“THẦN QUYỀN” NGHĨA HÒA ĐOÀN - Part 1
Sử gia đại lục luôn mô tả Nghĩa Hòa đoàn như một tổ chức cách mạng tượng trưng chính nghĩa, có công bảo quốc an dân, nhưng thực ra đây lại là một bang hội của bọn hạ đẳng ngu muội mê tín và tàn ác.
Trong bộ “Trung quốc thông sử”[1], người chủ biên Bạch Thọ Di không ngớt lời ca tụng Nghĩa Hòa đoàn: “Đó là thế lực chính nghĩa đại diện nhân dân chống lại âm mưu nô dịch dân tộc Trung Hoa của đế quốc phương Tây và giáo hội Thiên Chúa. Phong trào này được quần chúng hết lòng ủng hộ tham gia, nhằm trợ giúp Thanh triều đánh đuổi ngoại bang”.
Nói láo là sở trường và sở thích của sử gia ********, nhưng mùi cá muối dẫu tanh mấy cũng không thể đánh bạt tử khí của thây ma[2], ta hãy thử tìm hiểu sự thật về Nghĩa Hòa đoàn.
NGUỒN GỐC
Nghĩa Hòa đoàn thường tự xưng “Thần quyền môn”, là một biến dạng từ Bát Quái giáo, mà Bát Quái giáo lại là một chi nhánh kỳ quặc của Bạch Liên giáo.
Ở Trung Hoa, nếu bảo Thiếu Lâm là cội nguồn võ học thì còn có kẻ hoài nghi, nhưng nếu nói Bạch Liên giáo là căn nguyên các bang hội giang hồ thì ai cũng phải thừa nhận. Đó là một giáo phái thần bí, thoạt đầu chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tịnh Độ tông, hình thành ở Giang Tây vào giữa thế kỷ XII đời Tống. Môn đồ Bạch Liên tuân thủ lời Phật dạy: không sát sinh, không cờ bạc rượu chè, ăn chay trường, nhưng lại được phép cưới vợ lấy chồng. Đây là dị biệt không thể chấp nhận đối với giới điều của Phật giáo Trung Hoa nên Bạch Liên bị xem là tà giáo. “Tà giáo” này tuy vậy lại phù hợp với dân tình và thủy thổ Giang Tây nên ngày càng phát triển, tạo ảnh hưởng sâu rộng suốt một giải Trường giang.
Và khi vó ngựa Mông Cổ tràn sang thì chính bọn bàng môn tả đạo hiền lành thường ngày chỉ biết ăn chay niệm Phật, không nỡ giết con sâu cái kiến này lại là những trang nghĩa dũng hăng hái tuốt kiếm giương cung sẵn sàng xông ra đền nợ nước. Không đánh tan được giặc mạnh thì ha ha kệ mẹ, cũng cứ lăn thân vào vó ngựa, dẫu chỉ để làm chậm vài nhịp bước của quân thù thì hy sinh cũng đáng. Thế của Bạch Liên từ giờ trở thành không đội trời chung với giặc Mông, nghĩa khí lòa mây đó được người người ngưỡng vọng.
Kịp khi Mông Cổ diệt xong nước của Tống để lập triều Nguyên thì Bạch Liên cũng đã hấp thụ thêm tư tưởng Di Lặc giáo[3] và kết nối với thế lực Minh giáo[4], trở thành mối đe dọa trực tiếp đến tồn vong của vương triều mới dựng.
Suốt một thế kỷ thống trị Trung Hoa, chẳng năm nào quân Nguyên được yên ổn với Bạch Liên giáo. Dù bị triều đình trấn áp liên tục nhưng Bạch Liên vẫn không ngừng phát triển. Sau này, vì nhiều lý do, Bạch Liên phải hóa thân thành nhiều bang phái khác nhau[5], Bát Quái giáo là một trong số ấy.
Bát Quái giáo do một nhân vật từng tham gia Bạch Liên là Lưu Tá Thần sáng lập vào niên hiệu Khang Hy (1662) đời Thanh. Từ Sơn Đông, Bát Quái dần mở rộng địa bàn sang các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Sơn Nam...
Tôn chỉ xiển dương là hợp nhất Nho-Thích-Đạo, nhưng giáo lý lại lấy Đạo thư làm căn bản, Bát Quái đề cao tu luyện nội đan trường sinh. Lý tưởng thực sự của Tá Thần chỉ là kiếm chác thủ lợi, y tự xưng giáo chủ và bố trí thân nhân nắm giữ các chức sắc quan trọng. Dòng họ này không từ thủ đoạn nào để lừa dối dụ dỗ dân ngu. Chúng thuyết giảng rằng nếu ai xuất tiền cho giáo phái càng nhiều thì phúc trạch người đó sẽ càng dồi dào. Từ lý thuyết ba đía đó, Bát Quái chế ra các loại tiền cõi trên để đổi lấy bạc thật của cõi thế. Nào “Căn Cơ tiền” (tiền dùng để vun đắp phẩm hạnh), “Trát Căn tiền” (tiền để kết duyên lành cho kiếp sau), “Chủng Phúc tiền” (tiền gieo trồng phước đức), “Hiếu Kính tiền” (tiền để dâng ông sơ bà cố)… Những tờ giấy lộn sau khi đóng ấn vẽ phù đã thành ra ngân phiếu để dành xài khi qua thế giới bên kia, mỗi tờ tiền cõi trên này, bọn nhà họ Lưu bắt người ta phải mua bằng hàng trăm lạng bạc thật[6].
