Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng

Tôn Thất Thuyết - Đổng Trác của Việt Nam
1. Giết vua phế đế
Năm 1883 vua Tự Đức băng hà, hai phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường Thuyết hùa nhau khuấy rối việc nước, hết sức lộng quyền, không tội ác gì là không dám làm.
Trong ngày phế vua Dục Đức vì sợ các đại thần trong triều phản đối, Thuyết - Tường cho 300 cấm vệ binh dàn hàng trước triều thị oai, răn đe các đại thần nếu ai phản đối thì bắt chém ngay. Sau đó nhốt cụ Phan Đình Phùng vào ngục tối, ép vua Dục Đức thoái vị và bỏ đói cho vua chết trong lao tù.
Sau khi phế Dục Đức, bức Hiệp Hòa lên ngôi (trong ngày kiệu vua Hiệp Hòa vào triều vua Hiệp Hòa vừa đi vừa khóc vì biết số phận của mình trước sau cũng chẳng khác gì Dục Đức cả), Thuyết - Tường ra sức củng cố vây cánh, triệt hạ đối thủ. Đầu tiên là ép cụ Phan Đình Phùng từ quan về quê, sau đó là chém chết Đại thần Trần Tiến Thành khiến ai ai cũng khiếp đảm không giám ho he lên tiếng. Từ đó mọi việc triều chính đều do Thuyết - Tường điều khiển hết, không coi vua ra gì, vua Hiệp Hòa không khác gì con bù nhìn, không quyền hành, không tiếng nói, hai quyền thần bảo thế nào thì vua Hiệp Hoà phải nghe như thế. Vua chỉ có việc "gật đầu” mà thôi.
Chán nản với cảnh tượng lên ngôi mà không có thực quyền, vua Hiệp Hòa sau đó có ý muốn thoát khỏi sự khống chế của nhóm Thuyết – Tường bằng cách dựa vào các hoàng thân khác. Nhưng việc bị bại lộ, Thuyết và Tường ra tay trước. Ngay trong đêm 28/11/1883, Thuyết dâng sớ xin phế vua Hiệp Hòa, lập hoàng tử Ưng Đăng (con nuôi thứ 3 của Tự Đức) lên ngôi. Ông cho phong tỏa Hoàng thành, đóng kín các cửa, thu hết chìa khóa, sai Ông Ích Khiêm và Trương Văn Để dẫn lính vào điện Càn Thành, bắt Hiệp Hòa tự tử, bằng cách đổ thuốc đầu vào miệng vua, rồi lấy khúc gỗ đập vào cổ họng vua cho đến chết.
Khi vua mới – Kiến Phúc lên ngôi vào tháng 12/1883, Thuyết và Tường cho rằng vua còn nhỏ sẽ dễ thao túng nên càng tìm cách khống chế triều đình. Thậm chí khi mối quan hệ bất chính của Nguyễn Văn Tường với bà Học phi, người dạy học của vua Kiến Phúc bị chính nhà vua phát giác, ông Tường đã cùng ông Thuyết lập mưu hạ độc nhà vua. Kiến Phúc ở ngôi chưa đầy 1 năm.
Dân gian có truyền lại bài vè Thất thủ kinh đô, trong đó có chi tiết Kiến Phúc bị hai vị đại thần Thuyết - Tường sát hại:
“… Quan Quận nghe quở chột lòng
Thế rồi tâm niệm bất trung âm thầm
Hằng ngày đã có tiềm tâm,
Lòng người hiểm ác âm thầm ai hay
Đức vua án giá ngày nay
Họ nghi Quan Quận có rày liên quan
Người mà có dạ gian ngoan
Ngấm ngầm bán nước, ngấm ngầm hại dân…”.
Rõ ràng, chúng ta không thấy bóng dáng của ông vua Nguyễn “thân Pháp” đáng bị Tôn Thất Thuyết phế bỏ. Ông Thuyết đang tỏ rõ sự lộng quyền của bậc đại thần trong triều thì đúng hơn. Quan điểm chính thống thời trung đại luôn củng cố một vấn đề, chuyện thần tử dám phế lập, thoán đoạt vương vị là chuyện của kẻ bất trung, bất nghĩa, của kẻ “loạn thần tặc tử”. Thế mà Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã làm, ghê gớm tới mức dám bức tử cả nhà vua.
Các nhà nghiên cứu sử sau này lại bao biện cho Tôn Thất Thuyết bằng cách ngụy tạo cho ông “công lao” phế bỏ “các ông vua thân Pháp”, những ông vua ở ngôi chóng vánh chỉ vẻn vẹn ba ngày, bị phế vì đã không làm vừa lòng hai ông đại thần đầy mưu mô, hoặc đã cố giết kẻ đang thoán đoạt triều đình của mình hoặc như Kiến Phúc, có thể đã chết vì 1 lý do lãng xẹt: phác giác cuộc tình vụng trộm của Nguyễn Văn Tường với bà Học phi.
Hẳn nhiên, sẽ có người nói rằng, Tôn Thất Thuyết đang “lựa chọn” vị vua xứng đáng để chống Pháp. Điều đó có thể đúng nhưng nếu nó không đúng như mọi người thường nghĩ thì sao, thì ông Thuyết xứng đáng là tội đồ của nhà Nguyễn còn gì.
