Tầm nhìn kinh tế của Tô Lâm, một năm nhìn lại

Don Jong Un

Địt xong chạy
Vatican-City
Trong một năm cầm quyền vừa qua, ông Tô Lâm, tổng bí thư đảng ******** Việt Nam (CSVN), được giới phân tích cho là người “thực dụng.” Ông ta biết đảng CSVN không thể duy trì độc quyền cai trị chỉ bằng đàn áp và tuyên truyền lừa mị mà phải bằng tăng trưởng kinh tế, cải thiện cuộc sống của người dân
Ông Tô Lâm, tổng bí thư đảng ******** Việt Nam. (Hình: Luong Thai Linh/Pool/AFP via Getty Images)
Nhưng vốn xuất thân từ công an, ông Tô Lâm chỉ thạo việc đàn áp mà mù tịt về điều hành kinh tế nên những chủ trương chính sách của ông chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng cơ cấu mà Việt Nam đang đối mặt.


Không biết dựa vào căn cứ nào, ông Tô Lâm đặt mục tiêu đầy tham vọng là kinh tế Việt Nam phải tăng trưởng 8% hoặc cao hơn trong năm 2025, tăng trưởng hai con số trong các năm sau, đạt trạng thái “thu nhập trung bình cao” (upper-middle-income status) vào năm 2030 và “nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thu nhập cao” vào năm 2045.

Ông coi giai đoạn 2024-2030 là “thời kỳ tăng tốc” có ý nghĩa quyết định, trong đó ông cho thực hiện cải tổ cơ cấu, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và tập trung vào cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp công nghệ cao.

Một quốc gia làm thuê

Với quy mô GDP $430 tỷ, kinh tế Việt Nam dựa chủ yếu vào xuất cảng hàng hóa và thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (foreign direct investment – FDI). Doanh nghiệp FDI nhập cảng nguyên liệu, phụ tùng từ nhiều nước, thuê nhân công giá rẻ của Việt Nam chế biến, lắp ráp rồi xuất cảng, chủ yếu sang thị trường Mỹ, Âu Châu, đóng góp hơn 70% giá trị xuất cảng của Việt Nam; từ quần áo giày dép đến điện thoại và máy vi tính.

Sản xuất công nghiệp của Việt Nam về căn bản chỉ là làm thuê làm mướn, ngoài sức lao động thì không đóng góp giá trị gia tăng nào đáng kể. Sắp tới, với đòn thuế quan trừng phạt của chính quyền Donald Trump nhắm vào hàng hóa “trung chuyển” (transhipping), trừng phạt hàng Trung Quốc núp bóng Việt Nam để né thuế khi bán vào Mỹ, bộ phận kinh tế này sẽ gay go.

Các doanh nghiệp nội địa chiếm lĩnh mảng dịch vụ (bất động sản, năng lượng, ngân hàng, hàng không, giao thông vận tải v.v.) do kinh tế nhà nước (quốc doanh) chiếm lĩnh và có một số doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân quy mô lớn giao dịch trên thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp quốc doanh được coi là “chủ đạo” của nền kinh tế, được hưởng vô số ưu đãi về đất đai, vốn liếng và chính sách nhưng thường xuyên thua lỗ mà tập đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) là ví dụ tiêu biểu.

Các tập đoàn tư nhân như Vingroup, Sungroup, FPT, Hòa Phát, các ngân hàng thương mại cổ phần v.v. thì có điểm chung là hầu hết đi lên từ đất đai, bất động sản và câu kết chặt chẽ với bộ máy cầm quyền các cấp, lũng đoạn chính sách quốc gia để trục lợi. Một thứ chủ nghĩa tư bản bè phái (cronyism) và hoang dã ngự trị.

