Truyện Hai Bà Trưng
Lâu lâu không động vào viết lách tự nhiên nay có hứng. Chém một chút về chuyện bà Trưng với tụi mày
- Hai Bà Trưng trong sử sách
Hai Bà Trưng là người Việt đầu tiên được chép trong sử sách (Hậu Hán Thư - Phạm Việp). Tao sẽ nói về sử Việt Nam trước để dễ đối chiếu
Đại Việt Sử ký toàn thư chép
“Ở ngôi 3 năm.
Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên công tái tạo.
Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh , Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên … (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm). Đóng đô ở Mê Linh.
Canh Tý, năm thứ 1 , (Hán Kiến Vũ năm thứ 16). Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.
Tân Sửu, năm thứ 2 , (Hán Kiến Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.
Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ 18). Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng Bạc)67 đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim Khê). Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại mất.”
Hậu Hán Thư của Phạm Việp (hay Diệp) chép
1. Hậu Hán Thư Quyển 1 - Hán Quang Vũ đế kỷ
Năm Kiến Vũ thứ 16 (tức năm 40 Canh Tý) tháng 2, mùa xuân người con gái giao chỉ tên là Trưng Trắc làm phản chiếm được thành ấp
Năm thứ 18 (tức năm 42 Nhâm Dần) tháng tư sai Phục Ba tướng Quân Mã Viện dẫn Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí đi đánh bọn giặc Trưng Trắc ở Giao Chỉ
Năm thứ 19 (tức năm 43 Quý Mão) tháng tư mùa hè, Phục Ba tướng quân Mã Viện phá được Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc. Nhân đó phá được bọn giặc Đô Dương ở Cửu Chân, hàng phục được.
- Hậu Hán Thư Quyển 22 - Lưu Long truyện
Năm sau (năm Kiến Vũ thứ 16 - tức năm 40 SCN) lại được phong làm Phù Lạc hương hầu, hàm trung năng tướng. Long làm phó tướng cho Phục Ba tướng quân Mã Viện đi đánh bọn man di Trưng Trắc ở Giao Chỉ. Riêng Long đã phá được Quân Trưng Trắc ở cửa sông Cấm Khê (Cẩm Khê khẩu) bắt được người cầm đầu là Trưng Nhị (hoạch kỳ súy Trưng Nhị) chém đầu được hơn nghìn người, có hơn 2 vạn người đầu hàng.
- Hậu Hán Thư quyển 24 - Mã Viện truyện
Năm Kiến Vũ thứ 17 (tức năm 41- Tân Sửu) lại có người con gái tên Trưng Trắc và em là Trưng nhị ở Giao Chỉ làm phản, đánh chiếm được quận đó. Man di ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Họ đánh chiếm được hơn 60 Thành ở vùng Lĩnh Ngoại. Trắc tự lập làm vua, (do vậy) Quang Vũ đế ban tỷ thư, phong Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy phù lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc xuất Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí... Đi đánh Giao Chỉ ở phía nam (nam kích Giao Chỉ quận) nhà Hán. Tới Hợp Phố thì Đoàn Chí mắc bệnh rồi chết. Vua ban chiếu cho Mã Viện thống xuất đội quân. Mã Viện bèn đi theo đường biển sau núi mở đường hơn 1.000 dặm
Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 18, quân đi tới Lãng Bạc đánh nhau với giặc, phá được chém đầu vài nghìn người, có hơn một vạn người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc tới Cấm Khê, nhiều lần đánh bại quân Trưng Trắc quân giặc bèn tẩu tán