2. Tôn Thất Thuyết - Nguyễn Văn Tường kháng Pháp vì ai?
Vấn đề thứ hai liên quan đến Tôn Thất Thuyết: sự biến kinh thành Huế (tháng 7/1885) cùng việc “xuất bôn” của vua Hàm Nghi sau đó. Sự kiện này được giới nghiên cứu phóng đại thái quá khi cố mô tả thái độ dễ dàng chấp nhận chuyến đi từ phía Hàm Nghi, ông vua sẵn sàng đi theo Tôn Thất Thuyết mà không nhắc đến phản ứng nào. Trên thực tế Hàm Nghi được Thuyết đưa đẩy lên ngôi khi còn khá nhỏ (13 tuổi), chắc chắc chưa có đủ trí lực hay dũng khí chống lại người Pháp đang chiếm đóng ngay sát kinh đô Huế. Thuyết lại đẩy nhà vua vào thế sự đã rồi, khi lấy danh nghĩa nhà vua để mộ binh chống Pháp, dùng tiền quốc khố xây thành lũy, mua lương thực, vũ khí… và sau khi tạo ra biến cố kinh thành Huế lại ép nhà vua rút chạy lên vùng núi Quảng Trị. Tư liệu đương thời cho thấy chính ông Thuyết đã rút gươm đe dọa nhà vua và bắt quân lính đưa vua lên kiệu chạy khỏi kinh đô.
Vua Hàm Nghi chỉ biết hỏi 1 câu: “Ta có đánh nhau với ai đâu mà phải chạy” (*). Câu nói của nhà vua khiến ta liên tưởng đến tình thế bị động của ông không giống với các mô tả về sự chủ động rút chạy mà không phản ứng gì của Hàm Nghi từ phía giới nghiên cứu. Tình thế của Hàm Nghi giống như đang bị Tôn Thất Thuyết giữ làm con tin, mặc cho triều đình đã đưa Đồng Khánh lên ngôi và muốn dụ hàng vua Hàm Nghi, tiêu diệt lực lượng của Thuyết. Thậm chí ông Thuyết giữ vua Hàm Nghi rất chặt, không để ai tiếp cận, ai khuyên hàng đều bàn chém. Có thể suy đoán, Thuyết dùng vua Hàm Nghi làm con cờ tư tưởng để thu hút các nhóm sĩ phu, quan lại bất mãn với Pháp, đồng thời dùng vua như một con tin để đảm bảo an toàn cho bản thân, để không mang tiếng bất nghĩa, bất trung vì ép vua xa giá.
Nhà Nguyễn trong thời kì còn chống Pháp xâm lấn Bắc Kì, đã bị kết tội là “rước giặc về nhà” khi tìm cách cầu viện triều đình Đại Thanh giúp đỡ can thiệp chống lại sự bành trướng của Pháp.
Vậy còn Tôn Thất Thuyết thì sao? Tôn Thất Thuyết, người “anh hùng” trong mắt nhiều người cũng cố gắng vượt biên giới để sang đất Trung Quốc nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ, mà chắc chắn là từ nhà Thanh. Ông sang Trung Quốc từ năm 1886, bỏ lại vua Hàm Nghi với nhóm tùy tùng trung thành khiến nhà vua bị tay chân của Pháp bắt giữ 2 năm sau đó. Ông Thuyết sang đất Trung Quốc và nỗ lực của ông tan biến vì không có sự giúp đỡ nào. Ông hóa điên và chết ở Long Châu, miền Nam Trung Quốc mà không thể trở về quê hương.
Hành động cầu viện Thanh đánh Pháp của Tôn Thất Thuyết chẳng khác nào đuổi beo cửa trước, rước hùm cửa sau.
Như vậy ta thấy được Tôn Thất Thuyết đánh Pháp chẳng phải vì lòng tận trung với vua theo tư tưởng hủ nho Phong Kiến, phế giết ba vua trong vòng 4 tháng, bức tử Đại thần thì sao gọi là tận trung được.
Nói ông kháng Pháp vì nước vì dân cũng chẳng hợp lý. Nếu vậy sao ông phải né tránh tướng de Courcy ở Toà Khâm sứ?. Vào thời vua Tự Đức ông chẳng xin tấu cầm quân đánh trận, mà chỉ lo củng cố chức vụ, chỗ đứng trong triều chính. Ông chẳng liên kết với cụ Phan Đình Phùng khởi binh đánh Pháp. Mà phải đến khi Pháp đe dọa tới lợi ích của ông thì ông mới vội vàng ra lệnh nổ súng chống lại? Ép vua rút chạy ra chiếu Cần Vương rồi bỏ mặc vua sang Tàu cầu viện quân Thanh một hành động được coi là đuổi giặc cửa trước, rước giặc cửa sau.
Nguồn:
1. https://dantri.com.vn/xa-hoi/xot-long-lang-mot-vi-vua-trieu-nguyen-1315686305.htm
2. Diên lộc Quận công Nguyễn Thân, NXB Nhật Lệ 2002.
3. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam
4. Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (quyển 5, tập Trung, tự xuất bản, 1963.)
5. Tôn Thất Bình (Kể chuyện chín chúa, mười ba vua triều Nguyễn, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 1996.)
6. Chapuis.
7. Ch. Gosselin. L'Empire d' Annam. Paris, Pierin et Cie, 1904.
(*)Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mạng cận sử. Sài Gòn. Khai Trí phát hành, 1963, tr. 38.