nungcacsang
Mai là mùng một
Xin chân thành gửi tặng và cảm ơn sự tiếp đón và giúp đỡ chân tình của các gia đình và của các người quen vừa cũ vừa mới trong chuyến thăm nước Úc vào tháng 11 năm 2023 vừa qua, nhờ đó mà tôi đã cảm nhận và hiểu ra tầm quan trọng của lòng biết ơn trong đạo làm người.
Mở đầu
Tôi dùng từ “Khổng Mạnh học” cốt để phân biệt với Nho học. “Khổng Mạnh học” ở đây dùng để chỉ học thuyết của Khổng tử và Mạnh tử đã đề xướng và giảng giải. Phần lớn học thuyết này được chứa đựng trong 2 sách Luận Ngữ và Mạnh Tử và một phần trong sách Trung Dung.
Nên hiểu trong Nho học hay Nho giáo có nhiều học thuyết của nhiều học phái lẫn lộn rất khó phân biệt. Vào thời điểm này, tôi hiểu Nho học gồm có các học phái chính yếu như sau: 1) Khổng Mạnh học, 2) Chu tử học do Chu Hy biên soạn và hệ thống hóa, còn được gọi là Tống nho, 3) Dương Minh học do Vương Dương Minh đề xướng, và 4) Các học thuyết khác.
Thật ra tôi không còn nhớ chính xác động cơ gì đã thúc đẩy tôi tìm hiểu nội dung lý giải Nho học nói chung và Khổng Mạnh học nói riêng của người Nhật Bản như thế nào, vì đã khoảng 5 năm kể từ lúc bắt đầu. Lý do không nhớ rõ là vì tôi đã biết thêm quá nhiều nội dung mới về Nho học như đi vào một khu rừng to lớn và đa dạng với lòng hiếu kỳ.
Nhân dịp cuối năm, trước hết để tổng kết sơ lược các việc đã làm trong các năm vừa qua,nếu không ghi lại, ký ức dần dần càng ngày càng mơ hồ; kế đến để ghi lại kỷ niệm tôi đã cảm nhận và hiểu ra tầm quan trọng của lòng biết ơn trong đạo làm người, nhờ sự tiếp đón và giúp đỡ chân tình của các gia đình và của các người quen vừa cũ vừa mới trong chuyến thăm nước Úc vào tháng 11 năm 2023.
Động cơ chính yếu
Mặc dù không còn nhớ chính xác chi tiết nhưng ý tưởng sau vẫn còn rõ ràng trong đấu óc tôi: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc đều chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng tại sao chỉ có Nhật Bản tiến mạnh tiến nhanh và có nền tảng đạo đức được thế giới chú ý và khen ngợi, trong khi nhiều người Việt Nam hiện nay cho rằng Nho giáo đã lỗi thời, hoặc đã gây nhiều tai hại trong quá khứ? Đó là điểm xuất phát đã thúc đẩy tôi đi tìm hiểu người Nhật Bản học và hiểu Nho giáo như thế nào?
Có thể trước đó hoặc lúc đó tôi chưa chú ý đến Nho giáo mà chỉ muốn tìm hiểu lý do tại sao Nhật Bản có thể tiến mạnh và nhanh, đồng thời có nền tảng đạo đức được nhiều người ngưỡng mộ như nói trên.
Dương Minh học
Điểm thứ hai tôi còn nhớ rõ như sau: phần lớn các chí sĩ tiên tiến trong Minh Trị Duy Tân chịu ảnh hưởng mạnh Nho học, đặc biệt là Dương Minh học, thí dụ như Saigô Takamori(1827-1877), Yoshida Shôin (1830~1859)…. Theo tôi ngay cả Fukuzawa Yukichi (1835~1901) cũng là người chịu ảnh hưởng mạnh của Khổng Mạnh học mặc dù ông chủ trương bãi bỏ Nho học để theo học thuyết của Tây phương (Tây học). Đây là lý do tôi đã chú ý đến Dương Minh học.
Trong quá trình tìm hiểu Dương Minh học tôi biết đến Yasuoka Masahiro安岡正篤(1898~1983), một nhà Hán học lớn của Nhật Bản, người đã đặt ra niên hiệu Heisei (từ năm 1989 đến 2019) cho Nhật Bản. Ông đã nghiên cứu về Vương Dương Minh từ thời đại học.Tôi đã tìm đọc các tác phẩm của ông trong một hai năm.