Lưu Tá Thần ban đầu bắt chước Bạch Liên giáo tự xưng mình là Di Lặc giáng sinh, sau đổi thành Khổng tử chuyển thế. Việc đổi nickname này mặc nhiên khiến ngôi vị giáo chủ trở thành thế tập gia truyền, nó chẳng những củng cố uy tín mà còn bảo đảm cho quyền lợi kinh tế dòng họ Lưu không phải rơi rớt, san xẻ ra ngoài.
Bát Quái giáo lộng hành nhưng vì họ chỉ chuyên tâm đong xèng, không màng chính trị, nên tạm thời được triều đình để yên, đặng rảnh tay đối phó bọn phản động thực sự. Chừng Càn Long đại định xong xã tắc quay lại tính sổ Bát Quái thì mới lòi ra sản nghiệp của gia tộc thần thánh này đã lên đến hàng mấy chục vạn kim ngân, ruộng đất điền trang phủ khắp các tỉnh thuộc địa bàn chiếm cứ. Toàn bộ cơ nghiệp đó liền bị tịch thu sung công quỹ.
Bị động chạm quyền lợi kinh tế, Lưu gia mới bớt dụ quần chúng cầu phước kiếp sau, chuyển sang hô hào khởi nghĩa giành độc lập-tự do-hạnh phúc ở ngay nhãn tiền. Thanh triều chỉ chờ nhiêu đó: bạo động lập tức bị bẻ gãy bởi bạo lực, kết quả là Bát Quái gia truyền 5 đời tu hành chánh quả bị tru lục toàn môn chẳng còn lại quái nào.
Bát Quái bị diệt, nhưng những trò buôn thần bán thánh bịp bợm do chúng bày ra vẫn còn lưu trú trong tâm thức u mê của đám đông nông dân ngu muội. Và Nghĩa Hòa đoàn xuất hiện đã thừa kế di sản tinh thần này của Bát Quái.
TỔ CHỨC ĐÂM BANG
Sau Chiến tranh Giáp Ngọ[7], các giáo sĩ ngoại quốc được phép tự do đi lại ra vào Trung Hoa. Họ nhanh chóng tỏa ra để truyền bá văn minh và giảng đạo, tín đồ Thiên Chúa ngày càng đông đảo[8], nhà thờ mọc lên khắp nơi. Giang hồ nổi giận vì bị ngoại quốc cạnh tranh, thêm vào đó là mối căm hận bị Mãn Thanh áp bức lâu đời không nơi phát tiết nay được chỗ trút. Hình dung cổ quái tóc đỏ da trắng mắt xanh cao lớn khác thường của các giáo sĩ Tây phương bị vu cho là yêu quái. Làn sóng bài ngoại tăng cao trong số đông quần chúng dị đoan thất học. Thậm chí thiên tai hạn hán mưa dầm quái gì cũng được đổ thừa cho dị giáo Cơ Đốc gây ra. Các bang hội lớn như Đại Đao hội, Hồng Quyền hội[9] bắt đầu nêu lên khẩu hiệu “Nã Dương giáo, bảo giang san” (lùng bắt đạo Tây, bảo vệ đất nước) để mở rộng thanh thế.
Đại Đao hội còn gọi Nhân Nghĩa hội, là tàn dư của Bát Quái giáo. Hội này chia phép tu luyện thành hai đường lối là Ly môn và Khảm môn (từ 8 quẻ rút gọn thành 2 quẻ). Ly môn chuyên thắp nhang niệm chú để biến thân huyết nhục thành kim cang hộ thể đao thương bất nhập, đây là lối tu văn. Khảm môn thì dọn mình đón vong các hung thần võ thánh nhập vô để trổ thần oai vặn rồng xé cọp, đây là tu võ. Đại Đao lấy nông dân thất học làm chủ lực, lại thu nạp thêm các tầng lớp dưới đáy xã hội như bọn trí thức nửa mùa, ma cô thành thị. Member Đại Đao hội phân bố ở 4 tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, An Huy, Giang Tô.
Thời thế đó đã tạo nên một anh hùng đâm bang là Châu Hồng Đăng (?-1899). Đăng tên thật là Châu Phùng Minh, quê ở huyện Tứ Thủy (Sơn Đông). Năm 1898, Đăng vì chạy lụt nên phải sang huyện Trường Thanh (nay là huyện Tề Hà, tỉnh Sơn Đông) ở nhờ cậu ruột, được cậu truyền cho nghề bốc thuốc[10]. Chính ở đây, Đăng đã gia nhập Ly môn của Đại Đao hội. Để lập công, Đăng hiến kế là nên bổ sung thuốc thánh vào bùa chú để tăng cường niềm tin cho bá tánh. Nhờ vậy, kỹ năng bốc thuốc mà Đăng mới học được có dịp thi thố, khiến y nhanh chóng leo lên hàng ngũ đầu mục rồi tiến tới thành thủ lĩnh. Nắm được quyền rồi, Châu Hồng Đăng liền tuyên bố ly khai, đổi chi nhánh Đại Đao huyện Trường Thanh thành tổ chức mới: Nghĩa Hòa đoàn.
Không hiểu do thù vơ oán chạ hay bởi bản năng của kẻ man rợ là phải thù ghét văn minh, thủ lĩnh Nghĩa Hòa đoàn chẳng thể nào chịu đựng nổi những công trình, thành quả tiến bộ khoa học và cơ giới. Đăng đề ra cương lĩnh cho Nghĩa Hòa đoàn: trước hết là phải phá hoại trụ điện, dây thép và đường rầy xe lửa, kế đó là giết sạch bọn ngoại quốc, rồi cuối cùng mới lật đổ triều đình Mãn Thanh.
