử lý đi" =))
Làm khoa học mà sợ sai, sợ tìm hiểu căn bản, đã thế lại còn đéo dùng được bất kỳ ngoại ngữ nào, nhưng vẫn được đề bạt lên chức vụ quản lý =))
Thật ra, Giran viết rằng “Năng lực trừu tượng ở gần họ gần như hoàn toàn không có; đó là lí do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung”
 
Khi nào ai đó trả lời được câu hỏi vì sao thì ổn. T nghĩ tức là có đủ.
1. Nêu vấn đề, hiện tượng.
2. Có nguyên nhân, giải thích cho vấn đề, hiện tượng đó.
3. Sau đó có giải pháp. Cách thức lộ trình thay đổi nội dung mục 1.

Chỉ có người Việt mới tự nhận ra mà cứu mình. Đám Tây lông hay Tàu + nó đéo rảnh háng để thay đổi.
 
Riêng phần này thì mình nghĩ ông này chắc chưa bao giờ tìm dc người xem đúng. Chứ nếu gặp mình thì đảm bảo, ông sẽ phải thay đổi toàn bộ quan điểm này.

Thứ nữa, người An Nam thực chất ít người có nền tảng pháp luật và coi trọng pháp luật. Nó làm cho dân tộc này ít theo tư duy logic. Không biết trong sách ông có nói đến vấn đề này không.
Khi nào ai đó trả lời được câu hỏi vì sao thì ổn. T nghĩ tức là có đủ.
1. Nêu vấn đề, hiện tượng.
2. Có nguyên nhân, giải thích cho vấn đề, hiện tượng đó.
3. Sau đó có giải pháp. Cách thức lộ trình thay đổi nội dung mục 1.

Chỉ có người Việt mới tự nhận ra mà cứu mình. Đám Tây lông hay Tàu + nó đéo rảnh háng để thay đổi.
Cái này thì hoàn toàn đồng ý =))
Tao làm với nhiều thằng, chúng nó 1 2 chỉ biết làm theo "các thầy" chứ đéo chịu tìm hiểu vì sao "các thầy" lại làm như thế =)) Cứ như "các thầy" phát minh ra vấn đề, phương pháp đó không bằng =)) Tao đưa tài liệu đến tận nơi, chỉ ra mày cần đọc cái này ở chỗ này mới hiểu được, nhưng rồi lại "em bận quá, thôi anh xử lý đi" =))
Làm khoa học mà sợ sai, sợ tìm hiểu căn bản, đã thế lại còn đéo dùng được bất kỳ ngoại ngữ nào, nhưng vẫn được đề bạt lên chức vụ quản lý =))
Tau đéo niên quan tọc annam, tau tọc đông lào
 
Khi nào ai đó trả lời được câu hỏi vì sao thì ổn. T nghĩ tức là có đủ.
1. Nêu vấn đề, hiện tượng.
2. Có nguyên nhân, giải thích cho vấn đề, hiện tượng đó.
3. Sau đó có giải pháp. Cách thức lộ trình thay đổi nội dung mục 1.

Chỉ có người Việt mới tự nhận ra mà cứu mình. Đám Tây lông hay Tàu + nó đéo rảnh háng để thay đổi.

1. Cái này ai cũng biết.
2. Ai cũng biết thì k cần nêu nguyêm nhân làm gì.
3. Giải pháp là chỉ có tất cả đều phải nâng cao khả năng hiểu biết Luật pháp của mình. Áp dụng một cách ngặt nghèo từ thượng tầng đến hạ tầng. Ví dụ: đua xe, lái xe khi có nồng độ cồn => đi lao động công ích bất kể các thành phần nào.

- Cán bộ vi phạm: cách chức vào tù.
- Người dân vi phạm: vào tù, lao động công ích.

Không loại trừ bất kể thành phần nào.

Thủ tục hành chính phải nhanh chóng, gọn gàng. Cơ chế tăng lương, thu hút nhân tài, trao quyền lợi và trao luôn cả trách nhiệm, nói dc phải làm dc, k nói dc thì về vườn, cho củ cà rốt thì có thêm cây gậy vào.

Thay đổi giáo dục và y tế.

Khi 100% dân số hiểu biết, từng bước dần dần nới lỏng pháp luật.

Bệnh nặng cần thuốc nặng. K có lằng nhằng, k có nì nài, kỳ kèo thì mới chữa dc.
 
1. Cái này ai cũng biết.
2. Ai cũng biết thì k cần nêu nguyêm nhân làm gì.
3. Giải pháp là chỉ có tất cả đều phải nâng cao khả năng hiểu biết Luật pháp của mình. Áp dụng một cách ngặt nghèo từ thượng tầng đến hạ tầng. Ví dụ: đua xe, lái xe khi có nồng độ cồn => đi lao động công ích bất kể các thành phần nào.

- Cán bộ vi phạm: cách chức vào tù.
- Người dân vi phạm: vào tù, lao động công ích.

Không loại trừ bất kể thành phần nào.

Thủ tục hành chính phải nhanh chóng, gọn gàng. Cơ chế tăng lương, thu hút nhân tài, trao quyền lợi và trao luôn cả trách nhiệm, nói dc phải làm dc, k nói dc thì về vườn, cho củ cà rốt thì có thêm cây gậy vào.

Thay đổi giáo dục và y tế.

Khi 100% dân số hiểu biết, từng bước dần dần nới lỏng pháp luật.

