aidokhongphailatoi
Chịu khó la liếm

Hầm bí mật che giấu cán bộ ở Nam bộ trong thời kỳ kháng chiến - một kỳ công sáng tạo của chiến tranh nhân dân
Hầm bí mật, có thể hiểu là một loại hầm được đào ngầm sâu dưới đất, kích thước các chiều ít chênh lệch nhau, thường có nắp, có tác dụng phòng tránh che giấu lực lượng, cất giấu phương tiện vật chất…giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ nên nhân dân và lực lượng vũ trang thường dùng để bám trụ lâu dài và

Đến hầm nổi, hầm cá trê, hầm lu ở Tây Nam Bộ
Miền Tây Nam Bộ quanh năm có nước ngập, mưa nhiều, đào hầm bí mật luôn ngập nước, nên không thể nào thiết kế những địa đạo như ở miền Đông Nam bộ. Nhưng ở miền Tây vẫn có rất nhiều loại hầm bí mật và những căn hầm đó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh mệnh của hàng nghìn, hàng chục nghìn chiến sĩ, kể cả những cán bộ lãnh đạo cao cấp.
Do đó, đồng bào đã sáng tạo ra nhiều loại hầm bí mật khác nhau :
-Hầm nổi, tức là đấp đất lên cao thành liếp, coi như đất trồng cây. Trong liếp đó đặt những hầm kéo dài, gọi là hầm cá trê.
Khi xuống hầm, phải lặn xuống nước, cửa vào thường có bèo lục bình để quân đối phương đi qua không thầy dâu vết do nước đục gây ra. Sau khi lặn vào cửa, chui lên thì vào đến hầm.
-Hầm lu là loại hầm được làm bằng những chiếc lu đựng nước nhưng chế tạo đặc biệt, có lỗ thông hơi để chôn xuống đất. Như vậy, nước không thấm vào . Mỗi hầm lu có thể chưa được hai người sau khi đậy nắp. Ở hầm lu tuy không thấm nước nhưng vô cùng cơ cực vì rất ngạt thở. Ngồi trong đó quá lâu có thể bị ngất xỉu vì thiếu không khí. Do đó, phải có một loại thuốc đặc biệt để chống ngất xỉu, do Ban Kinh tài Trung ương Cục nhập qua đường Campuchia, cung cấp cho các chiến khu.
Hình thức ẩn náu của cán bộ chiến sĩ ở miền Tây Nam bộ quả thật là muôn hình vạn trạng. Không có hầm, không có lu thì làm nhà hai vách, tủ hai ngăn để nép mình trong đó. Nhiều cán bộ vượt qua nhiều tình huống hiểm nghèo chính là nhờ hình thức này.
Những ký ức khó quên
Đối với những cán bộ từng “bám dân, bám làng”, những ngày nằm hầm bí mật là ký ức khó quên. Không ít lần, nằm hầm bí mật vừa là cuộc đấu trí, đấu lực với kẻ thù, vừa là một trận chiến quyết liệt và căng thẳng với bản thân vì thiếu dưỡng khí để thở và đối mặt với nhiều khó khăn khác.
Bà Năm Việt, nguyên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Long kể lại : “Tôi là cán bộ cấp Tỉnh ủy thường được dành cho một chiếc hầm lu, lại là phụ nữ, tránh bị ướt hết quần áo. Thường những lúc chạy giặc thì có một đồng chí cần vụ đi theo tôi, vừa để bảo vệ, vừa để mang đồ đạc. Khi xuống hầm, hai chị em đều xuống, tôi là phụ nữ gầy yếu, nên tôi có thể chịu đựng được lâu hơn. Chú cần vụ ngồi trong hầm chỉ mấy tiếng sau là ngất xỉu. Tôi phải nhét thuốc vào miệng chú đó để cứu sống và chờ đợi đến lúc lên mặt đất.”[1]
Nguyên Bí thư Khu ủy Miền Tây Võ văn Kiệt kể lại : “Tôi cũng đã nhiều lần xuống hầm lu. Thật khủng khiếp. Vì tôi là nam giới, có sức khỏe, do thở nhiều nên càng khó chịu. Xuống hầm lu, người càng gầy, càng yếu, càng đỡ khó chịu. Người càng khỏe càng chóng ngất xỉu. Tôi xuống đó khi địch càn qua, nghe tiếng chân và tiếng súng biết là đã đi qua mà mãi không thấy bà chủ mở hầm. Tôi sắp ngất đến nơi, phải rút súng và lựu đạn sẳn sàng để mở nắp hầm vì không thể chịu đựng được nữa. Mở ra thì không thấy địch đâu, thấy bà chủ đang pha cà phê sữa cho tôi. Tôi mở tung nắp hầm ra kêu : “Trời ơi, chị Hai. Chị thương tôi bằng cách đó thì tôi chết luôn rồi.”[2]
Trên bước đường công tác, hơn ai hết những cán bộ lãnh đạo càng mang nặng ơn sâu nghĩa nặng của đồng bào.