Để luận công hành thưởng cho các chiến công khủng bố, Đăng đặt ra lệ “Thập mao tử”: Giáo sĩ ngoại quốc đứng đầu bảng, là Đại mao tử; bọn giáo dân ở hàng thứ hai, là Nhị mao tử; bọn biết tiếng, làm thông dịch cho nước ngoài là Tam mao tử; người làm ăn buôn bán với ngoại quốc là Tứ mao tử…; cứ vậy mà tính, thậm chí những ai xài hàng hiệu, đeo kính Tây, cầm dù Tây, cả mang vớ Tây cũng được xếp vào bảng phân loại này. Giết được “Đại mao tử” là quân công hạng nhất, giết Nhị mao tử thì kém hơn 5 phân, xuống dần tới “Thập mao tử” tuy có thua bầu kém bạn nhưng thảy đều có thưởng[11].
Ý trời khéo xếp đặt thế nào mà lúc đó lại xuất hiện một nhân vật bổ túc thêm cơ duyên vào mệnh số nhà Thanh, đó là Tuần phủ Sơn Đông: Dục Hiền[12]. Viên võ quan Mãn Thanh này có ngoại hiệu “Đồ hộ” (trùm giết mổ). Y là đứa khát máu, ghét cay ghét đắng bọn điêu dân nổi loạn. Lẽ ra, với thủ đoạn tàn độc của Dục Hiền thì Nghĩa Hòa đoàn đã lãnh đủ một trường oanh liệt máu chảy thành sông, lên phường nhận chứng nhận liệt sĩ tổ quốc ghi công, nhẹ ra thì đầu một nơi thân một nẻo, còn nặng thì xẻo từng miếng thịt nho nhỏ từ từ cho tới khi chỉ còn khung xương trắng. Nhưng nhè bấy giờ lại chính lúc thế lực và uy tín của Thiên Chúa giáo cứ ngày một khuếch trương như gai đâm vào mắt, mà triều đình lại không thể ra mặt thanh trừng bọn tà ma ngoại đạo kia. Cho nên hành vi khủng bố Tây Dương của Nghĩa Hòa đoàn lại thành ra hợp ý Tuần phủ. Tay đồ tể đã tìm thấy con dao chọc tiết của mình, và Nghĩa Hòa đoàn đã nhận được sự ám trợ của triều đình như vậy đó.
Tháng 7-1899, Dục Hiền tự tay đề chữ “Dục” lên các lá cờ của Thần quyền Nghĩa Hòa đoàn, để chứng nhận sự bảo kê của mình.
Mùa hè năm đó, Nghĩa Hòa đoàn công khai tấn công nhà thờ giữa ban ngày, thẳng tay giết người phóng hỏa. Liệt cường gửi công hàm phản đối, Dục Hiền cười khẩy làm ngơ.
Tháng 10, Nghĩa Hòa đoàn chính thức đổi slogan thành ra là “Thiên hạ Nghĩa Hòa đoàn hưng Thanh diệt Dương”.
Ngày 11 tháng 12, Nghĩa Hòa đoàn tấn công huyện Vũ Thành, thiêu rụi 17 nhà thờ Thiên Chúa giáo, tàn sát giáo dân, cướp sạch của cải. Công sứ các nước cùng gửi kháng nghị cảnh cáo, Thanh triều phải điều Viên Thế Khải làm Tuần phủ Sơn Đông thay thế Dục Hiền.
Ngày 24 tháng 12, đêm Thánh vô cùng, trước khi rời nhiệm sở, Dục Hiền hạ lệnh cho quân binh phải giết sạch tụi cầm đầu Nghĩa Hòa đoàn, thu hồi các lá cờ có đề chữ Dục. Tiếp đó, tân Tuần phủ Viên đại nhân đến kế nhiệm lại đại khai sát giới, quét dọn bọn còn lại. Nghĩa Hòa đoàn lãnh cú đá giò lái này thiệt là quá hớp, những đứa sống sót phải ôm đầu máu chạy qua các tỉnh lân cận (Trực Lệ, Thiểm Tây, Sơn Tây) để lánh họa sát thân.
Bắt tay cam kết hữu nghị với triều đình để rồi cả bang hội thảm tử hầu hết, bọn tàn dư Thần quyền ngu muội này sau đó vẫn chưa chịu sáng cặp hột nhãn. Nhưng đó là chuyện ở thớt sau, tôi mệt trong mình rồi, lêu lêu!
_______
[1] Trung quốc thông sử: bộ thông sử đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Hội Sử học Trung quốc bảo trợ. Công trình được cho là tâm huyết của các chuyên gia thượng thặng hợp sức biên soạn trong suốt 10 năm, hoàn thành vào 1999. Trung quốc Thông sử gồm 12 quyển, nội dung đa dạng, bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, địa lý, điển chương, kỹ thuật… Bộ sử này thể hiện đúng đắn quan điểm của cộng về mấy ngàn năm lịch sử Hoa Hạ.
[2] Tần Thủy hoàng tế cáo Hạ Vũ ở Cối Kê và chết lúc đang giữa đường quay về kinh. Bọn Triệu Cao, Lý Tư giấu kín tin này, cho chở theo trên xa giá một thạch (khoảng gần 60kg) cá muối để người khác không nghe thấy mùi xác ươn của Doanh Chính.