Tôi lại tìm hiểu Nakae Tôyu中江藤樹 (1608~1648), người được xem là thánh nhân của vùng Ômi近江, ông tiếp nhận Dương Minh học đầu tiên ở Nhật Bản. Điều phải thán phục ông là từ nhỏ ông lập chí thành thánh nhân và đã đạt được ước nguyện này bằng tự học! Ông rất xem trọng đức Hiếu của Nho học. Tôi đã đọc và dịch một phần tác phẩm tiêu biểu của ông là Ông Vấn Đáp. Một ấn tượng sâu sắc của tác phẩm này đối với tôi là ông chủ trương nền tảng của Khổng học xuất phát từ Hiếu. Hiếu là đạo làm người và có thể tóm gọn trong 2 chữ: Ái và Kính. Ông giải thích Ái nghĩa là ứng xử giao tiếp thân thiện tận tình; Kính nghĩa là đối người hoặc cấp bậc trên thì kính trọng, đối với người hoặc cấp bậc dưới thì không khinh rẻ xem thường. Ông cho rằng Khổng tử lấy Hiếu làm gốc, làm nền tảng để truyền đạt đạo làm người là bởi vì đức Hiếu giúp con người dễ hiểu ý nghĩa của Ái và Kính và dễ sớm tu tập nhất từ lúc nhỏ. (Trích một phần Bài 2, Ông Vấn Đáp, quyển thượng (phần đầu)).
Bốn 4 chữ mà Saigô Takamori xem trọng suốt cả đời là “Kính Thiên Ái Nhân”, không biết có chịu ảnh hưởng của Nakae Tôyu không?
Qua kinh nghiệm cuộc đời của tôi, tôi thấy nếu hiểu và áp dụng 2 chữ Ái Kính với ý nghĩa như trên vào đời sống thực tế, tôi tin rằng chắc chắn giúp chúng ta thành công và hạnh phúc.
Tiếp theo là Kumazawa Banzan熊沢蕃山(1619~1691), học trò của Nakae Tôyu. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Tập Nghĩa Hòa Thư (sách tiếng Nhật tập hợp các nội dung về Nghĩa, con đường đúng để làm người) và Tập Nghĩa Ngoại Thư. Một ấn tượng lớn của tôi đối với Tập Nghĩa Hòa Thư là tác giả đã khai triển cụ thể tư tưởng “Thời-Sở-Vị” của Nakae Tôyu (Bài 39, Ông Vấn Đáp quyển thượng (phần sau)): áp dụng hay thực hiện việc gì cũng phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng với lập trường địa vị của mình và của đối tượng hoặc của xã hội, của quốc gia. Fukuzawa Yukichi định nghĩa thông minh là biết áp đúng kiến thức đúng lúc. Điều này cũng làm cho liên tưởng đến việc tìm lời giải thích hợp (Vị) của một phương trình vi phân cho một hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó, lời giải này cần phải thỏa mãn điều kiện biên (Sở) và điều kiện ban đầu (Thời).
Một nhân vật kế tiếp mà tôi đã tìm hiểu là Satô Issai佐藤一斎 (1772~1859), người đã đào tạo nhiều nhân tài cho Minh Trị Duy Tân. Nhân vật mà giới học thuật Nhật Bản cho rằng cái học của ông bên ngoài (dương) là Chu tử học nhưng bên trong (âm) là Dương Minh học, mặc dù ông nói ông theo Chu tử học. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Ngôn Chí Tứ Lục (gồm có 4 quyển được trước tác trong 4 thời kỳ trong cuộc đời của ông: 1) Ngôn Chí Lục gồm 246 điều viết từ lúc 42 tuổi, mất hơn 10 năm để hoàn thành; 2) Ngôn Chí Hậu Lục, gồm 255 điều viết từ lúc 57 tuổi, tốn khoảng 10 năm; 3) Ngôn Chí Vãn Lục, gồm 292 điềuviết từ lúc 67 tuổi trong 12 năm; 4) Ngôn Chí Điệt Lục, gồm 340 điều viết từ lúc 80 tuổi không đầy 2 năm.