Hơn nửa thế kỷ sau, ông Nguyễn Văn Chính (tên khai sinh là Cao Văn Chánh), thường được gọi thân mật là Chín Cần-nguyên Huyện ủy Cần Giuộc, Bí thư tỉnh Long An, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng vẫn nhớ như in những căn hầm bí mật đã từng che chở ông trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Đầu năm 1947, gia đình bà Lê Thị Bảy ở ấp 3 Tân Quí Tây đào hầm bí mật trong đìa để nuôi giấu cán bộ. Ông Chín Cần về xã công tác, bị giặc càn, tình thế cấp bách phải chui xuống hầm bí mật ngoài bờ ao.
Vì hầm cá trê chỉ chứa tối đa được 2 người nhưng do giặc càn quá bất ngờ, 3 đồng chí của ta cùng chui xuống một hầm. Căn hầm trở nên quá chật hẹp khi có đến 3 người trú ẩn. Thiếu không khí, người trong hầm bị ngộp nên thở rất mạnh. …”.
“Đó là lần tôi về tỉnh Chợ Lớn họp (Căn cứ Tỉnh ủy Chợ Lớn lúc bấy giờ đóng ở Vườn Thơm). Ấy là năm 1950, tôi 24 tuổi, là Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc. Khi băng qua chành lúa ở Tân Nhựt, tôi thấy lòng cồn lên nỗi thương nhớ mẹ vô kể. Mẹ tôi ở Tân Quí Tây, muốn thăm mẹ phải băng qua lộ Đông Dương (bây giờ là quốc lộ 1). Việc băng qua con lộ trong tình cảnh giặc đang đóng đồn bót dày đặc, càn quét liên miên ở khu vực này quả là điều nguy hiểm. Nhưng tôi không thể cưỡng lại nỗi nhớ mẹ… Vậy là tôi nói với anh Lưu Sĩ Biểu, lúc bấy giờ là Phó Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc: “Cho phép tôi về nhà thăm mẹ một chút. Chờ tôi ở quán Bảy Xứng”. Anh Biểu gật đầu. Chỉ đợi có thế, tôi chạy băng qua cánh đồng. Về đến nhà đã 7 giờ tối. Mẹ tôi như có linh tính báo trước, chạy ra đón tôi. Tôi gọi lớn: “Mẹ”. Nước mắt mẹ chảy tràn trên má….Mẹ móc hết tiền trong túi ra, nói vội vã: “Cầm lấy mấy đồng rồi đi lẹ lên con. Thấy con bình yên là mẹ mừng lắm rồi. Đừng có nấn ná, Tây ruồng tới liền đó”. Nghe lời mẹ, tôi vội vã chạy đi. Được một quãng, thấy mẹ vẫn còn nhìn theo… Lòng tôi thắt lại, càng nung nấu ý chí quét sạch bọn xâm lăng để được về phụng dưỡng bên mẹ…….
Tôi đến quán Bảy Xứng như đã hẹn. Đợi một lúc lâu vẫn không gặp được các đồng chí trong đoàn. Tôi thầm hiểu: Vậy là bọn Pháp vừa càn qua đây nên các đồng chí đã bọc đường đi hướng khác rồi. Tôi rời quán đi một khúc đường nữa, gặp các cô bác nông dân đang cuốc đất. Nhận ra tôi, cô bác rất mừng. Một ông già xăng xái nói: “Chú cứ ở lại, có hầm bí mật bảo vệ. Sáng hôm sau chú tìm cách liên lạc rồi đi…”. [3]
Gặp lại người xưa, ông Chín Cần xúc động nói: “Tấm lòng nhân dân, những căn hầm bí mật đã theo suốt cuộc đời tôi, nhắc nhở tôi khi có hòa bình, đừng bao giờ bội bạc, quên ơn những người đã cưu mang, che chở, nuôi nấng mình trong những tình thế hiểm nghèo nhất”. [4]
Ở Nam Bộ, người dân còn dũng cảm đào hầm ở trong vườn nhà phục vụ cho nơi làm việc của cơ quan đầu não của Đảng trong kháng chiến. Ông Nguyễn Minh Đào, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy An Giang kể về việc đào hầm ở xã Nhơn Hưng, nơi có những hầm bí mật hay “H” (theo cách gọi bí mật thời ấy) làm nơi làm việc của Văn phòng Huyện ủy Tịnh Biên, An Giang như sau :
“Văn phòng làm việc trong căn hầm bí mật dưới nền chuồng gà phía trước sân nhà về phía bên phải. Trước đó, tôi biết các cậu tôi đào hầm bí mật giữa đêm khuya, nhưng nơi nào và bao nhiêu hầm tôi không rõ, về sau mới biết ngoài căn hầm dưới nền chuồng gà, còn một hầm cá nhân trong buồng ngủ nhà Ngoại và một số hầm ngoài vườn. Một buổi tối, cậu Út nhỏ dẫn tôi xuống căn hầm dưới nền chuồng gà, căn hầm xây khá kiên cố bằng gạch vôi rộng hơn 1,5 mét vuông, kê một chiếc bàn nhỏ thấp vừa một người ngồi viết[5]…