[3] Di Lặc giáo: giáo phái lấy tư tưởng kinh “Tạp A Hàm” (Saṃyuttanikāya) làm triết thuyết căn bản. Người sáng lập là Hấp Huyền Phong, còn gọi Phó đại sĩ (497-569), nhân vật tề danh Bồ Đề Đạt Ma và Bảo Chí thiền sư, thành bộ “Tam đại sĩ” của Nam Bắc triều. Các chưởng môn đời sau của Di Lặc giáo thường tự xưng Di Lặc xuất thế, liên tục dấy binh phản kháng triều đình. Cuối đời Nguyên, Di Lặc giáo lại hợp nhất với Minh giáo, thanh thế càng mạnh.
[4] Minh giáo, còn gọi Ma Ni giáo hay Mâu Ni giáo. Một giáo phái Phật giáo được thành lập ở Ba Tư (Iran) từ giữa thế kỷ III. Sau đó, triết thuyết thiện ác nhị nguyên luận của Minh giáo tiếp thu tư tưởng phủ nhận Cựu ước của nhà thần học Marcion. Minh giáo cho rằng thế gian luôn tồn tại hai thế lực đối lập là quang minh và hắc ám, mà họ là đại diện chân chính duy nhất của thế lực quang minh, có bổn phận phải tiêu diệt hắc ám (tức những kẻ không theo mình). Minh giáo truyền sang Trung Hoa từ cuối đời Hán, nhưng chỉ náu mình ở các phiên trấn, đến cuối đời Đường thì thanh thế lớn dần, bắt đầu xâm nhập Trung nguyên và trở thành thế lực ngầm ủng hộ Võ Tắc Thiên xưng đế. Lý Long Cơ (Đường Minh hoàng) lên ngôi bèn thẳng tay tru diệt khiến Minh giáo phải dạt ra các tỉnh duyên hải. Đời Nguyên, Mông Cổ dành cho Minh giáo nhiều ưu đãi với hy vọng có thể dùng họ để tiêu diệt Bạch Liên giáo. Minh giáo khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa triều đình Nguyên và Bạch Liên để hoằng dương môn phái, sau đó lại trở thành thế lực ngầm ủng hộ Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh. Chương sau đó lại thành phản đồ tiêu diệt Minh giáo.
[5] Hình tượng đóa sen trắng do thành tích kháng Nguyên đã trở thành tượng trưng cho đạo nghĩa giang hồ, nên cũng không ít giáo phái khác mượn danh nghĩa xây dựng cơ đồ. Điều này khiến Bạch Liên được xem như khởi thủy của hầu hết các tổ chức bang hội.
[6] Lợi nhuận quá cha Việt cộng thu được khi đổi tiền.
[7] Chiến tranh Giáp Ngọ: còn gọi Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, hay nói theo kiểu Nhật thì là Chiến tranh Nhật-Thanh, là cuộc chiến giữa Mãn Thanh với Nhật Bản, nổ ra ở bán đảo Triều Tiên từ 8/1894 đến tháng 4/1895, với chiến thắng thuộc về nước Nhật đã canh tân. Kết quả là Thanh phải ký Điều ước Mã Quan (Hiệp ước Shimonoseki), chịu mất quyền lợi và ảnh hưởng ở bán đảo Triều Tiên, cắt nhượng cho Nhật Bản bán đảo Liêu Đông, quần đảo Bành Hồ, Đài Loan… Đã vậy còn phải bồi thường chiến phí, mở toang các hải cảng cho thương thuyền ngoại quốc ra vào, đồng thời phải dành cho Nhật đãi ngộ của tối huệ quốc.
[8] Theo thống kê năm 1900, ở Trung Hoa đã có hơn 500.000 giáo dân.
[9] Hồng Quyền hội: bang hội được thành lập cuối đời Thanh, bởi các đệ tử Nam phái Thiếu Lâm, thịnh truyền ở vùng Lưỡng Quảng, Tứ Xuyên.
[10] Từ chi tiết này, các sử gia Trung cộng nâng level cho Châu Hồng Đăng biến hình thành một Nho sĩ sinh bất phùng thời. Thực tế Đăng là kẻ mù chữ, năng lực vào hạng lang vườn, chỉ biết bốc thuốc suông chứ không thể bắt mạch ra toa.
[
11] Vốn từ 1858, nhân cơ hội Mãn Thanh vừa đại bại sau cuộc Chiến tranh Nha phiến lần II, Đế quốc Nga lấn chiếm khu vực Amur, lấy đi hơn một triệu cây số vuông lãnh thổ Đông Bắc của Trung Hoa. Mối thâm thù đại hận này khắc sâu vào tâm can bọn Tàu mãi mãi không phai, chẳng tình đồng chí vô sản nào hóa giải nổi. Dân Tàu gọi bọn Nga có tóc-lông-râu đều hung hung đỏ là Hồng Mao quỷ, gọi tắt “Mao quỷ” hoặc “Mao tử”. Từ đó, căn cứ theo huyết thống mà chia làm bốn thứ hạng: Lão mao tử là người có 100% dòng máu Nga; Nhị mao tử là con lai Nga-Tàu; Tam mao tử và Tứ mao tử là đã lai Nga đến đời thứ 3, 4. Nghĩa Hòa đoàn mở rộng khái niệm “Mao tử” này để áp dụng vào mọi chủng Tây Dương, lại truy cứu dây mơ rễ má xuống dài thoòng loòng thành bảng điểm “Thập mao tử”.
