Tóm lại thế này nhạc xuân hay nhất do nhạc sĩ gốc Bắc di cư vô Nam sáng tác sau khi trải nghiệm phong cảnh đời sống trong Nam.
Còn nói thật đa số mấy ông trong Nam tâm hồn không sâu sắc nhạc toàn éo ẹo èo eo sao đó.
Vấn đề nhạc này còn chịu ảnh hưởng bởi ý thức hệ môi trường xã hội đang sống.
Để ý sẽ thấy tuyệt đại đa số là Bắc di cư 54 và ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Pháp.
Ngoài Phạm Đình Chương, Phạm Duy đã rõ tiểu sử thì nhiều ví dụ sau đây nhìn là hiểu.
Nhận xét công bằng nha.
vi.wikipedia.org
Tuấn Khanh (sinh năm 1933) tại Nam Định là một nhạc sĩ có nhiều ca khúc nổi tiếng.
Ông tên thật là Trần Trọng Ngọc, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1933 tại Nam Định.
Năm 1950, gia đình ông chuyển về sống ở Hà Nội. Ông học vĩ cầm từ người anh cả. Sau đó ông học thầy Nguyễn Văn Diệp (vốn là học sinh trường “Pháp quốc Viễn đông âm nhạc viện” từ năm 1927). Từ thầy Diệp, ông lại được học thầy người Pháp tên là De Haut, đến khi thầy về Pháp thì được giới thiệu học thầy Rits. Tuy học violin nhưng nhạc sĩ Tuấn Khanh lại có cả giọng hát bẩm sinh rất hay. Năm 1953, ông ghi danh cuộc thi giọng hát hay của Đài Pháp-Á và đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (sau này là ca sĩ Lệ Hằng). Cũng trong năm này ông giành giải nhất thanh nhạc trong cuộc thi của Đài phát thanh Hà Nội.
Năm 1955, ông di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, ông đàn ở đài phát thanh và ban giao hưởng của Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ. Nhạc phẩm đầu tiên của ông là "Đò ngang" (viết cùng Y Vân) và lấy bút danh là Tuấn Khanh.
vi.wikipedia.org
Nhạc sĩ Văn Phụng tên đầy đủ là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Nam Định[1] trong một gia đình bốn anh em mà ông là thứ hai.
Thời nhỏ gia đình ông chuyển lên Hà Nội sinh sống. Khi đi học, Văn Phụng là một học sinh xuất sắc. Ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú tài, Văn Phụng theo học ngành Y vì ý muốn của cha ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học để theo âm nhạc.Học đàn dương cầm từ nhỏ cộng thêm được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 15 tuổi Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong cuộc tuyển lựa tại Nhà hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm "La Prière d’Une Vierge".
Năm 1946, trong một lần chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn và gặp linh mục Mai Xuân Đình. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.
vi.wikipedia.org
Nguyễn Hiền sinh năm 1927 tại Hà Nội. Bắt đầu học nhạc từ năm 1935, ông đã học và sử dụng dương cầm, vĩ cầm, phong cầm. Năm 18 tuổi, ông phổ nhạc cho bài thơ "Người em nhỏ" của Thiệu Giang, một người bạn của ông. Năm 1950, ông là nhạc trưởng của ban nhạc "Hotel de Paris" tại Hà Nội.
Ông lập gia đình năm 1953 rồi di cư vào Nam một năm sau đó, rồi làm việc tại các bộ Thông tin, Chiêu hồi và Xây dựng Nông thôn. Ông từng làm Chủ sự phòng Chương trình Đài Phát thanh Sài Gòn; Phụ tá giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.
vi.wikipedia.org
Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương.[2] Đến năm 1927, cả gia đình ông chuyển về sinh sống tại Nam Định.
Năm 1954, ông cùng ba người con, bao gồm Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Bạch La và Hoàng Cung Fa di cư vào Nam.[1] Khi mới vào Sài Gòn, ông sống tại khu vực đường Phan Văn Trị tại Chợ Lớn[3] và có mở một lớp dạy nhạc tại đây. Thời điểm này, ông có phụ trách cho một số ban nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Đến năm 1967, ông phụ trách cho ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng.
vi.wikipedia.org
Nhật Bằng (tên đầy đủ: Trần Nhật Bằng, 1930-2004) là một nhạc sĩ Việt Nam trước năm 1975. Ông có các ca khúc nổi tiếng như "Bóng chiều tà", "Khúc nhạc ngày xuân", "Thuyền trăng", "Chiến sĩ ca",...