Saigô Takamori chọn 101 điều từ 1133 điều để làm sách đầu giường tu thân, với tên “Nam Châu Thủ Lục Ngôn Chí Lục”. Kawakami Masamitsu (1912~1996), Hiệu trưởng đời thứ 10 của đại học Đông Kinh Công Nghiệp (TIT) đã dịch và chú giải toàn bộ sách này. Khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Koizumi Jyun-ichirô (1942~) trích dẫn câu sau trong sách trên đã gây cảm động nhiều dân chúng Nhật Bản: (Đại ý) “Khi trẻ cố gắng học thì lớn lên có thể làm việc quan trọng giúp ích cho xã hội. Khi lớn vẫn không ngừng học tập thì tài năng khi cao tuổi vẫn không suy giảm. Khi cao tuổi vẫn không ngừng học thì sau khi qua đời, việc giúp ích cho xã hội của bản thân được thế hệ sau kế tục.” Cho thấy việc học cần thiết trong cả đời người.
Các sách Nho học tiếng Việt đã tham khảo
Bởi vì chữ Hán khó hiểu và một chữ có nhiều nghĩa, do đó để hiểu đúng và nhanh nội dung sách về Nho học của Nhật Bản tôi cũng tìm đọc trên Internet những tác phẩm về Nho học tiếng Việt Nam như: 1) Luận Ngữ (Phùng Hoài Ngọc biên dịch-chú giải-bàn luận, Đại Học An Giang 2011), 2) Nho Giáo của Trần Trọng Kim, 3) Vương Dương Minh của Trần Trọng Kim, 4) Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu, 5) Khổng Tử và Luận Ngữ của Nguyễn Hiến Lê, 6) Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn, 2010), 7) Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải của Phan Bội Châu, 8) Cửa Khổng (Giảng Khóa Dự Bị Triết Đông Chuyên Biệt Đại Học Văn Khoa Saigon 1963-64) của Kim Định (1965)….
Tuy nhiên, trong các sách tiếng Việt Nam, hầu như tôi chưa đọc hết sách nào vì thấy không hay bằng sách tiếng Nhật Bản hoặc khó hiểu mặc dù hay (như Khổng Học Đăng và Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải).
Lúc đầu tôi thầm trách tại sao cụ Phan Bội Châu không quảng bá Dương Minh học như Nhật Bản nhưng sau khi tìm hiểu thêm nội dung của Khổng Học Đăng tôi mới hiểu tại sao. Một đặc sắc lớn của Dương Minh học khác với Chu tử học (Tống Nho) là ông chủ trương học và hành phải đi đôi. Trong Khổng Học Đăng, cụ Phan Bội Châu vốn đã hiểu học và hành phải đi đôi từ đầu nên tôi nghĩ chủ trương của Vương Dương Minh không có gì mới lạ đối với cụ. Ngoài ra, chủ trương “lương tri” cũng không khác biệt lớn với “lương tâm” của Mạnh tử. Phải chăng đây là lý do?
Qua sách Cửa Khổng của giáo sư Kim Định tôi thấy được độc đáovà tiên tiến của Khổng tử trong giáo dục: tùy năng khiếu, trình độ hiểu biết, tiếp thu của người học mà ông truyền dạy nội dung khác nhau nhưng mục đích giống nhau là giúp ích cho họ tốt hơn. Đồng thời cũng hiểu được tại sao Khổng tử cũng xem trọng Nhạc (âm nhạc).
Chu tử học
Chu Hy朱熹(1130~1200) có công biên soạn ra tứ thư gồm có sách Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung. Ngoài ra, Chu Hy còn giao cho học trò ông là Lưu Tử Đăng 劉子澄 biên soạn sách Tiểu Học cho những người mới bắt đầu học. Sách Cận Tư Lục 近思録 là sách Chu Hy cùng Lữ Tổ Khiêm 呂祖謙 biên soạn từ các trước tác của Chu Liêm Khê, Trương Hoành Cừ, Trình Minh Đạo và Trình Y Xuyên làm sách giáo khoa kế tiếp của sách Tiểu Học. Sau 2 sách này, thứ tự học tứ thư như ghi ở trên, đầu tiên là Đại Học, cuối cùng là Trung Dung. Khác với Chu Hy, Itô Jinsai 伊藤仁斎 (1627~1627) khuyên nên học sách Mạnh Tử trước sách Luận Ngữ.
Một đặc điểm việc học Nho học của Nhật Bản thời xưa nên lưu ý là người học bắt đầu học sách Tiểu Học. Sách này dạy phải quét dọn sạch sẽ, giữ gìn đồ đạc ngăn nắp, v.v… Sách Tiểu Học này hình như không có ở Việt Nam!