Tháng giêng năm sau (tức năm Kiến Vũ thứ 19) chém Trưng Trắc, Trưng Nhị đưa đầu về Lạc Dương (truyền thủ Lạc Dương). Mã Viện được phong Tân Tức hầu, hưởng thực gấp 3.000 hộ. Mã Viện dẫn hơn 2.000 chiến thuyền lớn nhỏ, hơn hai vạn chiến sĩ tiến vào Cửu Chân đánh bọn giặc Đô Dương là dư đảng của Trưng Trắc. Quân Mã Viện từ Vô Công tới Cư Phong chém và bắt được hơn 5.000 người. Bình định được miền núi phía Nam (kiện nam tất bình). Viện tâu với vua Hán rằng huyện Tây Vu có 3 vạn 2 nghìn hộ từ địa giới phía xa tới triều đình (nhà Hán) cách nhau hơn nghìn dặm. Xin tách hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua chuẩn y, những nơi Mã Viện đi qua đều đặt quận huyện, xây Thành quách, đào mương, tưới tiêu làm việc lợi cho dân. Viện lại tâu rằng Luật Việt và Luật nhà Hán có tới hơn 10 điều khác nhau, Viện nêu rõ luật chế cũ của nhà Hán cho người Việt biết để ràng buộc họ. Từ đó người Lạc Việt làm theo những điều mà tướng quân đặt ra
- Hậu Hán Thư - Nam Man Tây Nam Di truyện
Tới Nam Kiến Vũ thứ 16 (tức năm 40 Canh Tý) người con gái ở Giao Chỉ tên Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị làm phản, tấn công châu quận. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, gả cho người Chu Diên tên là Thi Sách làm vợ (Giá vi Chu Diên nhân Thi Sách thê) Trưng Trắc rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ Tô Định lấy luật pháp để ràng buộc. Trưng Trắc phân uất nên đã làm phản. Nhân đó những người Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Họ chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử và các thái thú khác ở Giao Chỉ giữ thân mình mà thôi.
Quang Vũ đế đèn ban chiếu cho các quận Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe thuyền, sửa chữa đường đá, cầu cống, thông các núi khe, dự trữ lương thực và thóc gạo. Năm thứ 18 (tức năm 42) Nhâm Dần, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện, Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí phát binh Trường Sa Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô gồm hơn một vạn người đi chinh thảo.
Tháng tư, mùa hè năm sau (tức năm 43 Quý Mão) Viện phá được Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc và Trưng Nhị, số còn lại đầu hàng (hay tẩu tán) Viện lại tiến đánh bọn giặc Đô Dương ở Cửu chân, cả phá và hàng phục được. Mã Viện đã rời hơn 300 người cừ suy tới Linh Lăng. Từ đó miền Lĩnh Biểu bèn yên.
- Thủy kinh Chú Quyển 37 - Sông Diệp Du
Đến sau, con trai của Lạc tướng huyện Chu Diên tên là Thi, lấy con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có can đảm, Dũng lực, cùng Thi làm giặc, đánh phá châu quận. Các lạc tướng đều theo phục. Trưng Trắc làm vua đóng đô ở Mê Linh, tha cho hai dân quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuế hộ và thuế điền 2 năm. Sau nhà Hán sai Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem quân sang đánh, Trắc và Thi chạy vào Kim Khê cứu, 3 năm mới bình phục được. Khi ấy Tây Thục cũng sai binh sang cùng đánh bọn Trắc, định các quận huyện, đặt chức lệnh trưởng
Mấy vấn đề về câu chuyện bà Trưng
Sử tịch
Có rất nhiều sử tịch chép chuyện bà Trưng khởi nghĩa. Tuy nhiên, các sử liệu Trung Hoa đời sau đều viết khá muộn (Tư Trị thông giám chép vào đời Tống - sau khởi nghĩa bà Trưng khoảng 1000 năm), và cũng không có gì mới mẻ ngoài dẫn Hậu Hán Thư ra cả. Riêng có Thủy kinh chú do Lịch Đạo Nguyên viết cuối đời Bắc Ngụy (đầu thế kỷ 6) dẫn từ cuốn Thủy kinh do Tang Khâm viết cuối đời Hán, có lẽ khá gần với thời điểm xảy ra cuộc khởi nghĩa đó, có thể dẫn tư liệu cùng.