Sử gia đại lục luôn mô tả Nghĩa Hòa đoàn như một tổ chức cách mạng tượng trưng chính nghĩa, có công bảo quốc an dân, nhưng thực ra đây lại là một bang hội của bọn hạ đẳng ngu muội mê tín và tàn ác.
Trong bộ “Trung quốc thông sử”[1], người chủ biên Bạch Thọ Di không ngớt lời ca tụng Nghĩa Hòa đoàn: “Đó là thế lực chính nghĩa đại diện nhân dân chống lại âm mưu nô dịch dân tộc Trung Hoa của đế quốc phương Tây và giáo hội Thiên Chúa. Phong trào này được quần chúng hết lòng ủng hộ tham gia, nhằm trợ giúp Thanh triều đánh đuổi ngoại bang”.
Nói láo là sở trường và sở thích của sử gia ********, nhưng mùi cá muối dẫu tanh mấy cũng không thể đánh bạt tử khí của thây ma[2], ta hãy thử tìm hiểu sự thật về Nghĩa Hòa đoàn.
NGUỒN GỐC
Nghĩa Hòa đoàn thường tự xưng “Thần quyền môn”, là một biến dạng từ Bát Quái giáo, mà Bát Quái giáo lại là một chi nhánh kỳ quặc của Bạch Liên giáo.
Ở Trung Hoa, nếu bảo Thiếu Lâm là cội nguồn võ học thì còn có kẻ hoài nghi, nhưng nếu nói Bạch Liên giáo là căn nguyên các bang hội giang hồ thì ai cũng phải thừa nhận. Đó là một giáo phái thần bí, thoạt đầu chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tịnh Độ tông, hình thành ở Giang Tây vào giữa thế kỷ XII đời Tống. Môn đồ Bạch Liên tuân thủ lời Phật dạy: không sát sinh, không cờ bạc rượu chè, ăn chay trường, nhưng lại được phép cưới vợ lấy chồng. Đây là dị biệt không thể chấp nhận đối với giới điều của Phật giáo Trung Hoa nên Bạch Liên bị xem là tà giáo. “Tà giáo” này tuy vậy lại phù hợp với dân tình và thủy thổ Giang Tây nên ngày càng phát triển, tạo ảnh hưởng sâu rộng suốt một giải Trường giang.
Và khi vó ngựa Mông Cổ tràn sang thì chính bọn bàng môn tả đạo hiền lành thường ngày chỉ biết ăn chay niệm Phật, không nỡ giết con sâu cái kiến này lại là những trang nghĩa dũng hăng hái tuốt kiếm giương cung sẵn sàng xông ra đền nợ nước. Không đánh tan được giặc mạnh thì ha ha kệ mẹ, cũng cứ lăn thân vào vó ngựa, dẫu chỉ để làm chậm vài nhịp bước của quân thù thì hy sinh cũng đáng. Thế của Bạch Liên từ giờ trở thành không đội trời chung với giặc Mông, nghĩa khí lòa mây đó được người người ngưỡng vọng.
Kịp khi Mông Cổ diệt xong nước của Tống để lập triều Nguyên thì Bạch Liên cũng đã hấp thụ thêm tư tưởng Di Lặc giáo[3] và kết nối với thế lực Minh giáo[4], trở thành mối đe dọa trực tiếp đến tồn vong của vương triều mới dựng.
Suốt một thế kỷ thống trị Trung Hoa, chẳng năm nào quân Nguyên được yên ổn với Bạch Liên giáo. Dù bị triều đình trấn áp liên tục nhưng Bạch Liên vẫn không ngừng phát triển. Sau này, vì nhiều lý do, Bạch Liên phải hóa thân thành nhiều bang phái khác nhau[5], Bát Quái giáo là một trong số ấy.
Bát Quái giáo do một nhân vật từng tham gia Bạch Liên là Lưu Tá Thần sáng lập vào niên hiệu Khang Hy (1662) đời Thanh. Từ Sơn Đông, Bát Quái dần mở rộng địa bàn sang các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Sơn Nam...
Tôn chỉ xiển dương là hợp nhất Nho-Thích-Đạo, nhưng giáo lý lại lấy Đạo thư làm căn bản, Bát Quái đề cao tu luyện nội đan trường sinh. Lý tưởng thực sự của Tá Thần chỉ là kiếm chác thủ lợi, y tự xưng giáo chủ và bố trí thân nhân nắm giữ các chức sắc quan trọng. Dòng họ này không từ thủ đoạn nào để lừa dối dụ dỗ dân ngu. Chúng thuyết giảng rằng nếu ai xuất tiền cho giáo phái càng nhiều thì phúc trạch người đó sẽ càng dồi dào. Từ lý thuyết ba đía đó, Bát Quái chế ra các loại tiền cõi trên để đổi lấy bạc thật của cõi thế. Nào “Căn Cơ tiền” (tiền dùng để vun đắp phẩm hạnh), “Trát Căn tiền” (tiền để kết duyên lành cho kiếp sau), “Chủng Phúc tiền” (tiền gieo trồng phước đức), “Hiếu Kính tiền” (tiền để dâng ông sơ bà cố)… Những tờ giấy lộn sau khi đóng ấn vẽ phù đã thành ra ngân phiếu để dành xài khi qua thế giới bên kia, mỗi tờ tiền cõi trên này, bọn nhà họ Lưu bắt người ta phải mua bằng hàng trăm lạng bạc thật[6].