Theo sách “La Sơn Phu Tử” của Hoàng Xuân Hãn, vua Quang Trung có giao cho Nguyễn Thiếp dịch sách Tiểu Học và tứ thư nhưng khi dịch xong một phần thì vua qua đời. Theo chú thích của sách trên, sách Tiểu Học là “Dương tiết, Minh tâm, Thuyết ước… Tứ thư là Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.” Căn cứ theo nội dung chú thích này thì sách Tiểu Học có nội dung hình như không giống sách Tiểu Học nói trên ở Nhật Bản, mặc dù sách của Hoàng Xuân Hãn ghi là dịch chứ không phải biên soạn hay trước tác. Tiếc là sách không còn nên không biết như thế nào. Tuy nhiên, sách này đã không được sử dụng trong thực tế nên thiết tưởng dù có tìm hiểu thêm cũng không có ích lợi gì!
Trong bài viết “Lối Học Khoa Cử của Tống Nho có phải là Học Đạo Khổng Mạnh không?” của Huỳnh Thúc Kháng (báo Tiếng Dân, 1931) cho biết các thành quả dịch thuật của Nguyễn Thiếp và những người cộng sự bị triều Nguyễn đem đốt bỏ hết.
Một đặc điểm khác là sách “Cận Tư Lục” hầu như không thấy đề cập đến ở Việt Nam, ngay cả tra trên Internet tiếng Việt ngày nay!
Tóm lại, 2 sách đầu được dùng làm sách giáo khoa cho Nho học ở Nhật Bản không được đề cập ở Việt Nam. Phải chăng đây là một trong những lý do sinh ra khác biệt về ảnh hưởng của Nho học giữa Việt Nam và Nhật Bản. Không biết ở Hàn Quốc 2 sách trên có được sử dụng không?
Võ Sĩ Đạo của Nhật Bản
Trong quá trình tìm hiểu trên có một đàn anh khuyên tôi tìm hiểu võ sĩ đạo của Nhật Bản nên tôi đã tạm ngưng tìm hiểu Dương Minh học. Trong quá trình này, về nhân vật đã tìm hiểu về Saigô Takamori, Ôkubo Toshimichi大久保利通(1830~1878), Katsu Kaishyu勝海舟(1823~1899), Ôkuma Shigenobu大隈重信(1838~ 1922) … Về tác phẩm đã tìm hiểu “Ngũ Luân Thư” của Miyamoto Musashi宮本武蔵(1584~1645),“Võ Sĩ Đạo” của Yamaoka Tesshyu山岡鉄舟(1836~1888), “Diệp Ẩn” của Yamamoto Tsunetomo山本常朝(1659~1719), “Võ Sĩ Đạo” của Nitobe Inazô新渡戸稲造(1862~1933), “Giáp Dương Quân Giám” của Obata Kakenori小幡景憲 (1572~1663), “Luận Ngữ và Bàn Tính” của Shibusawa Eiichi渋沢栄一 (1840~1931), “Võ Sĩ Đạo” của Sagara Tôru相良亨(1921~2000)….
Hiện nay tôi chưa thể đúc kết tương quan giữa Nho học và võ sĩ đạo nhưng có thể nói rằng trong quá trình tiến triển từ thời Edo (sau năm 1603) của võ sĩ đạo chịu ảnh hưởng không nhỏ của Nho học.
Một trong những ấn tưởng lớn của tôi về Diệp Ẩn cũng như trong Nam Châu Ông Di Huấn (nội dung truyền đạt của Saigô Takamori do người của phiên Shônai庄内 ghi chép lại) là người võ sĩ đạo thường ngày suy nghĩ, xem xét sẵn những việc có thể xảy ra trong tương lai và phương sách ứng phó. Do đó, khi việc xảy ra họ có thể ứng phó nhanh chóng và tốt nhất theo họ.
Điểm đáng nể phục của Shibusawa Eiichi là mỗi ngày trước khi ngủ ông đều phản tĩnh, xem xét lại những việc ông đã làm trong ngày. Nếu buổi tối không làm được thì sáng sớm ông làm. Không biết ông bắt đầu từ lúc nào nhưng tiếp tục cho đến khi qua đời. Tôi cho rằng nhờ đức tính này, ông đã xây dựng được sự nghiệp to lớn hữu ích cho Nhật Bản đến mức người Nhật xem ông là cha đẻ xây dựng nền kinh tế tư bản của đất nước họ. Điểm vĩ đại của ông theo tôi là đem đạo đức vào kinh doanh nhưng nội dung giải thích nội dung sách Luận Ngữ của ông không gây cho tôi ấn tượng gì. Do đó tôi đã đặt thêm tựa mới cho tác phẩm “Luận Ngữ và Bàn Tính” của ông là “Đạo Đức và Kinh Doanh”.