Sự phất lên của các tập đoàn tư nhân kiểu này dẫn tới tình trạng dân oan mất đất tràn lan từ Nam ra Bắc, môi trường sống bị phá hủy trầm trọng và đạo đức xã hội bị đảo lộn vô phương cứu vãn. Muốn biết các tập đoàn tư bản bè phái đã lũng đoạn chính sách và chính quyền ở Việt Nam đến mức nào chỉ cần xem trường hợp của hãng xe VinFast, con đẻ của tập đoàn Vingroup: để cứu VinFast đang hấp hối, chính quyền của ông Tô Lâm vội vã cấm xe chạy xăng dầu đi vào các khu nội thành, buộc người dân phải chuyển sang xe hơi và xe gắn máy chạy điện dù chưa hề có biện pháp chuẩn bị đầy đủ và thời gian cần thiết cho việc chuyển đổi.

Bộ phận kinh tế tư nhân thật sự – những người tự đầu tư vốn liếng, tự kinh doanh, lời ăn lỗ chịu – chỉ là những gia đình làm nông nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ, buôn bán nhỏ. Đây là bộ phận tạo ra nhiều công việc làm nhất và đóng góp đáng kể vào kinh tế quốc gia. Giá trị xuất cảng các mặt hàng do nông dân làm ra trong năm 2024 có thể khiến các nhà kinh tế ngạc nhiên, nhưng quả thật nỗ lực của họ là vô cùng ấn tượng.

Theo Tổng Cục Thống Kê năm 2024, Việt Nam đã xuất cảng $10.1 tỷ thủy hải sản, $7.15 tỷ rau quả, $5.7 tỷ gạo, $5.6 tỷ cà phê, $4.4 tỷ hạt điều, $3.4 tỷ cao su, $1.3 tỷ hạt tiêu v.v. Tuy vậy, bộ phận kinh tế tư nhân này chẳng những không được nhà nước ưu đãi mà còn bị o ép nhiều bề và bị các thị trường nhập cảng liên tục kiện tụng, áp thuế…

Một chiến lược cải cách cơ cấu kinh tế phải đặt mục tiêu tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần, bẻ gãy mối quan hệ cộng sinh giữa nhà nước và các tập đoàn sân sau, khuyến khích những doanh nghiệp làm ra của cải thật sự thay vì câu kết với những tập đoàn chỉ trục lợi từ tài nguyên đất đai và thao túng chính sách của nhà nước.

Nghị Quyết 68: ưu đãi kinh tế tư nhân?

Ngày 4 Tháng Năm, ông Tô Lâm ký ban hành Nghị Quyết 68-NQ/TW của đảng CSVN về phát triển kinh tế tư nhân đến 20230 – được coi là bước đột phá của ông Lâm trong cải cách cơ cấu kinh tế. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, trong đó có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Ông Lâm dự tính đến năm 2030, bộ phận kinh tế tư nhân sẽ đóng góp 70% vào tổng sản lượng quốc gia (GDP), tăng gần gấp rưỡi so với mức 51% hiện nay.

Nghị quyết cam kết hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân, ban hành một bộ luật mới cho thành phần kinh tế này, lập một ủy ban do thủ tướng chủ trì để giám sát việc thực hiện nghị quyết, nới lỏng quy định về vay vốn, sở hữu đất đai và hạn chế việc thanh tra kiểm tra doanh nghiệp xuống dưới một lần mỗi năm. Nghị quyết còn cam kết ưu đãi vốn tín dụng cho các doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, thúc đẩy sáng tạo và mở rộng thị trường quốc tế.

Đáng chú ý là Nghị Quyết 68 hầu như chỉ tập trung “tháo gỡ” cho các doanh nghiệp tư nhân lớn, các tập đoàn “thân hữu” mà thiếu những chính sách hỗ trợ thiết thực cho bộ phận tư nhân thật sự. Ông Tô Lâm và giới lãnh đạo Việt Nam vẫn khao khát tạo ra những tập đoàn kinh tế hàng đầu quốc gia (national champions), kiểu những chaebol Nam Hàn như Samsung, Hyundai… vừa có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành, có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và đưa được Việt Nam vào các lĩnh vực công nghiệp cao như sản xuất chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI)…