Ở Việt Nam cuốn Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) là cuốn sớm nhất chép về cuộc khởi nghĩa này, có dẫn phần Lê Văn Hưu bình luận nên có thể ĐVSK của Lê Văn Hưu đã chép rồi. Các cuốn sau đều dẫn lại nên k có gì đặc sắc cả. Nên phân tích chỉ phân tích dựa vào 3 cuốn này.
Vì sao có cuộc khởi nghĩa này?
- Bối cảnh:
Sử xưa nay vẫn chép nước ta bị đô hộ từ 179, thời điểm được cho là Âu Lạc bị Nam Việt của Triệu Đà diệt. Tuy nhiên câu chuyện về Âu Lạc đều không có căn cứ. Rất nhiều tồn nghi. Tao đã có bài phân tích trên xàm này rồi. Sau đó thì không có sử liệu nào ghi về giai đoạn sau đó dưới thời Triệu Đà cả. (Các sử liệu sau này chép đều không đáng tin cậy)
Thời Tây Hán có Thạch Đại làm thái thú 9 quận Giao Chỉ (đất Nam Việt cũ), trị sở đóng ở Long Uyên (nhà Đường kiêng Lý Uyên nên đổi Uyên thành Biên). Câu này rất mơ hồ, tao đồ rằng đất Giao - Quảng về sau trị sở có lẽ vẫn đặt ở Phiên Ngung (TP. Quảng châu hiện nay) thì hợp lý hơn nhiều.
Thời Đông Hán có chép chuyện Nhâm Diên và Tích Quang. Toàn thư có chép (tao đồ rằng là dẫn lại của Hậu Hán thư): “
Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân. Diên là người Uyển [huyện]. Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ. Dân nghèo không có sính lễ cưới vợ, Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người. Diên coi việc được 4 năm thì bị gọi về. Người Cửu Chân làm đền thờ. Những người đẻ con đều đặt tên là Nhâm. Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.”
-> Câu này hàm ý Quang và Diên là người bắt đầu dạy dân Giao Chỉ, Cửu Chân lễ nghĩa văn minh. Nhưng đồng thời cũng mang nghĩa là trước đó, sự cai trị có hệ thống của nhà Hán vào Giao Châu (tao chỉ tính phạm vi Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp Phố - đất Hợp Phố (miền Khâm Liêm ngày nay) xưa thuộc Việt Nam, mãi tới thời Đông Ngô bị cắt về Quảng Châu). Như vậy cũng có nghĩa trước đó, nhà Hán không thực sự động chạm tới Giao Châu. Hán cai trị Việt Nam theo kiểu sử dụng hệ thống quan lại bản địa cai trị và nộp cống phẩm, phải tới Diên, Quang tức sang thời đông Hán mới thực sự cai trị, nhưng việc này có lẽ mới tới cấp quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố), chưa tới cấp huyện và dưới nữa. Mức độ tự trị của người Việt vẫn là rất lớn.
Năm 39, Tô Định được cử làm thái thú Giao Chỉ. Hậu Hán thư nói “
Định dùng pháp luật ràng buộc”, Toàn thư nói:”
vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình”. Nghĩa là cả toàn thư và Hậu Hán thư đều nói việc pháp luật ràng buộc - tức lấy luật pháp nhà Hán áp đặt cai trị lên xứ Việt, chứ không nói việc Định tàn bạo, tham lam như các cuốn sử sau này.
Việc này rất quan trọng, vì điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lực của các lãnh chúa bản địa. Giống mô hình các xứ miền núi Việt Nam sau này tới tận thời Pháp thuộc, họ làm chủ xứ của mình, chỉ cống nạp cho chính quyền Trung ương, không bị bắt lính, không bị quan lại trung ương can thiệp, có thể nói, họ là vua xứ mình.
Nhưng khi hệ thống chính quyền Trung ương can thiệp thì điều đó ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của các lãnh chúa bản địa, và khiến cho họ nổi dậy.