Mở đầu
Tôi dùng từ “Khổng Mạnh học” cốt để phân biệt với Nho học. “Khổng Mạnh học” ở đây dùng để chỉ học thuyết của Khổng tử và Mạnh tử đã đề xướng và giảng giải. Phần lớn học thuyết này được chứa đựng trong 2 sách Luận Ngữ và Mạnh Tử và một phần trong sách Trung Dung.
Nên hiểu trong Nho học hay Nho giáo có nhiều học thuyết của nhiều học phái lẫn lộn rất khó phân biệt. Vào thời điểm này, tôi hiểu Nho học gồm có các học phái chính yếu như sau: 1) Khổng Mạnh học, 2) Chu tử học do Chu Hy biên soạn và hệ thống hóa, còn được gọi là Tống nho, 3) Dương Minh học do Vương Dương Minh đề xướng, và 4) Các học thuyết khác.
Thật ra tôi không còn nhớ chính xác động cơ gì đã thúc đẩy tôi tìm hiểu nội dung lý giải Nho học nói chung và Khổng Mạnh học nói riêng của người Nhật Bản như thế nào, vì đã khoảng 5 năm kể từ lúc bắt đầu. Lý do không nhớ rõ là vì tôi đã biết thêm quá nhiều nội dung mới về Nho học như đi vào một khu rừng to lớn và đa dạng với lòng hiếu kỳ.
Nhân dịp cuối năm, trước hết để tổng kết sơ lược các việc đã làm trong các năm vừa qua,nếu không ghi lại, ký ức dần dần càng ngày càng mơ hồ; kế đến để ghi lại kỷ niệm tôi đã cảm nhận và hiểu ra tầm quan trọng của lòng biết ơn trong đạo làm người, nhờ sự tiếp đón và giúp đỡ chân tình của các gia đình và của các người quen vừa cũ vừa mới trong chuyến thăm nước Úc vào tháng 11 năm 2023.
Động cơ chính yếu
Mặc dù không còn nhớ chính xác chi tiết nhưng ý tưởng sau vẫn còn rõ ràng trong đấu óc tôi: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc đều chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng tại sao chỉ có Nhật Bản tiến mạnh tiến nhanh và có nền tảng đạo đức được thế giới chú ý và khen ngợi, trong khi nhiều người Việt Nam hiện nay cho rằng Nho giáo đã lỗi thời, hoặc đã gây nhiều tai hại trong quá khứ? Đó là điểm xuất phát đã thúc đẩy tôi đi tìm hiểu người Nhật Bản học và hiểu Nho giáo như thế nào?
Có thể trước đó hoặc lúc đó tôi chưa chú ý đến Nho giáo mà chỉ muốn tìm hiểu lý do tại sao Nhật Bản có thể tiến mạnh và nhanh, đồng thời có nền tảng đạo đức được nhiều người ngưỡng mộ như nói trên.
Dương Minh học
Điểm thứ hai tôi còn nhớ rõ như sau: phần lớn các chí sĩ tiên tiến trong Minh Trị Duy Tân chịu ảnh hưởng mạnh Nho học, đặc biệt là Dương Minh học, thí dụ như Saigô Takamori(1827-1877), Yoshida Shôin (1830~1859)…. Theo tôi ngay cả Fukuzawa Yukichi (1835~1901) cũng là người chịu ảnh hưởng mạnh của Khổng Mạnh học mặc dù ông chủ trương bãi bỏ Nho học để theo học thuyết của Tây phương (Tây học). Đây là lý do tôi đã chú ý đến Dương Minh học.
Trong quá trình tìm hiểu Dương Minh học tôi biết đến Yasuoka Masahiro安岡正篤(1898~1983), một nhà Hán học lớn của Nhật Bản, người đã đặt ra niên hiệu Heisei (từ năm 1989 đến 2019) cho Nhật Bản. Ông đã nghiên cứu về Vương Dương Minh từ thời đại học.Tôi đã tìm đọc các tác phẩm của ông trong một hai năm.
