Ignatz
Địt Bùng Đạo Tổ
Một nhà sinh đặng ba vua,
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài.
Sau cái chết của Tự Đức, nhiều người, đặc biệt là sĩ phu, háo hức trông ngóng sự tái cơ cấu ở thượng tầng về một vị "minh quân" để ứng phó với tình huống nguy cấp của đất nước. Nhưng sự trông ngóng minh quân trong một thể chế đã chấm dứt vai trò lịch sử của mình là một ảo tưởng đáng thương.
Từ năm 1883 đến 1885, Tôn Thất Thuyết, một người gần như nắm binh quyền tuyệt đối với thiện chí cứu nước của mình, đã lần lượt đưa lên ngôi rồi lật đổ 3 vị vua. Đến vua thứ 4 chỉ còn là con rối trong tay ông ta. Nhưng thực chất từ sau cái chết của Tự Đức, người đứng đầu tập đoàn quân chủ ấy chẳng phải vua mà là bà Từ Dụ (Từ Dũ), người tới nay vẫn được ca tụng là yêu nước thương dân. Vậy người "yêu nước thương dân" ấy đã làm gì?
Ban đầu Từ Dụ cũng bật đèn xanh cho việc phế lập của Tôn Thất Thuyết và tới khi Thuyết phát động phong trào Cần Vương ở Quảng Trị bà ta cũng kéo cả hoàng thất theo. Nhưng vốn là kẻ đã quá lão luyện về chính trị, bà ta nhận ra khoảng trống quyền lực nguy hiểm ở kinh thành, một khoảng trống không chỉ đe dọa đến vị thế của bà ta mà còn cả sự tồn vong của dòng Minh Mạng. Bà ta viện cớ đường xa mệt mỏi để quay về kinh thành và ngay lập tức dựng lên một ông vua chịu quy phục Pháp là Đồng Khánh, đồng thời lên án phong trào Cần Vương là "quân phỉ" và làm mất đi tính chính danh (dù chỉ là biểu tượng) của vua Hàm Nghi khiến phong trào này từ một phong trào yêu nước thành phong trào của những kẻ phản loạn. Ngay cả Tôn Thất Thuyết cũng bị loại trừ bằng cách gạch khỏi sổ tôn nhân và bị đổi theo họ mẹ là Lê Thuyết và cuối cùng lưu vong bên Trung Quốc tới chết. Nên không phải khi không mà Phan Bội Châu quyết đoạn tuyệt với nhà Nguyễn của Minh Mạng và công kích "bà Thái hậu họ Phạm" là "đã ngu lại tham" và "hôn bà" trong "Việt Nam vong quốc sử".
Tuy vậy Tôn Thất Thuyết cũng đã phạm phải 2 sai lầm rất lớn:
(1) Sự thay đổi biểu tượng của chế độ quân chủ (vua) quá đột ngột sẽ làm đứt gãy những ý nghĩa chính trị chằng chịt xoay quanh biểu tượng đó và chỉ làm sự chia rẽ thượng tầng thêm trầm trọng;
(2) Một vị thế quyền lực luôn phải gắn liền với một biểu trưng văn hóa nào đó (danh tiếng dòng họ, vị trí địa lý, huấn quyền, điềm lạ, sấm truyền...). Một khi đã tự cắt đứt với biểu trưng văn hóa đó thì ngay lập tức tính chính danh sẽ biến mất và dễ bị thay thế bởi kẻ nắm được biểu trưng văn hóa đó. Ở đây Thuyết đã bỏ mất 2 biểu trưng văn hóa là "kinh thành" và "hoàng thất".


Đều là người được đời sau xưng tụng "yêu nước", nhưng người yêu nước Từ Dụ và người yêu nước Tôn Thất Thuyết là biểu hiện rõ nhất của sự thóa hiệp và phản bội trong chính trị.
Nhưng cho dù có cố gắng và khôn khéo tới đâu thì khách quan mà nói Tôn Thất Thuyết cũng không thể cứu vãn một chế độ sắp bị ném vào thùng rác lịch sử. Phong trào Cần Vương dù với những mục tiêu cứu nước đáng trân trọng đã làm suy kiệt những nguồn lực cuối cùng của chế độ quân chủ và buộc sĩ phu về sau phải lựa chọn đi tìm một hướng đi khác.