Tham vọng này không mới, hơn 20 năm trước ông Nguyễn Tấn Dũng, cựu thủ tướng, đã lập ra những tập đoàn như vậy – mà ông gọi là các “quả đấm thép” – trong các ngành đóng tàu, khai thác khoáng sản, viễn thông, thậm chí cả trồng dâu nuôi tằm… Chỉ sau vài năm, các tập đoàn này nhanh chóng lộ rõ là “những quả đấm thép đấm nát mặt nhân dân” (!!!) và để lại những hậu quả khủng khiếp đến nay chưa khắc phục hết. Ông Tô Lâm rồi sẽ đi vào vết xe đổ của ông Nguyễn Tấn Dũng bởi vì một tập đoàn công nghiệp thật sự lớn, thật sự sáng tạo không thể ra đời và phát triển trong một thể chế độc tài, luật rừng, và nền kinh tế bè phái, không có sự cạnh tranh và minh bạch cần thiết.

Nhắm tới công nghệ cao?

Trước Nghị Quyết 68, ông Tô Lâm cũng đã ban hành Nghị Định 182/2024/NĐ-CP vào ngày cuối năm 2024 với mục đích góp phần chuyển nền kinh tế từ dựa vào sức động, sản phẩm giá trị thấp sang công nghệ cao, thúc đẩy nghiên cứu sáng tạo về khoa học, công nghệ và nâng cao phẩm chất nguồn nhân lực.

Nghị định thành phập Quỹ Hỗ Trợ Đầu Tư để cung cấp tài chính cho các công ty công nghệ cao, dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao, các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D)… Đáng chú ý là các trung tâm R&D về công nghệ bán dẫn, AI… có thể được chính quyền tài trợ đến 50% vốn đầu tư ban đầu.

Mỗi khi có dịp, ông Tô Lâm lại đăng đàn kêu gọi trí thức, nhà khoa học và doanh gia Việt Nam ở nước ngoài trở về đóng góp cho đất nước trong vận hội mới, đồng thời đề ra lộ trình đào tạo khoảng 50,000-100,000 kỹ sư bán dẫn trước năm 2030.

Nhưng liệu những tham vọng đẹp đẽ đó có thể thành hiện thực được không? Nhìn đội ngũ lãnh đạo chóp bu của Việt Nam bây giờ – chỉ toàn người cầm súng, không ai được đào tạo về công nghệ hay có hiểu biết về khoa học, công nghệ – thì người dân có quyền nghi ngờ những cam kết hào nhoáng kể trên chỉ là bánh vẽ, mị dân là chính.

Đường sắt tốc độ cao cho ai?

Sẽ thiếu sót nếu không nhắc tới những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của ông Tô Lâm nhằm khắc phục tình trạng thiếu điện và ách tắc giao thông triền miên. Chỉ trong năm qua, ông đã cho tái khởi động dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận và bắt đầu các dự án đường sắt.

Nhà máy điện nguyên tử đã được giao cho Nga – quốc gia không được thế giới tin cậy về công nghệ nguyên tử sau vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine thuộc Liên Xô hồi Tháng Tư, 1986. Lựa chọn Nga xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Việt Nam là vì tương lai năng lượng Việt Nam hay chỉ vì mối quan hệ gắn bó giữa hai quốc gia, hai nhà lãnh đạo độc tài có cùng đường lối cai trị?

Trong những ngày cuối đời của ông Nguyễn Phú Trọng, cố tổng bí thư, cả hai ông Tô Lâm và Vương Đình Huệ, cựu chủ tịch Quốc Hội vừa bị lột hết chức vụ, đều cấp tốc sang “chầu” Bắc Kinh, mong được ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc, “chấm” làm người kế nhiệm ông Trọng.

Khi đó, được biết ông Lâm đã cam kết với ông Tập sẽ đẩy nhanh việc xây dựng ba tuyến đường sắt kết nối cảng Hải Phòng với miền Nam Trung Quốc, tạo thuận lợi cho hàng hóa từ nội địa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam và ra Biển Đông để xuất cảng.