Tôi lại tìm hiểu Nakae Tôyu中江藤樹 (1608~1648), người được xem là thánh nhân của vùng Ômi近江, ông tiếp nhận Dương Minh học đầu tiên ở Nhật Bản. Điều phải thán phục ông là từ nhỏ ông lập chí thành thánh nhân và đã đạt được ước nguyện này bằng tự học! Ông rất xem trọng đức Hiếu của Nho học. Tôi đã đọc và dịch một phần tác phẩm tiêu biểu của ông là Ông Vấn Đáp. Một ấn tượng sâu sắc của tác phẩm này đối với tôi là ông chủ trương nền tảng của Khổng học xuất phát từ Hiếu. Hiếu là đạo làm người và có thể tóm gọn trong 2 chữ: Ái và Kính. Ông giải thích Ái nghĩa là ứng xử giao tiếp thân thiện tận tình; Kính nghĩa là đối người hoặc cấp bậc trên thì kính trọng, đối với người hoặc cấp bậc dưới thì không khinh rẻ xem thường. Ông cho rằng Khổng tử lấy Hiếu làm gốc, làm nền tảng để truyền đạt đạo làm người là bởi vì đức Hiếu giúp con người dễ hiểu ý nghĩa của Ái và Kính và dễ sớm tu tập nhất từ lúc nhỏ. (Trích một phần Bài 2, Ông Vấn Đáp, quyển thượng (phần đầu)).
Bốn 4 chữ mà Saigô Takamori xem trọng suốt cả đời là “Kính Thiên Ái Nhân”, không biết có chịu ảnh hưởng của Nakae Tôyu không?
Qua kinh nghiệm cuộc đời của tôi, tôi thấy nếu hiểu và áp dụng 2 chữ Ái Kính với ý nghĩa như trên vào đời sống thực tế, tôi tin rằng chắc chắn giúp chúng ta thành công và hạnh phúc.
Tiếp theo là Kumazawa Banzan熊沢蕃山(1619~1691), học trò của Nakae Tôyu. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Tập Nghĩa Hòa Thư (sách tiếng Nhật tập hợp các nội dung về Nghĩa, con đường đúng để làm người) và Tập Nghĩa Ngoại Thư. Một ấn tượng lớn của tôi đối với Tập Nghĩa Hòa Thư là tác giả đã khai triển cụ thể tư tưởng “Thời-Sở-Vị” của Nakae Tôyu (Bài 39, Ông Vấn Đáp quyển thượng (phần sau)): áp dụng hay thực hiện việc gì cũng phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng với lập trường địa vị của mình và của đối tượng hoặc của xã hội, của quốc gia. Fukuzawa Yukichi định nghĩa thông minh là biết áp đúng kiến thức đúng lúc. Điều này cũng làm cho liên tưởng đến việc tìm lời giải thích hợp (Vị) của một phương trình vi phân cho một hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó, lời giải này cần phải thỏa mãn điều kiện biên (Sở) và điều kiện ban đầu (Thời).
Một nhân vật kế tiếp mà tôi đã tìm hiểu là Satô Issai佐藤一斎 (1772~1859), người đã đào tạo nhiều nhân tài cho Minh Trị Duy Tân. Nhân vật mà giới học thuật Nhật Bản cho rằng cái học của ông bên ngoài (dương) là Chu tử học nhưng bên trong (âm) là Dương Minh học, mặc dù ông nói ông theo Chu tử học. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Ngôn Chí Tứ Lục (gồm có 4 quyển được trước tác trong 4 thời kỳ trong cuộc đời của ông: 1) Ngôn Chí Lục gồm 246 điều viết từ lúc 42 tuổi, mất hơn 10 năm để hoàn thành; 2) Ngôn Chí Hậu Lục, gồm 255 điều viết từ lúc 57 tuổi, tốn khoảng 10 năm; 3) Ngôn Chí Vãn Lục, gồm 292 điềuviết từ lúc 67 tuổi trong 12 năm; 4) Ngôn Chí Điệt Lục, gồm 340 điều viết từ lúc 80 tuổi không đầy 2 năm.
Saigô Takamori chọn 101 điều từ 1133 điều để làm sách đầu giường tu thân, với tên “Nam Châu Thủ Lục Ngôn Chí Lục”. Kawakami Masamitsu (1912~1996), Hiệu trưởng đời thứ 10 của đại học Đông Kinh Công Nghiệp (TIT) đã dịch và chú giải toàn bộ sách này. Khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Koizumi Jyun-ichirô (1942~) trích dẫn câu sau trong sách trên đã gây cảm động nhiều dân chúng Nhật Bản: (Đại ý) “Khi trẻ cố gắng học thì lớn lên có thể làm việc quan trọng giúp ích cho xã hội. Khi lớn vẫn không ngừng học tập thì tài năng khi cao tuổi vẫn không suy giảm. Khi cao tuổi vẫn không ngừng học thì sau khi qua đời, việc giúp ích cho xã hội của bản thân được thế hệ sau kế tục.” Cho thấy việc học cần thiết trong cả đời người.
