Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975 rất hay, rất có dụng ý rất có ý nghĩa. Người đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn, nếu để ý tụi bây sẽ thấy cả một chiều dài văn minh 4000 năm lịch sử của nước Việt trên từng bước chân:
Gò Vấp: Nguyên là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây này thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP.HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương, sau này người dân đọc chệch đi thành Gò Vấp.
Hóc Môn: Chữ hóc là âm cổ của hói, chỉ dòng nước nhỏ, môn là cây môn nước, hàm nghĩa là dòng nước nhỏ có nhiều cây môn mọc quanh.
Tên Các Con Đường Bắt Đầu Bằng Ông Hoặc Bà: Người Sài Gòn xưa hay đặt cho con rạch, chiếc cầu, một địa danh, một con đường, con hẻm một cái tên hoặc bà hoặc ông trước là dễ nhớ, sau là ghi lại công tích của người đó góp cho dân trong vùng.Ví dụ: đường Bà Lài - Q6, Bà Quẹo - Tân Bình, Bà Ký... Ông Lãnh, Ông Tố...
Đường Văn Thánh - Bình Thạnh: Thời xưa tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt cho xây miếu Văn Thánh là miếu thờ ông Thánh về văn hóa tức Khổng Tử để khuyến khích việc học hành.
Đường Nhiêu Tứ - Phú Nhuận: Trước là đường hẻm, vì bên đường có nhà ông Nhiêu Tứ, nên dân chúng quen gọi đường Nhiêu Tứ.
Đường Nguyễn Văn Đậu - Bình Thạnh: Ông là vị linh mục được người dân yêu mến và kính nể vì nhiều việc làm giúp đỡ dân chúng. Ông mất năm 2001. Thời Pháp thuộc đây là đường làng số 20. Ngày 8-2-1955 đặt tên đường Ngô Tùng Châu. Ngày 4-4-1985 đổi là đường Nguyễn Văn Đậu cho đến nay.
Đường Alexandre de Rhodes - Q.1: Alexandre de Rhodes là tên thật của Linh mục Đắc Lộ - tên tiếng việt do ông tự chọn, một nhà truyền giáo và nhà ngôn ngữ học. Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La -quyển từ điển quốc ngữ lâu đời nhất mà hiện nay còn giữ lại được, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Việt Nam có thể coi là quê hương thứ hai của Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Năm 1645, ông bị Chúa Nguyễn trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam và mất 15 năm sau đó tại Ba Tư. Đường Alexandre de Rhodes là một trong các đường xưa nhất Sài Gòn. Thời Pháp thuộc có tên là đường Paracels - Hoàng Sa, đến ngày 16-10-1871 đổi lại là đường Colombert. Từ ngày 22-3-1955 đổi là đường Alexandre de Rhodes. Đến ngày 4-4-1985thành phố đổi là đường Thái Văn Lung. Sau này lấy lại tên Alexandre de Rhodes thành tên chính thức.
Đường Bùi Thị Xuân - Q.1: Bùi Thị Xuân là một trong Tây Sơn ngũ phụng thư, là vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một Đô đốc của vương triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Đường này có từ thời Pháp thuộc, ngày 12-2-1914 đặt tên là đường Duranton. Sau năm 1954, đổi tên là Bùi Thị Xuân.
Đường Bùi Viện - Q.1: Bùi Viện, hiệu Mạnh Dực, là một nhà cải cách, nhà ngoại giao của Việt Nam cuối thế kỷ 19, làm quan dưới triều nhà Nguyễn, người có công lớn trong việc xây dựng cảng Hải Phòng, lập ra Tuần dương quân - lực lượng hải quân thường trực gồm 200 chiến thuyền và 2.000 quân thủy thiện chiến. Ông là người đã đáp tàu sang Nhật Bản để qua Mỹ tìm đồng minh chống lại thực dân Pháp và đã được tổng thống Hoa Kỳ Ulysses Grant đồng ý nhưng ông không mang theo quốc thư nên không thể có 1 cam kết chính thức. Sau này ông quay về VN có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức và quay trở lại Mỹ đàm phán thì lúc đó Pháp và Mỹ lại trở thành đồng minh nên ông bị từ chối. Ông về nước và chẳng bao lâu thì mất đột ngột khi chưa đầy 40 tuổi.Đường Bùi Viện trước đây là đường mòn làng Tân Hòa từ trước năm 1949, ngày 20-1-1950 chính quyền Bảo Đại đặt tên là đường Bảo Hộ Thọai. Đến ngày 6-10-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi là đường Bùi Viện.