Bệnh nặng cần thuốc nặng. K có lằng nhằng, k có nì nài, kỳ kèo thì mới chữa dc.
M cắn đá à
 
Đọc #1 của thằng thớt t thấy đúng vl,t không biết phải tất cả hay k nhưng xã hội vn vẫn đang tồn tại những điều đó dù ít hay nhiều
 
1. Cái này ai cũng biết.
2. Ai cũng biết thì k cần nêu nguyêm nhân làm gì.
3. Giải pháp là chỉ có tất cả đều phải nâng cao khả năng hiểu biết Luật pháp của mình. Áp dụng một cách ngặt nghèo từ thượng tầng đến hạ tầng. Ví dụ: đua xe, lái xe khi có nồng độ cồn => đi lao động công ích bất kể các thành phần nào.

- Cán bộ vi phạm: cách chức vào tù.
- Người dân vi phạm: vào tù, lao động công ích.

Không loại trừ bất kể thành phần nào.

Thủ tục hành chính phải nhanh chóng, gọn gàng. Cơ chế tăng lương, thu hút nhân tài, trao quyền lợi và trao luôn cả trách nhiệm, nói dc phải làm dc, k nói dc thì về vườn, cho củ cà rốt thì có thêm cây gậy vào.

Thay đổi giáo dục và y tế.

Khi 100% dân số hiểu biết, từng bước dần dần nới lỏng pháp luật.

Bệnh nặng cần thuốc nặng. K có lằng nhằng, k có nì nài, kỳ kèo thì mới chữa dc.
M lạc quan quá.
 
M cắn đá à
Cắn đá gì. Mấy sách như thế này nói về nguyên cớ, chứ k chỉ đích xác nguyên nhân vấn đề nằm ở đâu.

Nguyên cớ thì nhiều, giống như trong bài vậy. Có rất nhiều thứ, mà đọc rồi nghĩ, tìm giải pháp cho từng này thứ, k phải dễ đâu.

Nếu quản lý nhà nước mà chạy theo nguyên cớ thì k biết đến khi nào mới giải quyết dc hết toàn bộ vấn đề. Nên nguyên cớ thì nhiều, nhưng nguyên nhân chỉ có 1. Đó là hiểu biết và tôn trọng pháp luật.

Còn m bảo tao cắn đá. Ý là nói tao lạc quan tếu như thằng trên cmt đúng k. Nhưng k, đó là giải pháp, vấn đề còn lại, thì tự mỗi thằng nếu muốn đất nước văn minh thì phải tự nhìn nhận và làm theo. Một mình tao và cái giải pháp vô tri thì k làm gì dc. Vậy nên hôm nọ tao có nói, vận mệnh dân tộc Việt nằm trong chính người Việt là như vậy.
 
Riêng phần này thì mình nghĩ ông này chắc chưa bao giờ tìm dc người xem đúng. Chứ nếu gặp mình thì đảm bảo, ông sẽ phải thay đổi toàn bộ quan điểm này.

Thứ nữa, người An Nam thực chất ít người có nền tảng pháp luật và coi trọng pháp luật. Nó làm cho dân tộc này ít theo tư duy logic. Không biết trong sách ông có nói đến vấn đề này không.
"Nhận xét của Giran về làm theo đường mòn và trí lực kém của người Việt cũng không hẳn là sai. Chúng ta có thể lấy vài ca thiểu số xuất sắc để phản bác ông, nhưng sự thật là vài ca thiểu số không thể đại diện cho cộng đồng dân tộc."
 
Tao thấy mấy nhận xét của lão Paul Giran này không chỉ đúng với dân An Nam mà gần như là đang nói về gần hết các nước Châu Á lúc bấy giờ rồi. Thời điểm thế kỉ 19 thì nhìn xung quanh mấy thằng Trung, Hàn, Xiêm, Miến... có khác qué gì đâu. Mấy cái lão này nói mang áp sang cho bọn kia cũng có hết. Thế kỉ 19 may ra chỉ có Nhật là khá hơn chút.
Bọn Triều Tiên cùng thời lúc đó còn éo làm được cái khẩu súng ra hồn, chiến thuyền cũng không đóng được tàu hơi nước, phải lôi mấy con tàu rùa từ thời nhà Minh ra thủ dâm. Tính ra khoa học kĩ thuật còn thua Đại Nam thời Minh Mạng. Vậy mà bây giờ nó khắc phục được kha khá để đổi đời rồi. Bản tính dân tộc là thứ có thể sửa được, cái chính là phải có được thằng lãnh đạo đủ sắt đá để uốn được cả dân tộc như cách lão Park Chung Hee làm với Nam Hàn.
Lão Park này chính ra phải gọi là người Nhật gốc Hàn mới đúng. Tuy dòng máu là dân Hàn nhưng được nuôi dạy và suy nghĩ theo kiểu Nhật. Nhờ vậy nên lão mới có tư tưởng vượt trên đám dân đen mà ép đám dân Hàn vào khuôn khổ. Muốn thay đổi cả một dân tộc thì trước tiên thằng lãnh đạo phải đi trước và đủ sắt đá để dám làm.
 
ko liên quan đến thớt, nhưng ko biết có sách nào của bên pháp còn lưu giữ lại để dạy cách cai trị dân đông dương ko nhể. nếu còn thì mong được đọc qua để xem cách nó hành dân mk ntn, chứ sách trên của chủ thớt với sách tâm lý học an nam t đọc qua thì như là ý kiến chủ quan của tác giả thôi, nên t ko coi là nguồn chính
 
ko liên quan đến thớt, nhưng ko biết có sách nào của bên pháp còn lưu giữ lại để dạy cách cai trị dân đông dương ko nhể. nếu còn thì mong được đọc qua để xem cách nó hành dân mk ntn, chứ sách trên của chủ thớt với sách tâm lý học an nam t đọc qua thì như là ý kiến chủ quan của tác giả thôi, nên t ko coi là nguồn chính
Đọc bản án chế độ thực dân pháp đi
 

Có thể bạn quan tâm

Top