Các sách Nho học tiếng Việt đã tham khảo
Bởi vì chữ Hán khó hiểu và một chữ có nhiều nghĩa, do đó để hiểu đúng và nhanh nội dung sách về Nho học của Nhật Bản tôi cũng tìm đọc trên Internet những tác phẩm về Nho học tiếng Việt Nam như: 1) Luận Ngữ (Phùng Hoài Ngọc biên dịch-chú giải-bàn luận, Đại Học An Giang 2011), 2) Nho Giáo của Trần Trọng Kim, 3) Vương Dương Minh của Trần Trọng Kim, 4) Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu, 5) Khổng Tử và Luận Ngữ của Nguyễn Hiến Lê, 6) Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn, 2010), 7) Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải của Phan Bội Châu, 8) Cửa Khổng (Giảng Khóa Dự Bị Triết Đông Chuyên Biệt Đại Học Văn Khoa Saigon 1963-64) của Kim Định (1965)….
Tuy nhiên, trong các sách tiếng Việt Nam, hầu như tôi chưa đọc hết sách nào vì thấy không hay bằng sách tiếng Nhật Bản hoặc khó hiểu mặc dù hay (như Khổng Học Đăng và Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải).
Lúc đầu tôi thầm trách tại sao cụ Phan Bội Châu không quảng bá Dương Minh học như Nhật Bản nhưng sau khi tìm hiểu thêm nội dung của Khổng Học Đăng tôi mới hiểu tại sao. Một đặc sắc lớn của Dương Minh học khác với Chu tử học (Tống Nho) là ông chủ trương học và hành phải đi đôi. Trong Khổng Học Đăng, cụ Phan Bội Châu vốn đã hiểu học và hành phải đi đôi từ đầu nên tôi nghĩ chủ trương của Vương Dương Minh không có gì mới lạ đối với cụ. Ngoài ra, chủ trương “lương tri” cũng không khác biệt lớn với “lương tâm” của Mạnh tử. Phải chăng đây là lý do?
Qua sách Cửa Khổng của giáo sư Kim Định tôi thấy được độc đáovà tiên tiến của Khổng tử trong giáo dục: tùy năng khiếu, trình độ hiểu biết, tiếp thu của người học mà ông truyền dạy nội dung khác nhau nhưng mục đích giống nhau là giúp ích cho họ tốt hơn. Đồng thời cũng hiểu được tại sao Khổng tử cũng xem trọng Nhạc (âm nhạc).
Chu tử học
Chu Hy朱熹(1130~1200) có công biên soạn ra tứ thư gồm có sách Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung. Ngoài ra, Chu Hy còn giao cho học trò ông là Lưu Tử Đăng 劉子澄 biên soạn sách Tiểu Học cho những người mới bắt đầu học. Sách Cận Tư Lục 近思録 là sách Chu Hy cùng Lữ Tổ Khiêm 呂祖謙 biên soạn từ các trước tác của Chu Liêm Khê, Trương Hoành Cừ, Trình Minh Đạo và Trình Y Xuyên làm sách giáo khoa kế tiếp của sách Tiểu Học. Sau 2 sách này, thứ tự học tứ thư như ghi ở trên, đầu tiên là Đại Học, cuối cùng là Trung Dung. Khác với Chu Hy, Itô Jinsai 伊藤仁斎 (1627~1627) khuyên nên học sách Mạnh Tử trước sách Luận Ngữ.
Một đặc điểm việc học Nho học của Nhật Bản thời xưa nên lưu ý là người học bắt đầu học sách Tiểu Học. Sách này dạy phải quét dọn sạch sẽ, giữ gìn đồ đạc ngăn nắp, v.v… Sách Tiểu Học này hình như không có ở Việt Nam!