Lưu Tá Thần ban đầu bắt chước Bạch Liên giáo tự xưng mình là Di Lặc giáng sinh, sau đổi thành Khổng tử chuyển thế. Việc đổi nickname này mặc nhiên khiến ngôi vị giáo chủ trở thành thế tập gia truyền, nó chẳng những củng cố uy tín mà còn bảo đảm cho quyền lợi kinh tế dòng họ Lưu không phải rơi rớt, san xẻ ra ngoài.
Bát Quái giáo lộng hành nhưng vì họ chỉ chuyên tâm đong xèng, không màng chính trị, nên tạm thời được triều đình để yên, đặng rảnh tay đối phó bọn phản động thực sự. Chừng Càn Long đại định xong xã tắc quay lại tính sổ Bát Quái thì mới lòi ra sản nghiệp của gia tộc thần thánh này đã lên đến hàng mấy chục vạn kim ngân, ruộng đất điền trang phủ khắp các tỉnh thuộc địa bàn chiếm cứ. Toàn bộ cơ nghiệp đó liền bị tịch thu sung công quỹ.
Bị động chạm quyền lợi kinh tế, Lưu gia mới bớt dụ quần chúng cầu phước kiếp sau, chuyển sang hô hào khởi nghĩa giành độc lập-tự do-hạnh phúc ở ngay nhãn tiền. Thanh triều chỉ chờ nhiêu đó: bạo động lập tức bị bẻ gãy bởi bạo lực, kết quả là Bát Quái gia truyền 5 đời tu hành chánh quả bị tru lục toàn môn chẳng còn lại quái nào.
Bát Quái bị diệt, nhưng những trò buôn thần bán thánh bịp bợm do chúng bày ra vẫn còn lưu trú trong tâm thức u mê của đám đông nông dân ngu muội. Và Nghĩa Hòa đoàn xuất hiện đã thừa kế di sản tinh thần này của Bát Quái.
TỔ CHỨC ĐÂM BANG
Sau Chiến tranh Giáp Ngọ[7], các giáo sĩ ngoại quốc được phép tự do đi lại ra vào Trung Hoa. Họ nhanh chóng tỏa ra để truyền bá văn minh và giảng đạo, tín đồ Thiên Chúa ngày càng đông đảo[8], nhà thờ mọc lên khắp nơi. Giang hồ nổi giận vì bị ngoại quốc cạnh tranh, thêm vào đó là mối căm hận bị Mãn Thanh áp bức lâu đời không nơi phát tiết nay được chỗ trút. Hình dung cổ quái tóc đỏ da trắng mắt xanh cao lớn khác thường của các giáo sĩ Tây phương bị vu cho là yêu quái. Làn sóng bài ngoại tăng cao trong số đông quần chúng dị đoan thất học. Thậm chí thiên tai hạn hán mưa dầm quái gì cũng được đổ thừa cho dị giáo Cơ Đốc gây ra. Các bang hội lớn như Đại Đao hội, Hồng Quyền hội[9] bắt đầu nêu lên khẩu hiệu “Nã Dương giáo, bảo giang san” (lùng bắt đạo Tây, bảo vệ đất nước) để mở rộng thanh thế.
Đại Đao hội còn gọi Nhân Nghĩa hội, là tàn dư của Bát Quái giáo. Hội này chia phép tu luyện thành hai đường lối là Ly môn và Khảm môn (từ 8 quẻ rút gọn thành 2 quẻ). Ly môn chuyên thắp nhang niệm chú để biến thân huyết nhục thành kim cang hộ thể đao thương bất nhập, đây là lối tu văn. Khảm môn thì dọn mình đón vong các hung thần võ thánh nhập vô để trổ thần oai vặn rồng xé cọp, đây là tu võ. Đại Đao lấy nông dân thất học làm chủ lực, lại thu nạp thêm các tầng lớp dưới đáy xã hội như bọn trí thức nửa mùa, ma cô thành thị. Member Đại Đao hội phân bố ở 4 tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, An Huy, Giang Tô.
Thời thế đó đã tạo nên một anh hùng đâm bang là Châu Hồng Đăng (?-1899). Đăng tên thật là Châu Phùng Minh, quê ở huyện Tứ Thủy (Sơn Đông). Năm 1898, Đăng vì chạy lụt nên phải sang huyện Trường Thanh (nay là huyện Tề Hà, tỉnh Sơn Đông) ở nhờ cậu ruột, được cậu truyền cho nghề bốc thuốc[10]. Chính ở đây, Đăng đã gia nhập Ly môn của Đại Đao hội. Để lập công, Đăng hiến kế là nên bổ sung thuốc thánh vào bùa chú để tăng cường niềm tin cho bá tánh. Nhờ vậy, kỹ năng bốc thuốc mà Đăng mới học được có dịp thi thố, khiến y nhanh chóng leo lên hàng ngũ đầu mục rồi tiến tới thành thủ lĩnh. Nắm được quyền rồi, Châu Hồng Đăng liền tuyên bố ly khai, đổi chi nhánh Đại Đao huyện Trường Thanh thành tổ chức mới: Nghĩa Hòa đoàn.
Không hiểu do thù vơ oán chạ hay bởi bản năng của kẻ man rợ là phải thù ghét văn minh, thủ lĩnh Nghĩa Hòa đoàn chẳng thể nào chịu đựng nổi những công trình, thành quả tiến bộ khoa học và cơ giới. Đăng đề ra cương lĩnh cho Nghĩa Hòa đoàn: trước hết là phải phá hoại trụ điện, dây thép và đường rầy xe lửa, kế đó là giết sạch bọn ngoại quốc, rồi cuối cùng mới lật đổ triều đình Mãn Thanh.