Nhật Bằng sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo mà ông nội làm chức Án sát và cha là công chức cao cấp thời Pháp thuộc và Đệ Nhất Cộng hòa. Nhật Bằng có ba người em là Nhật Phượng, Hồng Hảo và Thể Tần.[1][2]
Thuở ấu thơ, ông học tiểu học trường Công giáo. Năm 1944, ông nhập học trường Bưởi tại Hà Nội và kết thân với hai nhạc sĩ cùng thời nổi tiếng là Phạm Đình Chương và Vũ Đức Nghiêm.
Năm 1956, Nhật Bằng vào Sài Gòn. Thời gian đầu ông làm việc trong Đài phát thanh Quân đội của VTVN. Bản "Về đây anh" do ông viết cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hiền được dùng làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu hồi của đài này thời đó.
thoixua.vn
Nhạc sĩ Quốc Dũng tên đầy đủ là Nguyễn Quốc Dũng, sinh năm 1951 tại Thái Lan. Cha mẹ của ông vốn là người gốc Nghệ nhưng qua Lào và Thái Lan làm ăи sinh sống, cha mẹ ông gặp nhau và đã kết ᴅuyên nên vợ cнồng sau đó sinh ông ra trên đất Thái Lan. Năm 3 tuổi thì gia đình ông нồi hương và vào Sài Gòn để mưu sinh.
vi.wikipedia.org
Xuân Tiên (sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921) là một nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Ngoài sáng tác nhiều bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích như "Khúc hát ân tình", "Duyên tình", "Về dưới mái nhà",... thì ông còn có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ, đồng thời cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới.
Ông tên thật là Phạm Xuân Tiên, sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Quốc với cha và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả.[1] Năm lên 10, ông còn được cha thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương.[2] Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây. Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn, ở Sài Gòn và lục tỉnh.[2] Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình âm nhạc của 3 miền. Ông còn tìm hiểu về nhạc của Lào và Campuchia.[2]
vi.wikipedia.org
Anh Bằng (5 tháng 5 năm 1926 – 12 tháng 11 năm 2015) là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng lẫn nhạc hải ngoại. Ông là thành viên nhóm Lê Minh Bằng và là người sáng lập nên Trung tâm Asia.
Anh Bằng tên thật là Trần An Bường, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1926 tại thị tứ Điền Hộ, nay thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa với tên thánh là Giuse. Năm 1935, ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia, thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội.
Năm 1953, người anh của ông là đại úy Trần An Lạc làm chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ Giáo khu tự trị Bùi Chu - Phát Diệm của Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ. Vì muốn bắt Trần An Lạc, Việt Minh đã bắt giam 3 người em ruột của Trần An Lạc là nhạc sĩ Trần Văn Mão, ông Trần Tấn Mùi cùng cậu em út Trần An Bường ở trại Lý Bá Sơ, đồng thời dọa sẽ tử hình nếu Trần An Lạc không chịu ra hàng. 3 người em được thả sau khi Việt Minh thủ tiêu được Trần An Lạc. Vì lẽ đó, gia đình Anh Bằng di cư vào Nam năm 1954, rồi định cư ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn.[1]
Còn nói thật đa số mấy ông trong Nam tâm hồn không sâu sắc nhạc toàn éo ẹo èo eo sao đó.
Vấn đề nhạc này còn chịu ảnh hưởng bởi ý thức hệ môi trường xã hội đang sống.
Để ý sẽ thấy tuyệt đại đa số là Bắc di cư 54 và ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Pháp.
Ngoài Phạm Đình Chương, Phạm Duy đã rõ tiểu sử thì nhiều ví dụ sau đây nhìn là hiểu.
Nhận xét công bằng nha.
Tuấn Khanh (nhạc sĩ, sinh 1933) – Wikipedia tiếng Việt
Ông tên thật là Trần Trọng Ngọc, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1933 tại Nam Định.
Năm 1950, gia đình ông chuyển về sống ở Hà Nội. Ông học vĩ cầm từ người anh cả. Sau đó ông học thầy Nguyễn Văn Diệp (vốn là học sinh trường “Pháp quốc Viễn đông âm nhạc viện” từ năm 1927). Từ thầy Diệp, ông lại được học thầy người Pháp tên là De Haut, đến khi thầy về Pháp thì được giới thiệu học thầy Rits. Tuy học violin nhưng nhạc sĩ Tuấn Khanh lại có cả giọng hát bẩm sinh rất hay. Năm 1953, ông ghi danh cuộc thi giọng hát hay của Đài Pháp-Á và đoạt giải nhì sau nữ ca sĩ Thanh Hằng (sau này là ca sĩ Lệ Hằng). Cũng trong năm này ông giành giải nhất thanh nhạc trong cuộc thi của Đài phát thanh Hà Nội.