Ngay sau khi lên thay ông Trọng, ông Tô Lâm đã tích cực thúc đẩy các dự án đường sắt này; riêng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng (nối vào đường sắt đi Côn Minh, tỉnh Vân Nam) đã có vốn đầu tư 203,0000 tỷ đồng ($7.7 tỷ), dự kiến khởi công vào cuối năm nay.

Dự án đường sắt gây nhiều tranh cãi nhất là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn với số vốn ước tính lên $56 tỷ tới $110 tỷ. Có nhiều thông tin cho thấy công ty VinSpeed thuộc Vingroup sẽ được chọn làm nhà thầu xây dựng tuyến đường này, dù VinSpeed mới thành lập được hai tháng, chưa bao giờ xây dựng, điều hành đường sắt tốc độ cao và cũng không có đủ công nghệ và vốn liếng để thi công.

Chưa nói tới chuyện đường sắt tốc độ cao có cần thiết hay không, có nên phung phí tiền thuế của dân và tiền đi vay vào một công trình khổng lồ chỉ để “điểm tâm ở Hà Nội, ăn tối ở Sài Gòn” hay không, chỉ riêng chủ trương xây dựng tuyến đường này và giao cho một nhà thầu ấm ớ như vậy đã nói lên rất nhiều điều về chính sách của ông Tô Lâm. Không nói ra nhưng ai cũng thấy thấp thó đằng sau là bàn tay lông lá của Trung Quốc, chi phối từ vốn liếng, công nghệ, nhân sự tới chỗ đưa Việt Nam lún sâu vào bẫy nợ của Bắc Kinh.

Nguy cơ phía trước

Khổ cho ông Tô Lâm là tham vọng của ông về kinh tế Việt Nam lại vấp phải chính sách thuế quan (tariff) khắc nghiệt của ông Donald Trump, tổng thống Mỹ. Thông báo ngày 31 Tháng Bảy của Tòa Bạch Ốc kết luận, hàng Việt Nam xuất cảng vào Mỹ phải chịu thuế quan đối ứng 20%, còn hàng “trung chuyển” phải chịu thuế tới 40%.

Mô hình phát triển kinh tế Việt Nam dựa vào xuất cảng và vào FDI đứng trước nguy cơ phá sản. Ngoại trừ nông sản, thủy sản, bất cứ món hàng công nghiệp nào từ Việt Nam xuất sang cũng có rủi ro bị Cơ Quan Quan Thuế và Biên Phòng Mỹ (CBP) đánh giá là hàng Trung Quốc “núp bóng” và áp đặt mức thuế tối đa. Ông Tô Lâm đã đi những bước cố lấy lòng ông Trump mong được “nương tay” nhưng không kết quả không như mong đợi.

Chắc chắn kinh tế Việt Nam không thể tách rời khỏi kinh tế Trung Quốc sớm như đòi hỏi của Hoa Kỳ. Nhưng thay vì tìm cách thoát dần ra, củng cố nội lực và hòa nhập sâu hơn với thế giới văn minh, thì ông Tô Lâm lại đi con đường ngược lại. Một mặt, ông thúc đẩy kết nối đường sắt với Trung Quốc, một mặt ông đưa Việt Nam vào quỹ đạo của BRICS – nhóm quốc gia có mưu đồ thay thế vai trò thống trị của Hoa Kỳ trong kinh tế thế giới, gồm Brazil, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi, do Trung Quốc cầm trịch.

Việt Nam chọn tham gia BRICS đúng vào lúc Mỹ đe dọa sẽ trừng phạt thuế quan nếu các nước này đe dọa vị thế đồng đô la Mỹ. Ở đây sự tương đồng về chính trị đã lấn át tính toán kinh tế, cho thấy ưu tiên thực sự của ông Tô Lâm và đảng của ông là duy trì quyền lực hơn là cải cách thể chế hoặc cải cách cơ cấu kinh tế, nhắm tới một nước Việt hùng cường và thịnh vượng trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” như ông thường rêu rao
 

Có thể bạn quan tâm

Top