Ngoài ra, khách quan mà nói, khi một triều đại thống trị áp đặt quyền lực lên một vùng đất thuộc địa, tất yếu sẽ thay đổi văn hóa của xứ bản địa, gây ra sự bất mãn trong dân chúng vì phải thay đổi phong tục ngoại lai. Đồng thời chắc chắn chế độ thuộc địa không bao giờ có chuyện thuế má nhẹ nhàng cũng là một yếu tố cần nhắc tới.
Chú 1: Ông chồng bà Trưng Trắc? Và câu chuyện họ người Việt.
Hậu Hán thư chép ông này tên Thi Sách, Thủy Kinh chú lại chép là Thi, người Chu Diên. Cái tên Trưng Trắc thì Toàn thư nói họ Trưng, gốc họ Lạc tao cho là không đúng. Chưa có gì khảo cứu được bà Trưng Trắc họ Trưng cả, thuyết trứng chắc và trứng nhì của nghề làm tơ cũng chỉ là nói dựa, Giao châu khi đó còn là bán khai, mông muội, chưa có nghề làm tơ - thứ lúc đó chỉ có ở Trung Nguyên. Thời đó người Việt chưa có họ, Trưng Trắc, Trưng Nhị chỉ là cách đọc bằng tiếng Hán của tên tiếng Việt cổ mà thôi, ông chồng bà Trưng có lẽ tên Thi, nguồn gốc cũng như vây.
Chú 2: Ông Thi có bị giết không?
Cả Hậu Hán thư và Thủy kinh chú đều không nói việc Thi bị giết, chỉ nói Thi và Trưng Trắc cùng làm phản. Nhưng tại sao Toàn thư nói Thi bị giết?
Có lẽ nguyên nhân là cách nhìn nhận của sử gia nho giáo. Họ cần ông Thi bị giết để làm cái cớ hợp lý hơn cho cuộc khởi nghĩa, đồng thời che mờ yếu tố Mẫu hệ trong cuộc khởi nghĩa. Tao sẽ phân tích ở phần sau.
Địa bàn cuộc khởi nghĩa:
Hậu Hán thư chép 2 con số - 60 thành và 65 thành lĩnh ngoại. Sử đều chép người man, người lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng vua bà, chiếm thành ấp mà tự xưng. Vậy sự thực là như thế nào?
Đầu tiên, xứ Lạc Việt có địa bàn sinh tụ trong phạm vi 3 quận - Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố. Đất Nhật Nam mà sau này Khu Liên nổi dậy, lập nước Lâm Ấp hậu thân chính là nước Chăm pa thì có lẽ không phải là người Lạc Việt mà là tộc Chăm. Các xứ Chu Nhai - Đạm Nhĩ thuộc về đảo Hải Nam, là tộc Lê, không phải Lạc Việt, Miền các quận thuộc Quảng Đông, và Quảng tây khác thuộc về người Âu Việt và các tộc Nam Bách Việt khác, cũng không phải người Lạc Việt. Tao cho rằng phạm vi khởi nghĩa chỉ trong đất của người Lạc Việt thôi, nghĩa là gói gọn trong 3 quận Cửu Chân - Giao Chỉ và Hợp Phố
Chữ Hưởng ứng kia rất mập mờ. 65 thành Lĩnh Ngoại ở đâu. Dãy Ngũ Lĩnh nằm giữa ranh giới các tỉnh Hồ Nam, GIang Tây với Lưỡng Quảng. Phía Nam NGũ Lĩnh gọi chung là Lĩnh Nam, Lĩnh Ngoại. Hưởng ứng là họ cùng nổi dậy, nhưng không có nghĩa là họ thuộc quyền của bà Trưng Trắc. Thậm chí Các hoạt động của bà Trưng trắc đều gói gọn trong phạm vi Giao Chỉ, việc đánh Đô Dương ở Cửu Chân mà sử chép cũng là tàn dư của Trưng Trắc chứ không có nghĩa Đô Dương tham chiến ở Giao Chỉ. Câu chuyện về chữ vương (王) của bà Trưng Trắc tao sẽ viết ở phần sau.