Năm 1955, ông di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, ông đàn ở đài phát thanh và ban giao hưởng của Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ. Nhạc phẩm đầu tiên của ông là "Đò ngang" (viết cùng Y Vân) và lấy bút danh là Tuấn Khanh.
Văn Phụng – Wikipedia tiếng Việt
Thời nhỏ gia đình ông chuyển lên Hà Nội sinh sống. Khi đi học, Văn Phụng là một học sinh xuất sắc. Ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú tài, Văn Phụng theo học ngành Y vì ý muốn của cha ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học để theo âm nhạc.Học đàn dương cầm từ nhỏ cộng thêm được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 15 tuổi Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong cuộc tuyển lựa tại Nhà hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm "La Prière d’Une Vierge".
Năm 1946, trong một lần chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn và gặp linh mục Mai Xuân Đình. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.
Nguyễn Hiền (nhạc sĩ) – Wikipedia tiếng Việt
Ông lập gia đình năm 1953 rồi di cư vào Nam một năm sau đó, rồi làm việc tại các bộ Thông tin, Chiêu hồi và Xây dựng Nông thôn. Ông từng làm Chủ sự phòng Chương trình Đài Phát thanh Sài Gòn; Phụ tá giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.
Hoàng Trọng – Wikipedia tiếng Việt
Năm 1954, ông cùng ba người con, bao gồm Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Bạch La và Hoàng Cung Fa di cư vào Nam.[1] Khi mới vào Sài Gòn, ông sống tại khu vực đường Phan Văn Trị tại Chợ Lớn[3] và có mở một lớp dạy nhạc tại đây. Thời điểm này, ông có phụ trách cho một số ban nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Đến năm 1967, ông phụ trách cho ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng.
Nhật Bằng – Wikipedia tiếng Việt
Nhật Bằng sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo mà ông nội làm chức Án sát và cha là công chức cao cấp thời Pháp thuộc và Đệ Nhất Cộng hòa. Nhật Bằng có ba người em là Nhật Phượng, Hồng Hảo và Thể Tần.[1][2]
Thuở ấu thơ, ông học tiểu học trường Công giáo. Năm 1944, ông nhập học trường Bưởi tại Hà Nội và kết thân với hai nhạc sĩ cùng thời nổi tiếng là Phạm Đình Chương và Vũ Đức Nghiêm.
Năm 1956, Nhật Bằng vào Sài Gòn. Thời gian đầu ông làm việc trong Đài phát thanh Quân đội của VTVN. Bản "Về đây anh" do ông viết cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hiền được dùng làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu hồi của đài này thời đó.
Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Quốc Dũng
Nhạc sĩ Quốc Dũng là một trong những tên tuổi nổi bật của làng nhạc Việt Nam
thoixua.vn
Xuân Tiên – Wikipedia tiếng Việt
Ông tên thật là Phạm Xuân Tiên, sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Quốc với cha và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả.[1] Năm lên 10, ông còn được cha thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương.[2] Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây. Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn, ở Sài Gòn và lục tỉnh.[2] Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình âm nhạc của 3 miền. Ông còn tìm hiểu về nhạc của Lào và Campuchia.[2]
Anh Bằng – Wikipedia tiếng Việt
Anh Bằng tên thật là Trần An Bường, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1926 tại thị tứ Điền Hộ, nay thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa với tên thánh là Giuse. Năm 1935, ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia, thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội.
Năm 1953, người anh của ông là đại úy Trần An Lạc làm chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ Giáo khu tự trị Bùi Chu - Phát Diệm của Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ. Vì muốn bắt Trần An Lạc, Việt Minh đã bắt giam 3 người em ruột của Trần An Lạc là nhạc sĩ Trần Văn Mão, ông Trần Tấn Mùi cùng cậu em út Trần An Bường ở trại Lý Bá Sơ, đồng thời dọa sẽ tử hình nếu Trần An Lạc không chịu ra hàng. 3 người em được thả sau khi Việt Minh thủ tiêu được Trần An Lạc. Vì lẽ đó, gia đình Anh Bằng di cư vào Nam năm 1954, rồi định cư ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn.[1]
Sửa lần cuối:
cỡ Văn cao ở lại MB cũng có ra cái ôn gì