Đường Calmette - Q.1: Léon Charles Albert Calmette (12 tháng 7 năm 1863 – 29 tháng 10 năm 1933) là một bác sĩ, một nhà vi khuẩn học, miễn dịch học người Pháp và là một thành viên quan trọng của viện Pasteur (tiếng Pháp: Institut Pasteur). Ông nổi tiếng nhờ công trình nghiên cứu vắc xin chống bệnh lao. Đường này ban đầu mang số 32. Từ ngày 14-5-1877, chính quyền thuộc địa Pháp lấy tên là đường Bourdais, đến ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên là đường Calmette.
Đường Mã Lộ - Q.1: Thủa xưa khi phương tiện di chuyển chính của Sài Gòn là xe ngựa, các phu xe sau khi xuống hàng và khách thì cho xe và ngựa tập trung ở đoạn đường này, lấy cỏ cho ngựa ăn, chờ tan chợ lại đón khách và hàng trở về. Do đó, người ta gọi là đường Mã Lộ- đường của ngựa. Đường này nhỏ nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định năm 1928. Thời Pháp thuộc gọi là đường Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955 đổi là đường Mã Lộ cho đến nay.
Đường Cao Bá Nhạ - Q.1: Cao Bá Nhạ là cháu của Cao Bá Quát và là một người giỏi văn chương. Năm 1855, sau khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do Cao Bá Quát lãnh đạo thất bại, dòng họ Cao chịu hình phạt tru di tam tộc, ông phải cải dạng đổi tên chạy trốn khắp nơi. Cuối cùng, ông ẩn cư ở vùng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông kiếm sống bằng nghề dạy học. Ở đây, ông lấy vợ sinh con,nhưng chỉ sống yên ấm được khoảng tám năm thì bị tố giác và bị bắt. Trong ngục, Cao Bá Nhạ viết một bài biểu trần tình và một khúc ngâm trình lên nhà cầm quyền để tự minh oan cho mình, nhưng vẫn bị triều đình Huế đày lên Quảng Bình và rồi chết ở đấy. Đường Cao Bá Nhạ này trước năm 1919 là một hẻm nhỏ có tên là đường Abattoire de Cầu Kho. Từ năm 1920 đổi tên là đường Le Man. Sau năm 1954 gọi là đường Cao Bá Nhạ cho đến ngày nay.
Đường Cô Giang - Q.1: Cô Giang là tên gọi khác bà Nguyễn Thị Giang, nhà cách mạng người Việt chống thực dân Pháp và là hôn thê của Nguyễn Thái Học - lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bà là tổng thư ký của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nguyễn Thái Học đã tặng cho bà khẩu súng và bà đã nói: "Nếu Học chẳng may chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!" Khi chồng bị bắt, bà đã lên kế hoạch tấn công nhà tù Hoả Lò để giải cứu chồng cùng em gái bà là Cô Bắc và những người khác nhưng chưa kịp thực hiện thì Nguyễn Thái Học đã bị xử chém. Bà đã tự sát bằng chính khẩu súng của chồng tặng ngay sau đó. Nghe tin Cô Giang tự sát, quân Pháp lập tức có mặt để nhận dạng. Biết đúng là cô, họ liền ra lệnh chôn, rồi đặt điếm canh để không ai được đến thắp hương. Tuy nhiên, theo Lê Minh Quốc, thì "trên mồ của người nữ cách mạng này bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm".
Đường Cô Bắc - Q.1: Cô Bắc tên thật là Nguyễn Thị Bắc là em gái của Cô Giang. Bà là một trong những nhà lãnh đạo của khởi nghĩa Yên Bái. Chính bà đã cùng một số phụ nữ khác đưa bom từ làng Xuân Lũng (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) lên tàu lửa đi Yên Bái để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tháng 2 năm 1930. Khởi nghĩa Yên Bái bất thành, bà cùng các đồng chí bị bắt và bị đưa ra trước Hội đồng đề hình xét xử ngày 28 tháng 3 năm 1930 tại Yên Bái và bị kết án 5 năm cấm cố. Trước Hội đồng đề hình, bà tuyên bố: ''Các người hãy về ngay nước Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Arc đi thôi!" Trước năm 1920 đường Cô Bắc chỉ là một đường đất, lúc đầu mang tên là đường số 9. Từ ngày 23-1-1943 chính quyền thuộc địa Pháp gọi là đường Monseigneur Dumortier. Sau ngày 22-3-1955 đổi tên mới gọi là đường Cô Bắc.
Đường Cống Quỳnh - Q.1: Nguyễn Quỳnh là một danh sĩ thời vua Lê Hiển Tông, từng thi đỗ Hương Cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. Đường Cống Quỳnh có từ thời Pháp thuộc, lúc đầu hợp với đường Hùynh Quang Tiên cũ thành một đường gọi là Blancsubé Cầu Kho. Ngày 26-4-1920 tách ra đoạn hiện nay gọi là đường D'Arras. Từ ngày 22-3-1955 đổi tên là đường Cống Quỳnh như hiện nay.