Theo sách “La Sơn Phu Tử” của Hoàng Xuân Hãn, vua Quang Trung có giao cho Nguyễn Thiếp dịch sách Tiểu Học và tứ thư nhưng khi dịch xong một phần thì vua qua đời. Theo chú thích của sách trên, sách Tiểu Học là “Dương tiết, Minh tâm, Thuyết ước… Tứ thư là Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.” Căn cứ theo nội dung chú thích này thì sách Tiểu Học có nội dung hình như không giống sách Tiểu Học nói trên ở Nhật Bản, mặc dù sách của Hoàng Xuân Hãn ghi là dịch chứ không phải biên soạn hay trước tác. Tiếc là sách không còn nên không biết như thế nào. Tuy nhiên, sách này đã không được sử dụng trong thực tế nên thiết tưởng dù có tìm hiểu thêm cũng không có ích lợi gì!
Trong bài viết “Lối Học Khoa Cử của Tống Nho có phải là Học Đạo Khổng Mạnh không?” của Huỳnh Thúc Kháng (báo Tiếng Dân, 1931) cho biết các thành quả dịch thuật của Nguyễn Thiếp và những người cộng sự bị triều Nguyễn đem đốt bỏ hết.
Một đặc điểm khác là sách “Cận Tư Lục” hầu như không thấy đề cập đến ở Việt Nam, ngay cả tra trên Internet tiếng Việt ngày nay!
Tóm lại, 2 sách đầu được dùng làm sách giáo khoa cho Nho học ở Nhật Bản không được đề cập ở Việt Nam. Phải chăng đây là một trong những lý do sinh ra khác biệt về ảnh hưởng của Nho học giữa Việt Nam và Nhật Bản. Không biết ở Hàn Quốc 2 sách trên có được sử dụng không?
Võ Sĩ Đạo của Nhật Bản
Trong quá trình tìm hiểu trên có một đàn anh khuyên tôi tìm hiểu võ sĩ đạo của Nhật Bản nên tôi đã tạm ngưng tìm hiểu Dương Minh học. Trong quá trình này, về nhân vật đã tìm hiểu về Saigô Takamori, Ôkubo Toshimichi大久保利通(1830~1878), Katsu Kaishyu勝海舟(1823~1899), Ôkuma Shigenobu大隈重信(1838~ 1922) … Về tác phẩm đã tìm hiểu “Ngũ Luân Thư” của Miyamoto Musashi宮本武蔵(1584~1645),“Võ Sĩ Đạo” của Yamaoka Tesshyu山岡鉄舟(1836~1888), “Diệp Ẩn” của Yamamoto Tsunetomo山本常朝(1659~1719), “Võ Sĩ Đạo” của Nitobe Inazô新渡戸稲造(1862~1933), “Giáp Dương Quân Giám” của Obata Kakenori小幡景憲 (1572~1663), “Luận Ngữ và Bàn Tính” của Shibusawa Eiichi渋沢栄一 (1840~1931), “Võ Sĩ Đạo” của Sagara Tôru相良亨(1921~2000)….
Hiện nay tôi chưa thể đúc kết tương quan giữa Nho học và võ sĩ đạo nhưng có thể nói rằng trong quá trình tiến triển từ thời Edo (sau năm 1603) của võ sĩ đạo chịu ảnh hưởng không nhỏ của Nho học.
Một trong những ấn tưởng lớn của tôi về Diệp Ẩn cũng như trong Nam Châu Ông Di Huấn (nội dung truyền đạt của Saigô Takamori do người của phiên Shônai庄内 ghi chép lại) là người võ sĩ đạo thường ngày suy nghĩ, xem xét sẵn những việc có thể xảy ra trong tương lai và phương sách ứng phó. Do đó, khi việc xảy ra họ có thể ứng phó nhanh chóng và tốt nhất theo họ.
Điểm đáng nể phục của Shibusawa Eiichi là mỗi ngày trước khi ngủ ông đều phản tĩnh, xem xét lại những việc ông đã làm trong ngày. Nếu buổi tối không làm được thì sáng sớm ông làm. Không biết ông bắt đầu từ lúc nào nhưng tiếp tục cho đến khi qua đời. Tôi cho rằng nhờ đức tính này, ông đã xây dựng được sự nghiệp to lớn hữu ích cho Nhật Bản đến mức người Nhật xem ông là cha đẻ xây dựng nền kinh tế tư bản của đất nước họ. Điểm vĩ đại của ông theo tôi là đem đạo đức vào kinh doanh nhưng nội dung giải thích nội dung sách Luận Ngữ của ông không gây cho tôi ấn tượng gì. Do đó tôi đã đặt thêm tựa mới cho tác phẩm “Luận Ngữ và Bàn Tính” của ông là “Đạo Đức và Kinh Doanh”.