Để luận công hành thưởng cho các chiến công khủng bố, Đăng đặt ra lệ “Thập mao tử”: Giáo sĩ ngoại quốc đứng đầu bảng, là Đại mao tử; bọn giáo dân ở hàng thứ hai, là Nhị mao tử; bọn biết tiếng, làm thông dịch cho nước ngoài là Tam mao tử; người làm ăn buôn bán với ngoại quốc là Tứ mao tử…; cứ vậy mà tính, thậm chí những ai xài hàng hiệu, đeo kính Tây, cầm dù Tây, cả mang vớ Tây cũng được xếp vào bảng phân loại này. Giết được “Đại mao tử” là quân công hạng nhất, giết Nhị mao tử thì kém hơn 5 phân, xuống dần tới “Thập mao tử” tuy có thua bầu kém bạn nhưng thảy đều có thưởng[11].
Ý trời khéo xếp đặt thế nào mà lúc đó lại xuất hiện một nhân vật bổ túc thêm cơ duyên vào mệnh số nhà Thanh, đó là Tuần phủ Sơn Đông: Dục Hiền[12]. Viên võ quan Mãn Thanh này có ngoại hiệu “Đồ hộ” (trùm giết mổ). Y là đứa khát máu, ghét cay ghét đắng bọn điêu dân nổi loạn. Lẽ ra, với thủ đoạn tàn độc của Dục Hiền thì Nghĩa Hòa đoàn đã lãnh đủ một trường oanh liệt máu chảy thành sông, lên phường nhận chứng nhận liệt sĩ tổ quốc ghi công, nhẹ ra thì đầu một nơi thân một nẻo, còn nặng thì xẻo từng miếng thịt nho nhỏ từ từ cho tới khi chỉ còn khung xương trắng. Nhưng nhè bấy giờ lại chính lúc thế lực và uy tín của Thiên Chúa giáo cứ ngày một khuếch trương như gai đâm vào mắt, mà triều đình lại không thể ra mặt thanh trừng bọn tà ma ngoại đạo kia. Cho nên hành vi khủng bố Tây Dương của Nghĩa Hòa đoàn lại thành ra hợp ý Tuần phủ. Tay đồ tể đã tìm thấy con dao chọc tiết của mình, và Nghĩa Hòa đoàn đã nhận được sự ám trợ của triều đình như vậy đó.
Tháng 7-1899, Dục Hiền tự tay đề chữ “Dục” lên các lá cờ của Thần quyền Nghĩa Hòa đoàn, để chứng nhận sự bảo kê của mình.
Mùa hè năm đó, Nghĩa Hòa đoàn công khai tấn công nhà thờ giữa ban ngày, thẳng tay giết người phóng hỏa. Liệt cường gửi công hàm phản đối, Dục Hiền cười khẩy làm ngơ.
Tháng 10, Nghĩa Hòa đoàn chính thức đổi slogan thành ra là “Thiên hạ Nghĩa Hòa đoàn hưng Thanh diệt Dương”.
Ngày 11 tháng 12, Nghĩa Hòa đoàn tấn công huyện Vũ Thành, thiêu rụi 17 nhà thờ Thiên Chúa giáo, tàn sát giáo dân, cướp sạch của cải. Công sứ các nước cùng gửi kháng nghị cảnh cáo, Thanh triều phải điều Viên Thế Khải làm Tuần phủ Sơn Đông thay thế Dục Hiền.
Ngày 24 tháng 12, đêm Thánh vô cùng, trước khi rời nhiệm sở, Dục Hiền hạ lệnh cho quân binh phải giết sạch tụi cầm đầu Nghĩa Hòa đoàn, thu hồi các lá cờ có đề chữ Dục. Tiếp đó, tân Tuần phủ Viên đại nhân đến kế nhiệm lại đại khai sát giới, quét dọn bọn còn lại. Nghĩa Hòa đoàn lãnh cú đá giò lái này thiệt là quá hớp, những đứa sống sót phải ôm đầu máu chạy qua các tỉnh lân cận (Trực Lệ, Thiểm Tây, Sơn Tây) để lánh họa sát thân.
Bắt tay cam kết hữu nghị với triều đình để rồi cả bang hội thảm tử hầu hết, bọn tàn dư Thần quyền ngu muội này sau đó vẫn chưa chịu sáng cặp hột nhãn. Nhưng đó là chuyện ở thớt sau, tôi mệt trong mình rồi, lêu lêu!
_______
[1] Trung quốc thông sử: bộ thông sử đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Hội Sử học Trung quốc bảo trợ. Công trình được cho là tâm huyết của các chuyên gia thượng thặng hợp sức biên soạn trong suốt 10 năm, hoàn thành vào 1999. Trung quốc Thông sử gồm 12 quyển, nội dung đa dạng, bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, địa lý, điển chương, kỹ thuật… Bộ sử này thể hiện đúng đắn quan điểm của cộng về mấy ngàn năm lịch sử Hoa Hạ.
[2] Tần Thủy hoàng tế cáo Hạ Vũ ở Cối Kê và chết lúc đang giữa đường quay về kinh. Bọn Triệu Cao, Lý Tư giấu kín tin này, cho chở theo trên xa giá một thạch (khoảng gần 60kg) cá muối để người khác không nghe thấy mùi xác ươn của Doanh Chính.