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài.
Sau cái chết của Tự Đức, nhiều người, đặc biệt là sĩ phu, háo hức trông ngóng sự tái cơ cấu ở thượng tầng về một vị "minh quân" để ứng phó với tình huống nguy cấp của đất nước. Nhưng sự trông ngóng minh quân trong một thể chế đã chấm dứt vai trò lịch sử của mình là một ảo tưởng đáng thương.
Từ năm 1883 đến 1885, Tôn Thất Thuyết, một người gần như nắm binh quyền tuyệt đối với thiện chí cứu nước của mình, đã lần lượt đưa lên ngôi rồi lật đổ 3 vị vua. Đến vua thứ 4 chỉ còn là con rối trong tay ông ta. Nhưng thực chất từ sau cái chết của Tự Đức, người đứng đầu tập đoàn quân chủ ấy chẳng phải vua mà là bà Từ Dụ (Từ Dũ), người tới nay vẫn được ca tụng là yêu nước thương dân. Vậy người "yêu nước thương dân" ấy đã làm gì?
Ban đầu Từ Dụ cũng bật đèn xanh cho việc phế lập của Tôn Thất Thuyết và tới khi Thuyết phát động phong trào Cần Vương ở Quảng Trị bà ta cũng kéo cả hoàng thất theo. Nhưng vốn là kẻ đã quá lão luyện về chính trị, bà ta nhận ra khoảng trống quyền lực nguy hiểm ở kinh thành, một khoảng trống không chỉ đe dọa đến vị thế của bà ta mà còn cả sự tồn vong của dòng Minh Mạng. Bà ta viện cớ đường xa mệt mỏi để quay về kinh thành và ngay lập tức dựng lên một ông vua chịu quy phục Pháp là Đồng Khánh, đồng thời lên án phong trào Cần Vương là "quân phỉ" và làm mất đi tính chính danh (dù chỉ là biểu tượng) của vua Hàm Nghi khiến phong trào này từ một phong trào yêu nước thành phong trào của những kẻ phản loạn. Ngay cả Tôn Thất Thuyết cũng bị loại trừ bằng cách gạch khỏi sổ tôn nhân và bị đổi theo họ mẹ là Lê Thuyết và cuối cùng lưu vong bên Trung Quốc tới chết. Nên không phải khi không mà Phan Bội Châu quyết đoạn tuyệt với nhà Nguyễn của Minh Mạng và công kích "bà Thái hậu họ Phạm" là "đã ngu lại tham" và "hôn bà" trong "Việt Nam vong quốc sử".
Tuy vậy Tôn Thất Thuyết cũng đã phạm phải 2 sai lầm rất lớn:
(1) Sự thay đổi biểu tượng của chế độ quân chủ (vua) quá đột ngột sẽ làm đứt gãy những ý nghĩa chính trị chằng chịt xoay quanh biểu tượng đó và chỉ làm sự chia rẽ thượng tầng thêm trầm trọng;
(2) Một vị thế quyền lực luôn phải gắn liền với một biểu trưng văn hóa nào đó (danh tiếng dòng họ, vị trí địa lý, huấn quyền, điềm lạ, sấm truyền...). Một khi đã tự cắt đứt với biểu trưng văn hóa đó thì ngay lập tức tính chính danh sẽ biến mất và dễ bị thay thế bởi kẻ nắm được biểu trưng văn hóa đó. Ở đây Thuyết đã bỏ mất 2 biểu trưng văn hóa là "kinh thành" và "hoàng thất".


Đều là người được đời sau xưng tụng "yêu nước", nhưng người yêu nước Từ Dụ và người yêu nước Tôn Thất Thuyết là biểu hiện rõ nhất của sự thóa hiệp và phản bội trong chính trị.
Nhưng cho dù có cố gắng và khôn khéo tới đâu thì khách quan mà nói Tôn Thất Thuyết cũng không thể cứu vãn một chế độ sắp bị ném vào thùng rác lịch sử. Phong trào Cần Vương dù với những mục tiêu cứu nước đáng trân trọng đã làm suy kiệt những nguồn lực cuối cùng của chế độ quân chủ và buộc sĩ phu về sau phải lựa chọn đi tìm một hướng đi khác.