Gò Vấp: Nguyên là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây này thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP.HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương, sau này người dân đọc chệch đi thành Gò Vấp.
Hóc Môn: Chữ hóc là âm cổ của hói, chỉ dòng nước nhỏ, môn là cây môn nước, hàm nghĩa là dòng nước nhỏ có nhiều cây môn mọc quanh.
Tên Các Con Đường Bắt Đầu Bằng Ông Hoặc Bà: Người Sài Gòn xưa hay đặt cho con rạch, chiếc cầu, một địa danh, một con đường, con hẻm một cái tên hoặc bà hoặc ông trước là dễ nhớ, sau là ghi lại công tích của người đó góp cho dân trong vùng.Ví dụ: đường Bà Lài - Q6, Bà Quẹo - Tân Bình, Bà Ký... Ông Lãnh, Ông Tố...
Đường Văn Thánh - Bình Thạnh: Thời xưa tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt cho xây miếu Văn Thánh là miếu thờ ông Thánh về văn hóa tức Khổng Tử để khuyến khích việc học hành.
Đường Nhiêu Tứ - Phú Nhuận: Trước là đường hẻm, vì bên đường có nhà ông Nhiêu Tứ, nên dân chúng quen gọi đường Nhiêu Tứ.
Đường Nguyễn Văn Đậu - Bình Thạnh: Ông là vị linh mục được người dân yêu mến và kính nể vì nhiều việc làm giúp đỡ dân chúng. Ông mất năm 2001. Thời Pháp thuộc đây là đường làng số 20. Ngày 8-2-1955 đặt tên đường Ngô Tùng Châu. Ngày 4-4-1985 đổi là đường Nguyễn Văn Đậu cho đến nay.
Đường Alexandre de Rhodes - Q.1: Alexandre de Rhodes là tên thật của Linh mục Đắc Lộ - tên tiếng việt do ông tự chọn, một nhà truyền giáo và nhà ngôn ngữ học. Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La -quyển từ điển quốc ngữ lâu đời nhất mà hiện nay còn giữ lại được, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Việt Nam có thể coi là quê hương thứ hai của Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Năm 1645, ông bị Chúa Nguyễn trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam và mất 15 năm sau đó tại Ba Tư. Đường Alexandre de Rhodes là một trong các đường xưa nhất Sài Gòn. Thời Pháp thuộc có tên là đường Paracels - Hoàng Sa, đến ngày 16-10-1871 đổi lại là đường Colombert. Từ ngày 22-3-1955 đổi là đường Alexandre de Rhodes. Đến ngày 4-4-1985thành phố đổi là đường Thái Văn Lung. Sau này lấy lại tên Alexandre de Rhodes thành tên chính thức.
Đường Bùi Thị Xuân - Q.1: Bùi Thị Xuân là một trong Tây Sơn ngũ phụng thư, là vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một Đô đốc của vương triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Đường này có từ thời Pháp thuộc, ngày 12-2-1914 đặt tên là đường Duranton. Sau năm 1954, đổi tên là Bùi Thị Xuân.
Đường Bùi Viện - Q.1: Bùi Viện, hiệu Mạnh Dực, là một nhà cải cách, nhà ngoại giao của Việt Nam cuối thế kỷ 19, làm quan dưới triều nhà Nguyễn, người có công lớn trong việc xây dựng cảng Hải Phòng, lập ra Tuần dương quân - lực lượng hải quân thường trực gồm 200 chiến thuyền và 2.000 quân thủy thiện chiến. Ông là người đã đáp tàu sang Nhật Bản để qua Mỹ tìm đồng minh chống lại thực dân Pháp và đã được tổng thống Hoa Kỳ Ulysses Grant đồng ý nhưng ông không mang theo quốc thư nên không thể có 1 cam kết chính thức. Sau này ông quay về VN có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức và quay trở lại Mỹ đàm phán thì lúc đó Pháp và Mỹ lại trở thành đồng minh nên ông bị từ chối. Ông về nước và chẳng bao lâu thì mất đột ngột khi chưa đầy 40 tuổi.Đường Bùi Viện trước đây là đường mòn làng Tân Hòa từ trước năm 1949, ngày 20-1-1950 chính quyền Bảo Đại đặt tên là đường Bảo Hộ Thọai. Đến ngày 6-10-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi là đường Bùi Viện.
Đường Calmette - Q.1: Léon Charles Albert Calmette (12 tháng 7 năm 1863 – 29 tháng 10 năm 1933) là một bác sĩ, một nhà vi khuẩn học, miễn dịch học người Pháp và là một thành viên quan trọng của viện Pasteur (tiếng Pháp: Institut Pasteur). Ông nổi tiếng nhờ công trình nghiên cứu vắc xin chống bệnh lao. Đường này ban đầu mang số 32. Từ ngày 14-5-1877, chính quyền thuộc địa Pháp lấy tên là đường Bourdais, đến ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên là đường Calmette.