[3] Di Lặc giáo: giáo phái lấy tư tưởng kinh “Tạp A Hàm” (Saṃyuttanikāya) làm triết thuyết căn bản. Người sáng lập là Hấp Huyền Phong, còn gọi Phó đại sĩ (497-569), nhân vật tề danh Bồ Đề Đạt Ma và Bảo Chí thiền sư, thành bộ “Tam đại sĩ” của Nam Bắc triều. Các chưởng môn đời sau của Di Lặc giáo thường tự xưng Di Lặc xuất thế, liên tục dấy binh phản kháng triều đình. Cuối đời Nguyên, Di Lặc giáo lại hợp nhất với Minh giáo, thanh thế càng mạnh.
[4] Minh giáo, còn gọi Ma Ni giáo hay Mâu Ni giáo. Một giáo phái Phật giáo được thành lập ở Ba Tư (Iran) từ giữa thế kỷ III. Sau đó, triết thuyết thiện ác nhị nguyên luận của Minh giáo tiếp thu tư tưởng phủ nhận Cựu ước của nhà thần học Marcion. Minh giáo cho rằng thế gian luôn tồn tại hai thế lực đối lập là quang minh và hắc ám, mà họ là đại diện chân chính duy nhất của thế lực quang minh, có bổn phận phải tiêu diệt hắc ám (tức những kẻ không theo mình). Minh giáo truyền sang Trung Hoa từ cuối đời Hán, nhưng chỉ náu mình ở các phiên trấn, đến cuối đời Đường thì thanh thế lớn dần, bắt đầu xâm nhập Trung nguyên và trở thành thế lực ngầm ủng hộ Võ Tắc Thiên xưng đế. Lý Long Cơ (Đường Minh hoàng) lên ngôi bèn thẳng tay tru diệt khiến Minh giáo phải dạt ra các tỉnh duyên hải. Đời Nguyên, Mông Cổ dành cho Minh giáo nhiều ưu đãi với hy vọng có thể dùng họ để tiêu diệt Bạch Liên giáo. Minh giáo khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa triều đình Nguyên và Bạch Liên để hoằng dương môn phái, sau đó lại trở thành thế lực ngầm ủng hộ Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh. Chương sau đó lại thành phản đồ tiêu diệt Minh giáo.
[5] Hình tượng đóa sen trắng do thành tích kháng Nguyên đã trở thành tượng trưng cho đạo nghĩa giang hồ, nên cũng không ít giáo phái khác mượn danh nghĩa xây dựng cơ đồ. Điều này khiến Bạch Liên được xem như khởi thủy của hầu hết các tổ chức bang hội.
[6] Lợi nhuận quá cha Việt cộng thu được khi đổi tiền.
[7] Chiến tranh Giáp Ngọ: còn gọi Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, hay nói theo kiểu Nhật thì là Chiến tranh Nhật-Thanh, là cuộc chiến giữa Mãn Thanh với Nhật Bản, nổ ra ở bán đảo Triều Tiên từ 8/1894 đến tháng 4/1895, với chiến thắng thuộc về nước Nhật đã canh tân. Kết quả là Thanh phải ký Điều ước Mã Quan (Hiệp ước Shimonoseki), chịu mất quyền lợi và ảnh hưởng ở bán đảo Triều Tiên, cắt nhượng cho Nhật Bản bán đảo Liêu Đông, quần đảo Bành Hồ, Đài Loan… Đã vậy còn phải bồi thường chiến phí, mở toang các hải cảng cho thương thuyền ngoại quốc ra vào, đồng thời phải dành cho Nhật đãi ngộ của tối huệ quốc.
[8] Theo thống kê năm 1900, ở Trung Hoa đã có hơn 500.000 giáo dân.
[9] Hồng Quyền hội: bang hội được thành lập cuối đời Thanh, bởi các đệ tử Nam phái Thiếu Lâm, thịnh truyền ở vùng Lưỡng Quảng, Tứ Xuyên.
[10] Từ chi tiết này, các sử gia Trung cộng nâng level cho Châu Hồng Đăng biến hình thành một Nho sĩ sinh bất phùng thời. Thực tế Đăng là kẻ mù chữ, năng lực vào hạng lang vườn, chỉ biết bốc thuốc suông chứ không thể bắt mạch ra toa.
[
11] Vốn từ 1858, nhân cơ hội Mãn Thanh vừa đại bại sau cuộc Chiến tranh Nha phiến lần II, Đế quốc Nga lấn chiếm khu vực Amur, lấy đi hơn một triệu cây số vuông lãnh thổ Đông Bắc của Trung Hoa. Mối thâm thù đại hận này khắc sâu vào tâm can bọn Tàu mãi mãi không phai, chẳng tình đồng chí vô sản nào hóa giải nổi. Dân Tàu gọi bọn Nga có tóc-lông-râu đều hung hung đỏ là Hồng Mao quỷ, gọi tắt “Mao quỷ” hoặc “Mao tử”. Từ đó, căn cứ theo huyết thống mà chia làm bốn thứ hạng: Lão mao tử là người có 100% dòng máu Nga; Nhị mao tử là con lai Nga-Tàu; Tam mao tử và Tứ mao tử là đã lai Nga đến đời thứ 3, 4. Nghĩa Hòa đoàn mở rộng khái niệm “Mao tử” này để áp dụng vào mọi chủng Tây Dương, lại truy cứu dây mơ rễ má xuống dài thoòng loòng thành bảng điểm “Thập mao tử”.