Đường Mã Lộ - Q.1: Thủa xưa khi phương tiện di chuyển chính của Sài Gòn là xe ngựa, các phu xe sau khi xuống hàng và khách thì cho xe và ngựa tập trung ở đoạn đường này, lấy cỏ cho ngựa ăn, chờ tan chợ lại đón khách và hàng trở về. Do đó, người ta gọi là đường Mã Lộ- đường của ngựa. Đường này nhỏ nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định năm 1928. Thời Pháp thuộc gọi là đường Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955 đổi là đường Mã Lộ cho đến nay.
Đường Cao Bá Nhạ - Q.1: Cao Bá Nhạ là cháu của Cao Bá Quát và là một người giỏi văn chương. Năm 1855, sau khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do Cao Bá Quát lãnh đạo thất bại, dòng họ Cao chịu hình phạt tru di tam tộc, ông phải cải dạng đổi tên chạy trốn khắp nơi. Cuối cùng, ông ẩn cư ở vùng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông kiếm sống bằng nghề dạy học. Ở đây, ông lấy vợ sinh con,nhưng chỉ sống yên ấm được khoảng tám năm thì bị tố giác và bị bắt. Trong ngục, Cao Bá Nhạ viết một bài biểu trần tình và một khúc ngâm trình lên nhà cầm quyền để tự minh oan cho mình, nhưng vẫn bị triều đình Huế đày lên Quảng Bình và rồi chết ở đấy. Đường Cao Bá Nhạ này trước năm 1919 là một hẻm nhỏ có tên là đường Abattoire de Cầu Kho. Từ năm 1920 đổi tên là đường Le Man. Sau năm 1954 gọi là đường Cao Bá Nhạ cho đến ngày nay.
Đường Cô Giang - Q.1: Cô Giang là tên gọi khác bà Nguyễn Thị Giang, nhà cách mạng người Việt chống thực dân Pháp và là hôn thê của Nguyễn Thái Học - lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bà là tổng thư ký của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nguyễn Thái Học đã tặng cho bà khẩu súng và bà đã nói: "Nếu Học chẳng may chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!" Khi chồng bị bắt, bà đã lên kế hoạch tấn công nhà tù Hoả Lò để giải cứu chồng cùng em gái bà là Cô Bắc và những người khác nhưng chưa kịp thực hiện thì Nguyễn Thái Học đã bị xử chém. Bà đã tự sát bằng chính khẩu súng của chồng tặng ngay sau đó. Nghe tin Cô Giang tự sát, quân Pháp lập tức có mặt để nhận dạng. Biết đúng là cô, họ liền ra lệnh chôn, rồi đặt điếm canh để không ai được đến thắp hương. Tuy nhiên, theo Lê Minh Quốc, thì "trên mồ của người nữ cách mạng này bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm".
Đường Cô Bắc - Q.1: Cô Bắc tên thật là Nguyễn Thị Bắc là em gái của Cô Giang. Bà là một trong những nhà lãnh đạo của khởi nghĩa Yên Bái. Chính bà đã cùng một số phụ nữ khác đưa bom từ làng Xuân Lũng (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) lên tàu lửa đi Yên Bái để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tháng 2 năm 1930. Khởi nghĩa Yên Bái bất thành, bà cùng các đồng chí bị bắt và bị đưa ra trước Hội đồng đề hình xét xử ngày 28 tháng 3 năm 1930 tại Yên Bái và bị kết án 5 năm cấm cố. Trước Hội đồng đề hình, bà tuyên bố: ''Các người hãy về ngay nước Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Arc đi thôi!" Trước năm 1920 đường Cô Bắc chỉ là một đường đất, lúc đầu mang tên là đường số 9. Từ ngày 23-1-1943 chính quyền thuộc địa Pháp gọi là đường Monseigneur Dumortier. Sau ngày 22-3-1955 đổi tên mới gọi là đường Cô Bắc.
Đường Cống Quỳnh - Q.1: Nguyễn Quỳnh là một danh sĩ thời vua Lê Hiển Tông, từng thi đỗ Hương Cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. Đường Cống Quỳnh có từ thời Pháp thuộc, lúc đầu hợp với đường Hùynh Quang Tiên cũ thành một đường gọi là Blancsubé Cầu Kho. Ngày 26-4-1920 tách ra đoạn hiện nay gọi là đường D'Arras. Từ ngày 22-3-1955 đổi tên là đường Cống Quỳnh như hiện nay.
Sửa lần cuối:

