Vậy nên tao mới nói tụi mày mắc bệnh adua đám đông, chứ thực ra không phân biệt ra cái gì thực tế tụi mày đang học.Đức Thích Ca cũng gọi các đệ tử của mình là thầy,người truyền được đam mê và kiến thức của họ cho người khác đã là thầy rồi. Mày lội các bài thầy Minh Tuệ khi xưa tao ko bao giờ dùng thầy mà chỉ gọi Minh Tuệ, qua Thailand có người đi hỏi thầy ( đó chính là muốn học hỏi kiến thức của thầy ) nên tao gọi là thầy Minh Tuệ.
Tâm mày nhỏ hẹp lắm, đừng nên bàn đạo Phật hay Phật pháp. Cứ theo pháp tu của mày đi.Lòng người luôn tin tưởng vào cái mình nghe và hiểu và nó như 1 ngọn núi chắn tầm nhìn của mày đó. Nhưng mày không sai,đó là pháp tu của mày thuộc lòng giáo điều và vận hành, đừng báng bổ người khác là được.
Đã ngu còn sủa.Vậy nên tao mới nói tụi mày mắc bệnh adua đám đông, chứ thực ra không phân biệt ra cái gì thực tế tụi mày đang học.
Thấy người ta gọi là thầy thì cũng hùa theo gọi là thầy, dù không chung con đường học đạo với mình.
Tụi mày chỉ thích nghe ông Minh Tuệ nói, nhưng lấy sách Phật Thích Ca thì lại lười đọc, lười phân tích.
Tao trích lời Phật Thích Ca cho mày rõ:
Đức Phật nói:
- Này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Như Lai là bậc A La Hán, là bậc giác ngộ. Như Lai đã giải thoát, đã dập tắt mọi ái thủ, đã chiến thắng vô minh, đã dừng lại luân hồi. Và như vậy, này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả.
Này các tỳ kheo, có một con đường ở giữa tránh khỏi cực đoan hai bên sai lầm. Cực đoan thứ nhất là sống hưởng thụ ngũ dục, hưởng hết phước quá khứ của mình, vùi tâm hồn trong cấu uế, làm tăng trưởng khát ái dục tham, nuôi lớn ngã chấp vô minh.
Này các tỳ kheo, cực đoan thứ hai là sống ép xác khổ hạnh vô ích. Các ông đã từng nói Như Lai thực hành khổ hạnh mà trước kia chưa bao giờ có ai làm nổi. Và thật sự sau này cũng không có ai có thể làm nổi. Như Lai đã đến ranh giới của cái chết vì khổ hạnh tột cùng, nhưng sự giác ngộ vẫn không xuất hiện. Điều đó chứng tỏ rằng khổ hạnh không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Cả hai cực đoan, hưởng thụ hay khổ hạnh, đều không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Các ông hãy hiểu rõ điều này.
![]()
Thay vì ngồi cầm sách Phật Thích Ca ra đọc, phân tích, nghiền ngẫm thì tụi mày lại thích xem video truyền hình thực tế Minh Tuệ để hóng chuyện, xem drama rồi phán xét Youtuber này tốt, Youtuber kia không tốt. Ông Minh Tuệ đâu phải nhà sư, thầy đúng nghĩa, ông ấy là vận động viên Maraton.
@atlas05 sẽ chỉ cho mày các pháp tu, tao sẽ chỉ cho mày tâm tính khi đi tu.Vậy nên tao mới nói tụi mày mắc bệnh adua đám đông, chứ thực ra không phân biệt ra cái gì thực tế tụi mày đang học.
Thấy người ta gọi là thầy thì cũng hùa theo gọi là thầy, dù không chung con đường học đạo với mình.
Tụi mày chỉ thích nghe ông Minh Tuệ nói, nhưng lấy sách Phật Thích Ca thì lại lười đọc, lười phân tích.
Tao trích lời Phật Thích Ca cho mày rõ:
Đức Phật nói:
- Này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Như Lai là bậc A La Hán, là bậc giác ngộ. Như Lai đã giải thoát, đã dập tắt mọi ái thủ, đã chiến thắng vô minh, đã dừng lại luân hồi. Và như vậy, này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả.
Này các tỳ kheo, có một con đường ở giữa tránh khỏi cực đoan hai bên sai lầm. Cực đoan thứ nhất là sống hưởng thụ ngũ dục, hưởng hết phước quá khứ của mình, vùi tâm hồn trong cấu uế, làm tăng trưởng khát ái dục tham, nuôi lớn ngã chấp vô minh.
Này các tỳ kheo, cực đoan thứ hai là sống ép xác khổ hạnh vô ích. Các ông đã từng nói Như Lai thực hành khổ hạnh mà trước kia chưa bao giờ có ai làm nổi. Và thật sự sau này cũng không có ai có thể làm nổi. Như Lai đã đến ranh giới của cái chết vì khổ hạnh tột cùng, nhưng sự giác ngộ vẫn không xuất hiện. Điều đó chứng tỏ rằng khổ hạnh không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Cả hai cực đoan, hưởng thụ hay khổ hạnh, đều không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Các ông hãy hiểu rõ điều này.
![]()
Thay vì ngồi cầm sách Phật Thích Ca ra đọc, phân tích, nghiền ngẫm thì tụi mày lại thích xem video truyền hình thực tế Minh Tuệ để hóng chuyện, xem drama rồi phán xét Youtuber này tốt, Youtuber kia không tốt. Ông Minh Tuệ đâu phải nhà sư, thầy đúng nghĩa, ông ấy là vận động viên Maraton.
Đây đâu phải là tu chân chính, đây là môn học: "Kiểm tra khả năng chịu đựng của con người" hay môn chạy Maraton.Tao chỉ biết ô Tú chưa bao giờ nhận là thầy hay sư , ô Tú chỉ nói ô Tú đang HỌC TU , GHPGVN cũng thông báo công dân Lê Anh Tú ko phải là sư ! Còn Ô Tú vì sao người ta tôn trọng vì éo phải bằng cấp hay nói pháp , nói giới luật gì hết , người ta chỉ thấy sự chân thật của 1 người TU CHÂN CHÍNH ! Cái thằng thích đi lính , măc đồ lính chứ ko phải là lính , nên đừng bắt phải thuộc lời thề qn , chấp hành các chế độ của qn rồi quy chụp thằng này éo phải là lính , ko giữ dc các chế độ của lính
Đức Phật nói:
- Này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Như Lai là bậc A La Hán, là bậc giác ngộ. Như Lai đã giải thoát, đã dập tắt mọi ái thủ, đã chiến thắng vô minh, đã dừng lại luân hồi. Và như vậy, này các tỳ kheo, đừng gọi Như Lai là Hiền giả.
Này các tỳ kheo, có một con đường ở giữa tránh khỏi cực đoan hai bên sai lầm. Cực đoan thứ nhất là sống hưởng thụ ngũ dục, hưởng hết phước quá khứ của mình, vùi tâm hồn trong cấu uế, làm tăng trưởng khát ái dục tham, nuôi lớn ngã chấp vô minh.
Này các tỳ kheo, cực đoan thứ hai là sống ép xác khổ hạnh vô ích. Các ông đã từng nói Như Lai thực hành khổ hạnh mà trước kia chưa bao giờ có ai làm nổi. Và thật sự sau này cũng không có ai có thể làm nổi. Như Lai đã đến ranh giới của cái chết vì khổ hạnh tột cùng, nhưng sự giác ngộ vẫn không xuất hiện. Điều đó chứng tỏ rằng khổ hạnh không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Cả hai cực đoan, hưởng thụ hay khổ hạnh, đều không phải là con đường đưa đến giác ngộ. Các ông hãy hiểu rõ điều này.
Mày nói tu hạnh đầu đà là từ bà la môn có bằng chứng gì không?Đây đâu phải là tu chân chính, đây là môn học: "Kiểm tra khả năng chịu đựng của con người" hay môn chạy Maraton.
Thật sự nó chả liên quan gì đến PG cả.
Nguồn gốc của Tu Hạnh Đầu Đà nó bắt nguồn từ Đạo Bà La Môn, với quan niệm sống là 1 cái tội, nên phải tự ép xác bản thân để trả nghiệp đời trước thì mới vượt qua vòng luân hồi.
Phật Thích Ca cũng vì tôn giáo đang thịnh hành thời đó này mà thử, nhưng kết quả ông ấy bỏ cuộc nên mới nảy ra 1 sáng kiến mới là có thể vượt qua vòng luân hồi bằng cách làm từ thiện để trả nghiệp trước, việc tu ép xác khắc khổ là con đường sai lầm.
Cũng chính vì sáng kiến này của Phật Thích Ca nên lôi kéo nhiều người trong nhóm Tu Hạnh Đầu Đà vào rừng nghe mình giảng , dẫn đến mâu thuẫn với nhóm Tu Hạnh Đầu Đà cực đoan, xa hơn là mâu thuẫn với Đạo Bà La Môn.
Công lao của Phật Thích Ca là xóa bỏ văn hóa Tu Hạnh Đầu Đà đang thịnh hành thời đó ở đất nước ông, mở ra 1 tư duy mới cho dân của mình là dừng mấy trò khổ hạnh ép xác để thay thế bằng cách làm việc thiện, tích đức.
Việc ông Minh Tuệ hoặc một số người hiện nay đang quay về Tu Hạnh Đầu Đà là quay trở ngược lại với văn hóa mà Phật Thích Ca đã nổ lực xóa bỏ.
Ông Minh Tuệ sau khi đi nghĩa vụ 2 năm, đi làm, rồi xin vào chùa tu thân 1 năm rồi sau đó là hành trình đi bộ thì ông ấy đã nắm được những kiến thức PG qua đào tạo chính quy gì đâu mà hiểu rõ. Ông MT vừa đi Tu Hạnh Đầu Đà vừa thêm mắm muối các câu Phật giáo vào cho nó hợp lý mình là người thuộc đạo Phật.
Thực tế nó xung khắc với đạo Phật.
![]()
Đã ngu còn sủa.
Mày biết khổ hạnh của Thích Ca từ bỏ và 13 hạnh đầu đà khác nhau thế nào không?
Dhutanga (Hạnh đầu đà) có nghĩa là “rũ bỏ” Trong Đại Tạng Kinh có nhắc đến danh từ “Hạnh Đầu Đà” nhưng 13 (Nam Tông) hay 12 (Bắc Tông) đều không được ghi trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm.Mày nói tu hạnh đầu đà là từ bà la môn có bằng chứng gì không?
Những gì mày nói có bằng chứng gì không?Dhutanga (Hạnh đầu đà) có nghĩa là “rũ bỏ” Trong Đại Tạng Kinh có nhắc đến danh từ “Hạnh Đầu Đà” nhưng 13 (Nam Tông) hay 12 (Bắc Tông) đều không được ghi trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm.
Thật ra phải hiểu về thời đó, đạo Phật chưa ra đời thì Hạnh đầu đà hoặc cao hơn nữa là Khổ Hạnh đã được hầu hết các vị Bà La Môn thực hành nghiêm mật. Ngày nay, ở Việt Nam dư luận truyền thông quá coi trọng nhưng ở Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ việc thực hành Đầu Đà vẫn có vô số vị, tác giả cũng đã từng gặp cả đoàn hàng trăm hành giả đầu đà.
==> Khổ hạnh của Thích Ca từ bỏ và 13 hạnh đầu đà là 1 và là thuộc gốc rễ đạo Bà La Môn.
Để tao nói rõ hơn cho mày biết:
Hạnh đầu đà hay Khổ hạnh đầu đà tùy theo cách dịch vùng miền VN, nó là 1 phần của đạo Bà La Môn thời đấy. Nó thịnh hành đến mức là 1 phần văn hóa của các quốc gia Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có quê hương Phật Thích Ca.
Tâm tưởng của loại đạo hạnh này là càng ép xác càng tốt, để giải nghiệp. Nên thời đó dân chúng trong đất nước của Thích Ca đua nhau đi theo trend này, người nào càng khắc khổ thì họ càng tôn sùng như thần thánh, cũng giống văn hóa 1 số vùng Ấn Độ ngày nay. Vì văn hóa này nên dân chúng không lo tăng gia sản xuất mà chỉ biết đua trend khắc khổ xem ai khổ hơn ai, thành ra dân chúng trong quốc gia cứ khổ lại càng thêm khổ.
Sau đó ông Thích Ca mới đưa ra 1 lý thuyết mới là Làm từ thiện cũng là cách giải nghiệp.
Ông Thích Ca không nói thẳng tu hạnh đầu đà là sai lầm, vì như thế chả khác nào nói những người kia sai lầm, nên chỉ nói lấp lửng không khuyến khích. Nhưng bấy nhiêu cũng đủ đụng chạm đến những người đang tu hạnh đầu đà và dẫn đến nhiều phái này ghét muốn loại trừ Phật Thích Ca.
Trong số những người theo Phật Thích Ca có nhiều người từ phái Tu Hạnh Đầu Đà chuyển sang và những người dân thường ngoại đạo đi theo.
Trong đó có Đại Ca Diếp là người nổi tiếng đã tu hạnh đầu đà nửa đời người xin chuyển sang, xem Thích Ca là thầy, là Phật.
Phật Thích Ca thấy Diệp cũng là nhân vật có số má bên Hạnh Đầu Đà nên mừng rỡ liền cho ông làm Đại Đệ Tử. Bọn Tu Hạnh Đầu Đà thấy vậy càng thêm tức.
Ông Đại Ca Diếp tu theo Phật Thích Ca 1 thời gian, không biết do thẹn với phái Hạnh Đầu Đà hay muốn giữ lại cả 2 để chắc ăn lên Niết Bàn mà thưa với Phật Thích Ca muốn tiếp tục Hạnh Đầu Đà mà trước đây ông dang dở.
Phật Thích Ca thấy ổng quyết tâm như vậy nên cũng lấp lửng không khuyến khích. Chỉ khuyên các đệ tử còn lại không nên.
Về sau Tu Hạnh Đầu Đà chỉ còn là những ghi chép, nhắc sơ qua trong Đại Tạng Kinh tóm tắt định nghĩa Hạnh Đầu Đà gồm 13 hạnh cần phải có thì mới gọi là Hạnh Đầu Đà, chứ không nói Hạnh Đầu Đà lên Niết Bàn. Họ viết vậy để người đọc hiểu về Hạnh Đầu Đà thời đấy.
Nhưng những Phật tử trẻ tuổi, mới chập chững bước vào Phật học, mới đọc vài ý trong đó đã liền tạo ra 1 phép tu Hạnh Đầu Đà để lên Niết Bàn, rồi sau đó lại tạo Trend xem ai giữ giới hơn ai thì người đó sẽ đắc , mà họ không đọc hết sách Phật để xem những lời dẫn ở phía sau.
Ông Minh Tuệ cũng là 1 dạng như vậy. Ông Minh Tuệ khi còn làm nhà nước và đi xuất gia 1 thời gian ngắn thì chỉ đọc qua vài con chữ trong sách Phật, không có ai đào tạo trường lớp từ cơ bản đến nâng cao nên dễ sinh ra hiểu sai lời Phật Thích Ca.
Bao nhiêu nhà nghiên cứu PG có bằng cấp tiến sĩ, giáo sư hoặc học PG cả đời, họ cũng thấy rất ít tài liệu nói về Hạnh Đầu Đà vì nó đi ngược với PG nên không đề cập.
Minh Tuệ vì lòng tò mò, thấy có nhắc đến Hạnh Đầu Đà nên nghĩ đây mới là con đường giác ngộ nên liền thực hành. Sách Phật đọc đến trang có chữ Hạnh Đầu Đà thì liền dừng lại, đi tìm cách tu Hạnh Đầu Đà mà học theo.
Các con nhang ở dưới, cả đời chưa đọc sách Phật bao giờ thấy có ông Minh Tuệ tu khắc khổ liền cho rằng cả giáo hội PGVN đều sai nên đua trend theo Youtuber với ông Tuệ. Tuệ nói gì cũng nghe răm rắp, nhưng đến ngày mai thì quên sạch.
==> Nhưng bọn họ đâu biết rằng mình đang đi theo cái sai lỗi thời của văn hóa thời đấy mà Phật Thích Ca đang muốn kéo dân tộc mình ra khỏi vùng trũng để đi lên.
Ê, mày nhờ tao fact check thông tin về Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) đúng không? Tao sẽ phân tích từng điểm mày đưa ra xem đúng sai thế nào, dựa trên dữ liệu từ kinh điển Phật giáo và bối cảnh lịch sử. Chuẩn bị tinh thần nghe tao "bóc phốt" từng ý nha!Dhutanga (Hạnh đầu đà) có nghĩa là “rũ bỏ” Trong Đại Tạng Kinh có nhắc đến danh từ “Hạnh Đầu Đà” nhưng 13 (Nam Tông) hay 12 (Bắc Tông) đều không được ghi trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm.
Thật ra phải hiểu về thời đó, đạo Phật chưa ra đời thì Hạnh đầu đà hoặc cao hơn nữa là Khổ Hạnh đã được hầu hết các vị Bà La Môn thực hành nghiêm mật. Ngày nay, ở Việt Nam dư luận truyền thông quá coi trọng nhưng ở Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ việc thực hành Đầu Đà vẫn có vô số vị, tác giả cũng đã từng gặp cả đoàn hàng trăm hành giả đầu đà.
==> Khổ hạnh của Thích Ca từ bỏ và 13 hạnh đầu đà là 1 và là thuộc gốc rễ đạo Bà La Môn.
Để tao nói rõ hơn cho mày biết:
Hạnh đầu đà hay Khổ hạnh đầu đà tùy theo cách dịch vùng miền VN, nó là 1 phần của đạo Bà La Môn thời đấy. Nó thịnh hành đến mức là 1 phần văn hóa của các quốc gia Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có quê hương Phật Thích Ca.
Tâm tưởng của loại đạo hạnh này là càng ép xác càng tốt, để giải nghiệp. Nên thời đó dân chúng trong đất nước của Thích Ca đua nhau đi theo trend này, người nào càng khắc khổ thì họ càng tôn sùng như thần thánh, cũng giống văn hóa 1 số vùng Ấn Độ ngày nay. Vì văn hóa này nên dân chúng không lo tăng gia sản xuất mà chỉ biết đua trend khắc khổ xem ai khổ hơn ai, thành ra dân chúng trong quốc gia cứ khổ lại càng thêm khổ.
Sau đó ông Thích Ca mới đưa ra 1 lý thuyết mới là Làm từ thiện cũng là cách giải nghiệp.
Ông Thích Ca không nói thẳng tu hạnh đầu đà là sai lầm, vì như thế chả khác nào nói những người kia sai lầm, nên chỉ nói lấp lửng không khuyến khích. Nhưng bấy nhiêu cũng đủ đụng chạm đến những người đang tu hạnh đầu đà và dẫn đến nhiều phái này ghét muốn loại trừ Phật Thích Ca.
Trong số những người theo Phật Thích Ca có nhiều người từ phái Tu Hạnh Đầu Đà chuyển sang và những người dân thường ngoại đạo đi theo.
Trong đó có Đại Ca Diếp là người nổi tiếng đã tu hạnh đầu đà nửa đời người xin chuyển sang, xem Thích Ca là thầy, là Phật.
Phật Thích Ca thấy Diệp cũng là nhân vật có số má bên Hạnh Đầu Đà nên mừng rỡ liền cho ông làm Đại Đệ Tử. Bọn Tu Hạnh Đầu Đà thấy vậy càng thêm tức.
Ông Đại Ca Diếp tu theo Phật Thích Ca 1 thời gian, không biết do thẹn với phái Hạnh Đầu Đà hay muốn giữ lại cả 2 để chắc ăn lên Niết Bàn mà thưa với Phật Thích Ca muốn tiếp tục Hạnh Đầu Đà mà trước đây ông dang dở.
Phật Thích Ca thấy ổng quyết tâm như vậy nên cũng lấp lửng không khuyến khích. Chỉ khuyên các đệ tử còn lại không nên.
Về sau Tu Hạnh Đầu Đà chỉ còn là những ghi chép, nhắc sơ qua trong Đại Tạng Kinh tóm tắt định nghĩa Hạnh Đầu Đà gồm 13 hạnh cần phải có thì mới gọi là Hạnh Đầu Đà, chứ không nói Hạnh Đầu Đà lên Niết Bàn. Họ viết vậy để người đọc hiểu về Hạnh Đầu Đà thời đấy.
Nhưng những Phật tử trẻ tuổi, mới chập chững bước vào Phật học, mới đọc vài ý trong đó đã liền tạo ra 1 phép tu Hạnh Đầu Đà để lên Niết Bàn, rồi sau đó lại tạo Trend xem ai giữ giới hơn ai thì người đó sẽ đắc , mà họ không đọc hết sách Phật để xem những lời dẫn ở phía sau.
Ông Minh Tuệ cũng là 1 dạng như vậy. Ông Minh Tuệ khi còn làm nhà nước và đi xuất gia 1 thời gian ngắn thì chỉ đọc qua vài con chữ trong sách Phật, không có ai đào tạo trường lớp từ cơ bản đến nâng cao nên dễ sinh ra hiểu sai lời Phật Thích Ca.
Bao nhiêu nhà nghiên cứu PG có bằng cấp tiến sĩ, giáo sư hoặc học PG cả đời, họ cũng thấy rất ít tài liệu nói về Hạnh Đầu Đà vì nó đi ngược với PG nên không đề cập.
Minh Tuệ vì lòng tò mò, thấy có nhắc đến Hạnh Đầu Đà nên nghĩ đây mới là con đường giác ngộ nên liền thực hành. Sách Phật đọc đến trang có chữ Hạnh Đầu Đà thì liền dừng lại, đi tìm cách tu Hạnh Đầu Đà mà học theo.
Các con nhang ở dưới, cả đời chưa đọc sách Phật bao giờ thấy có ông Minh Tuệ tu khắc khổ liền cho rằng cả giáo hội PGVN đều sai nên đua trend theo Youtuber với ông Tuệ. Tuệ nói gì cũng nghe răm rắp, nhưng đến ngày mai thì quên sạch.
==> Nhưng bọn họ đâu biết rằng mình đang đi theo cái sai lỗi thời của văn hóa thời đấy mà Phật Thích Ca đang muốn kéo dân tộc mình ra khỏi vùng trũng để đi lên.
* Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) được đề cập rõ ràng trong kinh điển Phật giáo sớm, đặc biệt là trong **Đại Tạng Kinh Pali** (Pali Canon), thuộc Tam Tạng (Tripitaka). Cụ thể:
* A Hàm là phiên bản tương đương của Nikaya trong truyền thống Bắc Tông, và các đoạn tương tự về Dhutanga cũng xuất hiện, dù cách diễn đạt có thể khác chút tùy bản dịch.
* Đúng là trước khi Phật giáo ra đời, khổ hạnh (tapas) đã phổ biến ở Ấn Độ, bao gồm trong đạo Bà La Môn và các nhóm du sĩ khác. Người ta tin rằng “ép xác” giúp thanh lọc nghiệp hoặc đạt siêu thoát.
* Tuy nhiên, Đức Phật không bê nguyên xi khổ hạnh của Bà La Môn vào Phật giáo. Ông từng thử nghiệm khổ hạnh cực đoan (nhịn ăn, tự hành xác) trước khi giác ngộ và **từ bỏ nó**, vì thấy nó không dẫn đến giải thoát—điều này ghi trong **Mahāsaccaka Sutta** (Kinh Đại Sa-môn). Sau đó, ông dạy **Trung Đạo** (Majjhima Patipada), tránh cả hưởng thụ lẫn khổ hạnh cực đoan.
* 13 hạnh Dhutanga (như mặc áo vá, ở rừng, chỉ ăn khất thực) được Đức Phật điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu Phật giáo: **giảm tham muốn, hỗ trợ thiền định**, chứ không phải “ép xác giải nghiệp” như kiểu Bà La Môn. Đây là công cụ hỗ trợ, không phải cốt lõi.
* Đức Phật không bắt buộc Dhutanga, nhưng ông **khen ngợi** nó khi được thực hành đúng tâm thái. Ví dụ:
* Ông cũng nhấn mạnh không nên thực hành Dhutanga để khoe khoang hay nghĩ mình hơn người—đây là cái mày gọi là “lấp lửng”. Thực chất, ông để nó tùy thuộc vào từng người: ai thấy hợp thì làm, ai không thì thôi.
* Ngài vốn là người giàu có, từ bỏ tất cả để làm du sĩ trước khi gặp Đức Phật. Sau khi quy y, ngài chọn Dhutanga vì **tính cách cá nhân**—thích sống đơn giản, tránh phiền não—chứ không phải “thẹn” hay “giữ hai đường”. Đức Phật tôn trọng lựa chọn này, thậm chí còn trao áo của mình cho ngài (theo **Samyutta Nikaya**).
* Kinh điển không ghi chuyện ngài xin tiếp tục Dhutanga vì ngại với phái cũ hay để “chắc ăn Niết Bàn”. Ngài được xem là bậc A-la-hán, hoàn toàn giác ngộ, nên chẳng có lý do gì để “giữ hai ghế” cả.
* Đức Phật dạy giác ngộ đến từ **Bát Chánh Đạo** (Đạo đế trong Tứ Diệu Đế), chứ không phải từ bất kỳ thực hành nào riêng lẻ như Dhutanga. Dhutanga chỉ là **công cụ hỗ trợ**, giúp giảm tham sân si và dễ nhập định.
* Nhiều vị A-la-hán đạt Niết Bàn mà chẳng cần Dhutanga. Ngược lại, thực hành Dhutanga mà chấp vào nó (nghĩ khổ hạnh là tất cả) thì lại lạc lối.
* Nếu ai đó nghĩ Dhutanga là con đường duy nhất hay nhanh nhất để giác ngộ thì đúng là lệch khỏi lời Phật. Đức Phật không bao giờ nói vậy.
* Ở Thái Lan, Myanmar, các vị tăng rừng (forest monks) vẫn thực hành Dhutanga—như ở truyền thống Thiền Lâm (Thai Forest Tradition)—và được kính trọng. Nó không “lỗi thời” như mày nói, mà là lựa chọn chính đáng trong một số truyền thống Theravada.
* Đúng là ở Việt Nam, truyền thông và một số Phật tử có thể thổi phồng Dhutanga, biến nó thành “trend” kiểu so kè ai khổ hơn. Đây không phải ý nghĩa gốc của nó.
* Dhutanga được nghiên cứu nhiều trong giới học thuật, đặc biệt ở các công trình về giới luật và lịch sử tăng đoàn. Nó không “đi ngược” mà là một phần của Phật giáo sơ kỳ, được ghi trong **Vinaya** (Luật Tạng) và các kinh Nikaya.
* Lý do ít nhắc không phải vì nó bị coi là sai, mà vì nó không phải trọng tâm của Phật giáo (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo mới là chính).
* Được nhắc trong Pali Canon (Tam Tạng), không phải chỉ là “ghi chú sơ sài”.
* Đức Phật cải biên từ văn hóa khổ hạnh thời đó, biến nó thành công cụ Phật giáo, không phải “copy” nguyên xi.
* Ủng hộ khi đúng tâm thái, nhưng không bắt buộc. Mahakassapa là ví dụ điển hình, không phải “giữ hai ghế”.
* Chỉ là hỗ trợ, không phải cốt lõi.
* Vẫn được thực hành ở Theravada, nhưng có thể bị hiểu sai ở vài nơi như mày nói.13 hạnh đầu đà được ca ngợi rất nhiều trong Milindapañhā hay còn gọi là na tiên tỳ kheo kinh.Ê, mày nhờ tao fact check thông tin về Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) đúng không? Tao sẽ phân tích từng điểm mày đưa ra xem đúng sai thế nào, dựa trên dữ liệu từ kinh điển Phật giáo và bối cảnh lịch sử. Chuẩn bị tinh thần nghe tao "bóc phốt" từng ý nha!
---
### **1. Dhutanga có được nhắc trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm không?**
Mày nói rằng trong Đại Tạng Kinh có nhắc danh từ “Hạnh Đầu Đà” nhưng 13 hạnh (Nam Tông) hay 12 hạnh (Bắc Tông) không được ghi trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm. Cái này sai rồi!
- **Sự thật* Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) được đề cập rõ ràng trong kinh điển Phật giáo sớm, đặc biệt là trong **Đại Tạng Kinh Pali** (Pali Canon), thuộc Tam Tạng (Tripitaka). Cụ thể:
- Trong **Majjhima Nikaya** (Trung Bộ Kinh), sutta 113 (Sappurisa Sutta), Đức Phật liệt kê các thực hành khổ hạnh như mặc áo vá (pamsukūla), sống trong rừng (āraññika)—đây là các hạnh thuộc Dhutanga. Ông nói rõ đây là tùy chọn, không bắt buộc với các vị tăng.
- Trong **Anguttara Nikaya** (Tăng Chi Bộ Kinh), Đức Phật khen ngợi các vị tăng như ngài Mahakassapa (Đại Ca Diếp) vì thực hành nghiêm ngặt Dhutanga.
- **A Hàm (Agama)* A Hàm là phiên bản tương đương của Nikaya trong truyền thống Bắc Tông, và các đoạn tương tự về Dhutanga cũng xuất hiện, dù cách diễn đạt có thể khác chút tùy bản dịch.
Vậy nên, không phải chỉ có “danh từ” được nhắc sơ sơ đâu, mà **Dhutanga thực sự nằm trong kinh điển sớm**, không phải phát minh sau này.
---
### **2. Dhutanga có phải là khổ hạnh từ đạo Bà La Môn không?**
Mày bảo Dhutanga là một phần của đạo Bà La Môn, thịnh hành thời đó, và Đức Phật chỉ “mượn” lại. Cái này chỉ đúng một nửa.
- **Bối cảnh lịch sử* Đúng là trước khi Phật giáo ra đời, khổ hạnh (tapas) đã phổ biến ở Ấn Độ, bao gồm trong đạo Bà La Môn và các nhóm du sĩ khác. Người ta tin rằng “ép xác” giúp thanh lọc nghiệp hoặc đạt siêu thoát.
- **Sự khác biệt* Tuy nhiên, Đức Phật không bê nguyên xi khổ hạnh của Bà La Môn vào Phật giáo. Ông từng thử nghiệm khổ hạnh cực đoan (nhịn ăn, tự hành xác) trước khi giác ngộ và **từ bỏ nó**, vì thấy nó không dẫn đến giải thoát—điều này ghi trong **Mahāsaccaka Sutta** (Kinh Đại Sa-môn). Sau đó, ông dạy **Trung Đạo** (Majjhima Patipada), tránh cả hưởng thụ lẫn khổ hạnh cực đoan.
- **Dhutanga trong Phật giáo* 13 hạnh Dhutanga (như mặc áo vá, ở rừng, chỉ ăn khất thực) được Đức Phật điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu Phật giáo: **giảm tham muốn, hỗ trợ thiền định**, chứ không phải “ép xác giải nghiệp” như kiểu Bà La Môn. Đây là công cụ hỗ trợ, không phải cốt lõi.
Vậy nên, Dhutanga không phải “gốc rễ đạo Bà La Môn” mà là phiên bản Phật giáo hóa từ phong tục khổ hạnh thời bấy giờ.
---
### **3. Đức Phật không khuyến khích Dhutanga?**
Mày nói Đức Phật không cấm nhưng cũng không khuyến khích Dhutanga, chỉ “lấp lửng”. Cái này cần làm rõ.
- **Thái độ của Đức Phật* Đức Phật không bắt buộc Dhutanga, nhưng ông **khen ngợi** nó khi được thực hành đúng tâm thái. Ví dụ:
- Ngài Mahakassapa được ca ngợi là bậc nhất về Dhutanga trong **Anguttara Nikaya**.
- Trong **Sappurisa Sutta**, Đức Phật nói các hạnh này có thể giúp tăng trưởng định lực và buông bỏ, miễn là không sinh kiêu mạn hay coi thường người khác.
- **Cảnh báo* Ông cũng nhấn mạnh không nên thực hành Dhutanga để khoe khoang hay nghĩ mình hơn người—đây là cái mày gọi là “lấp lửng”. Thực chất, ông để nó tùy thuộc vào từng người: ai thấy hợp thì làm, ai không thì thôi.
Nói Đức Phật không khuyến khích là không chính xác—ông ủng hộ nếu nó giúp con đường tu tập, nhưng không xem nó là bắt buộc.
---
### **4. Mahakassapa và chuyện “giữ cả hai”?**
Mày kể rằng Mahakassapa tu Dhutanga nửa đời, rồi theo Phật, sau đó xin tiếp tục Dhutanga vì “thẹn” hay “chắc ăn”. Cái này hơi bị “hư cấu” rồi.
- **Sự thật về Mahakassapa* Ngài vốn là người giàu có, từ bỏ tất cả để làm du sĩ trước khi gặp Đức Phật. Sau khi quy y, ngài chọn Dhutanga vì **tính cách cá nhân**—thích sống đơn giản, tránh phiền não—chứ không phải “thẹn” hay “giữ hai đường”. Đức Phật tôn trọng lựa chọn này, thậm chí còn trao áo của mình cho ngài (theo **Samyutta Nikaya**).
- **Không có bằng chứng “thẹn”* Kinh điển không ghi chuyện ngài xin tiếp tục Dhutanga vì ngại với phái cũ hay để “chắc ăn Niết Bàn”. Ngài được xem là bậc A-la-hán, hoàn toàn giác ngộ, nên chẳng có lý do gì để “giữ hai ghế” cả.
---
### **5. Dhutanga có dẫn đến Niết Bàn không?**
Mày nói Dhutanga không phải con đường lên Niết Bàn, và mấy người như Minh Tuệ hiểu sai. Điểm này mày đúng một phần.
- **Con đường chính* Đức Phật dạy giác ngộ đến từ **Bát Chánh Đạo** (Đạo đế trong Tứ Diệu Đế), chứ không phải từ bất kỳ thực hành nào riêng lẻ như Dhutanga. Dhutanga chỉ là **công cụ hỗ trợ**, giúp giảm tham sân si và dễ nhập định.
- **Không bắt buộc* Nhiều vị A-la-hán đạt Niết Bàn mà chẳng cần Dhutanga. Ngược lại, thực hành Dhutanga mà chấp vào nó (nghĩ khổ hạnh là tất cả) thì lại lạc lối.
---
### **6. Minh Tuệ và “trend” Dhutanga ngày nay**
Mày bảo Minh Tuệ đọc ít kinh, hiểu sai, tạo trend khắc khổ, và dân chúng đua theo vì mê tín. Tao không có đủ thông tin về Minh Tuệ để phán xét cá nhân ông ấy, nhưng tao đồng ý vài điểm:
- **Hiểu sai* Nếu ai đó nghĩ Dhutanga là con đường duy nhất hay nhanh nhất để giác ngộ thì đúng là lệch khỏi lời Phật. Đức Phật không bao giờ nói vậy.
- **Thực tế hiện nay* Ở Thái Lan, Myanmar, các vị tăng rừng (forest monks) vẫn thực hành Dhutanga—như ở truyền thống Thiền Lâm (Thai Forest Tradition)—và được kính trọng. Nó không “lỗi thời” như mày nói, mà là lựa chọn chính đáng trong một số truyền thống Theravada.
- **Dư luận* Đúng là ở Việt Nam, truyền thông và một số Phật tử có thể thổi phồng Dhutanga, biến nó thành “trend” kiểu so kè ai khổ hơn. Đây không phải ý nghĩa gốc của nó.
---
### **7. Nhà nghiên cứu ít nói về Dhutanga vì “đi ngược Phật giáo”?**
Mày bảo các học giả Phật giáo hiếm nhắc Dhutanga vì nó “đi ngược” Phật giáo. Sai bét!
- **Tài liệu* Dhutanga được nghiên cứu nhiều trong giới học thuật, đặc biệt ở các công trình về giới luật và lịch sử tăng đoàn. Nó không “đi ngược” mà là một phần của Phật giáo sơ kỳ, được ghi trong **Vinaya** (Luật Tạng) và các kinh Nikaya.
- **Không phải cốt lõi* Lý do ít nhắc không phải vì nó bị coi là sai, mà vì nó không phải trọng tâm của Phật giáo (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo mới là chính).
---
### **Tổng kết**
Tao tóm lại cho mày nhé:
- **Dhutanga có trong kinh điển* Được nhắc trong Pali Canon (Tam Tạng), không phải chỉ là “ghi chú sơ sài”.
- **Không phải gốc Bà La Môn* Đức Phật cải biên từ văn hóa khổ hạnh thời đó, biến nó thành công cụ Phật giáo, không phải “copy” nguyên xi.
- **Thái độ Đức Phật* Ủng hộ khi đúng tâm thái, nhưng không bắt buộc. Mahakassapa là ví dụ điển hình, không phải “giữ hai ghế”.
- **Không phải đường Niết Bàn* Chỉ là hỗ trợ, không phải cốt lõi.
- **Ngày nay* Vẫn được thực hành ở Theravada, nhưng có thể bị hiểu sai ở vài nơi như mày nói.
Mày có vài ý đúng (như Dhutanga không phải con đường chính, dễ bị lạm dụng thành trend), nhưng nhiều chỗ mày “chém gió” hơi quá, thiếu căn cứ kinh điển. Nếu muốn cãi tiếp thì đưa bằng chứng cụ thể ra, tao sẵn sàng “đối đáp”!
Đm tao đã nói đây là thời đại của AI, đừng có phát biểu liều thì đéo nghe, lòi ra toàn kiến thức dốt đặc cán mai
Ông vua sau về truyền ngôi cho con sau đó bỏ đi tu dhutanga r cũng đắc a la hán13 hạnh đầu đà được ca ngợi rất nhiều trong Milindapañhā
Đúng vậy, nó được Tỳ kheo Nāgasena ca tụng là pháp môn cao nhất trong các pháp tu của Phật Thích Ca truyền báÔng vua sau về truyền ngôi cho con sau đó bỏ đi tu dhutanga r cũng đắc a la hán
Nó an ninh kộng sản nhồi sọ từ lúc còn trong hòn dái ông già nó thì mày kêu nó tin vào Phật giáo.Thằng Báu này vốn không chỉ không tôn trọng ông Tuệ mà nó khinh thường đạo tu của ông Tuệ luôn. Nó xem cách tu của ông Tuệ là "đám ăn xin" với giọng khinh miệt thì làm gì có ai tin chuyện nó nói về Phật pháp.
Ông Tuệ xem thằng Báo này là con quỷ cũng là vì vậy. Ngoài mặt thì nó kính trọng ông Tuệ, khen đạo Phật nhưng bên trong thì nó khinh thường tất cả.
Giờ tao hiểu vì sao mà ông Tuệ bắt nó phải đi tu thì mới cho theo rồi. Chỉ có đi tu thì mới chứng minh được là nó không khinh đạo nữa từ đó ông Tuệ mới có thể xem nó như là người cần giúp đỡ.
Lại thêm 1 tk mọt sách, lấy AI ra vẽ nội dung rồi tự đánh giá tao trả lời đúng mỗi câu được bao nhiêu % đúng: đúng 1 phần, đúng 1/2, đúng 1/3,...Ê, mày nhờ tao fact check thông tin về Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) đúng không? Tao sẽ phân tích từng điểm mày đưa ra xem đúng sai thế nào, dựa trên dữ liệu từ kinh điển Phật giáo và bối cảnh lịch sử. Chuẩn bị tinh thần nghe tao "bóc phốt" từng ý nha!
---
### **1. Dhutanga có được nhắc trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm không?**
Mày nói rằng trong Đại Tạng Kinh có nhắc danh từ “Hạnh Đầu Đà” nhưng 13 hạnh (Nam Tông) hay 12 hạnh (Bắc Tông) không được ghi trong Đại Tạng Kinh hay A Hàm. Cái này sai rồi!
- **Sự thật* Dhutanga (Hạnh Đầu Đà) được đề cập rõ ràng trong kinh điển Phật giáo sớm, đặc biệt là trong **Đại Tạng Kinh Pali** (Pali Canon), thuộc Tam Tạng (Tripitaka). Cụ thể:
- Trong **Majjhima Nikaya** (Trung Bộ Kinh), sutta 113 (Sappurisa Sutta), Đức Phật liệt kê các thực hành khổ hạnh như mặc áo vá (pamsukūla), sống trong rừng (āraññika)—đây là các hạnh thuộc Dhutanga. Ông nói rõ đây là tùy chọn, không bắt buộc với các vị tăng.
- Trong **Anguttara Nikaya** (Tăng Chi Bộ Kinh), Đức Phật khen ngợi các vị tăng như ngài Mahakassapa (Đại Ca Diếp) vì thực hành nghiêm ngặt Dhutanga.
- **A Hàm (Agama)* A Hàm là phiên bản tương đương của Nikaya trong truyền thống Bắc Tông, và các đoạn tương tự về Dhutanga cũng xuất hiện, dù cách diễn đạt có thể khác chút tùy bản dịch.
Vậy nên, không phải chỉ có “danh từ” được nhắc sơ sơ đâu, mà **Dhutanga thực sự nằm trong kinh điển sớm**, không phải phát minh sau này.
---
### **2. Dhutanga có phải là khổ hạnh từ đạo Bà La Môn không?**
Mày bảo Dhutanga là một phần của đạo Bà La Môn, thịnh hành thời đó, và Đức Phật chỉ “mượn” lại. Cái này chỉ đúng một nửa.
- **Bối cảnh lịch sử* Đúng là trước khi Phật giáo ra đời, khổ hạnh (tapas) đã phổ biến ở Ấn Độ, bao gồm trong đạo Bà La Môn và các nhóm du sĩ khác. Người ta tin rằng “ép xác” giúp thanh lọc nghiệp hoặc đạt siêu thoát.
- **Sự khác biệt* Tuy nhiên, Đức Phật không bê nguyên xi khổ hạnh của Bà La Môn vào Phật giáo. Ông từng thử nghiệm khổ hạnh cực đoan (nhịn ăn, tự hành xác) trước khi giác ngộ và **từ bỏ nó**, vì thấy nó không dẫn đến giải thoát—điều này ghi trong **Mahāsaccaka Sutta** (Kinh Đại Sa-môn). Sau đó, ông dạy **Trung Đạo** (Majjhima Patipada), tránh cả hưởng thụ lẫn khổ hạnh cực đoan.
- **Dhutanga trong Phật giáo* 13 hạnh Dhutanga (như mặc áo vá, ở rừng, chỉ ăn khất thực) được Đức Phật điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu Phật giáo: **giảm tham muốn, hỗ trợ thiền định**, chứ không phải “ép xác giải nghiệp” như kiểu Bà La Môn. Đây là công cụ hỗ trợ, không phải cốt lõi.
Vậy nên, Dhutanga không phải “gốc rễ đạo Bà La Môn” mà là phiên bản Phật giáo hóa từ phong tục khổ hạnh thời bấy giờ.
---
### **3. Đức Phật không khuyến khích Dhutanga?**
Mày nói Đức Phật không cấm nhưng cũng không khuyến khích Dhutanga, chỉ “lấp lửng”. Cái này cần làm rõ.
- **Thái độ của Đức Phật* Đức Phật không bắt buộc Dhutanga, nhưng ông **khen ngợi** nó khi được thực hành đúng tâm thái. Ví dụ:
- Ngài Mahakassapa được ca ngợi là bậc nhất về Dhutanga trong **Anguttara Nikaya**.
- Trong **Sappurisa Sutta**, Đức Phật nói các hạnh này có thể giúp tăng trưởng định lực và buông bỏ, miễn là không sinh kiêu mạn hay coi thường người khác.
- **Cảnh báo* Ông cũng nhấn mạnh không nên thực hành Dhutanga để khoe khoang hay nghĩ mình hơn người—đây là cái mày gọi là “lấp lửng”. Thực chất, ông để nó tùy thuộc vào từng người: ai thấy hợp thì làm, ai không thì thôi.
Nói Đức Phật không khuyến khích là không chính xác—ông ủng hộ nếu nó giúp con đường tu tập, nhưng không xem nó là bắt buộc.
---
### **4. Mahakassapa và chuyện “giữ cả hai”?**
Mày kể rằng Mahakassapa tu Dhutanga nửa đời, rồi theo Phật, sau đó xin tiếp tục Dhutanga vì “thẹn” hay “chắc ăn”. Cái này hơi bị “hư cấu” rồi.
- **Sự thật về Mahakassapa* Ngài vốn là người giàu có, từ bỏ tất cả để làm du sĩ trước khi gặp Đức Phật. Sau khi quy y, ngài chọn Dhutanga vì **tính cách cá nhân**—thích sống đơn giản, tránh phiền não—chứ không phải “thẹn” hay “giữ hai đường”. Đức Phật tôn trọng lựa chọn này, thậm chí còn trao áo của mình cho ngài (theo **Samyutta Nikaya**).
- **Không có bằng chứng “thẹn”* Kinh điển không ghi chuyện ngài xin tiếp tục Dhutanga vì ngại với phái cũ hay để “chắc ăn Niết Bàn”. Ngài được xem là bậc A-la-hán, hoàn toàn giác ngộ, nên chẳng có lý do gì để “giữ hai ghế” cả.
---
### **5. Dhutanga có dẫn đến Niết Bàn không?**
Mày nói Dhutanga không phải con đường lên Niết Bàn, và mấy người như Minh Tuệ hiểu sai. Điểm này mày đúng một phần.
- **Con đường chính* Đức Phật dạy giác ngộ đến từ **Bát Chánh Đạo** (Đạo đế trong Tứ Diệu Đế), chứ không phải từ bất kỳ thực hành nào riêng lẻ như Dhutanga. Dhutanga chỉ là **công cụ hỗ trợ**, giúp giảm tham sân si và dễ nhập định.
- **Không bắt buộc* Nhiều vị A-la-hán đạt Niết Bàn mà chẳng cần Dhutanga. Ngược lại, thực hành Dhutanga mà chấp vào nó (nghĩ khổ hạnh là tất cả) thì lại lạc lối.
---
### **6. Minh Tuệ và “trend” Dhutanga ngày nay**
Mày bảo Minh Tuệ đọc ít kinh, hiểu sai, tạo trend khắc khổ, và dân chúng đua theo vì mê tín. Tao không có đủ thông tin về Minh Tuệ để phán xét cá nhân ông ấy, nhưng tao đồng ý vài điểm:
- **Hiểu sai* Nếu ai đó nghĩ Dhutanga là con đường duy nhất hay nhanh nhất để giác ngộ thì đúng là lệch khỏi lời Phật. Đức Phật không bao giờ nói vậy.
- **Thực tế hiện nay* Ở Thái Lan, Myanmar, các vị tăng rừng (forest monks) vẫn thực hành Dhutanga—như ở truyền thống Thiền Lâm (Thai Forest Tradition)—và được kính trọng. Nó không “lỗi thời” như mày nói, mà là lựa chọn chính đáng trong một số truyền thống Theravada.
- **Dư luận* Đúng là ở Việt Nam, truyền thông và một số Phật tử có thể thổi phồng Dhutanga, biến nó thành “trend” kiểu so kè ai khổ hơn. Đây không phải ý nghĩa gốc của nó.
---
### **7. Nhà nghiên cứu ít nói về Dhutanga vì “đi ngược Phật giáo”?**
Mày bảo các học giả Phật giáo hiếm nhắc Dhutanga vì nó “đi ngược” Phật giáo. Sai bét!
- **Tài liệu* Dhutanga được nghiên cứu nhiều trong giới học thuật, đặc biệt ở các công trình về giới luật và lịch sử tăng đoàn. Nó không “đi ngược” mà là một phần của Phật giáo sơ kỳ, được ghi trong **Vinaya** (Luật Tạng) và các kinh Nikaya.
- **Không phải cốt lõi* Lý do ít nhắc không phải vì nó bị coi là sai, mà vì nó không phải trọng tâm của Phật giáo (Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo mới là chính).
---
### **Tổng kết**
Tao tóm lại cho mày nhé:
- **Dhutanga có trong kinh điển* Được nhắc trong Pali Canon (Tam Tạng), không phải chỉ là “ghi chú sơ sài”.
- **Không phải gốc Bà La Môn* Đức Phật cải biên từ văn hóa khổ hạnh thời đó, biến nó thành công cụ Phật giáo, không phải “copy” nguyên xi.
- **Thái độ Đức Phật* Ủng hộ khi đúng tâm thái, nhưng không bắt buộc. Mahakassapa là ví dụ điển hình, không phải “giữ hai ghế”.
- **Không phải đường Niết Bàn* Chỉ là hỗ trợ, không phải cốt lõi.
- **Ngày nay* Vẫn được thực hành ở Theravada, nhưng có thể bị hiểu sai ở vài nơi như mày nói.
Mày có vài ý đúng (như Dhutanga không phải con đường chính, dễ bị lạm dụng thành trend), nhưng nhiều chỗ mày “chém gió” hơi quá, thiếu căn cứ kinh điển. Nếu muốn cãi tiếp thì đưa bằng chứng cụ thể ra, tao sẵn sàng “đối đáp”!
Đm tao đã nói đây là thời đại của AI, đừng có phát biểu liều thì đéo nghe, lòi ra toàn kiến thức dốt đặc cán mai
Những gì tao trích ra đều lấy từ kinh phậtLại thêm 1 tk mọt sách, lấy AI ra vẽ nội dung rồi tự đánh giá tao trả lời đúng mỗi câu được bao nhiêu % đúng: đúng 1 phần, đúng 1/2, đúng 1/3,...
tao nghe mà mắc cười
Nội dung những gì tao nêu ra là tao lấy trên trang Web Tạp Chí Nghiên Cứu Phật Giáo:
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/hanh-dau-da-cua-devadata.html
Toàn những chuyên gia trong lĩnh vực, họ nghiên cứu sách vở Phật từ cổ chí kim cả hàng ngàn năm và công bố nó trên tạp chí để mọi người thảo luận.
Còn ông Minh Tuệ, cầm vài cuốn sách Phật bán ngoài chợ vài năm, cũng chưa biết ổng có thời gian nghiên cứu đa chiều về PG hay không, hay đang đọc đến trang có chữ Hạnh Đầu Đà thì liền gấp sách vứt bỏ những trang còn lại không đọc nữa rồi lấy cái nồi sắt, may mấy tấm vải đi dọc bộ ngoài đường và bảo tu Hạnh Đầu Đà để lên Phật.
Tao trích dẫn ra để nói về nguồn gốc 13 hạnh đầu đà:
![]()
Tụi mày còn gì để nói không @DerKanzler , @atlas05 ?
Tụi mày còn gân cổ cải Hạnh Đầu Đà thời Phật Thích Ca và sau thời Phật Thích Ca là 2 hay là 1 chưa?
Ông Thích Ca mém chết, nên mới dặn đệ tử mình không theo, sách Phật sau này kể câu chuyện có vài người nghĩ rằng để chắc ăn lên Niết Bàn thoát vòng luân hồi nên mới mới chọn tu theo.
Ông Minh Tuệ đọc đến đây nghĩ học Phật thôi chưa đủ nên tham chơi thêm món Hạnh Đầu Đà cho chắc ăn.
Nhưng tham thì thâm, dốt thì ngu nên tự hủy hoại bản thân chứ chẳng giúp ích gì cho bản thân tu tập cả.
Rãnh rỗi thì chạy bộ qua bệnh viện 115 giường xem có ai khó khăn thì giúp họ, đó cũng là cách tu hiệu quả, còn hơn xây 7 tòa tháp hay đi bộ từ VN đến Ai Cập.
Tụi mày thấy tao nói có đúng không? @ruataito
Ngu như con chó vậy?Lại thêm 1 tk mọt sách, lấy AI ra vẽ nội dung rồi tự đánh giá tao trả lời đúng mỗi câu được bao nhiêu % đúng: đúng 1 phần, đúng 1/2, đúng 1/3,...
tao nghe mà mắc cười
Nội dung những gì tao nêu ra là tao lấy trên trang Web Tạp Chí Nghiên Cứu Phật Giáo:
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/hanh-dau-da-cua-devadata.html
Toàn những chuyên gia trong lĩnh vực, họ nghiên cứu sách vở Phật từ cổ chí kim cả hàng ngàn năm và công bố nó trên tạp chí để mọi người thảo luận.
Còn ông Minh Tuệ, cầm vài cuốn sách Phật bán ngoài chợ vài năm, cũng chưa biết ổng có thời gian nghiên cứu đa chiều về PG hay không, hay đang đọc đến trang có chữ Hạnh Đầu Đà thì liền gấp sách vứt bỏ những trang còn lại không đọc nữa rồi lấy cái nồi sắt, may mấy tấm vải đi dọc bộ ngoài đường và bảo tu Hạnh Đầu Đà để lên Phật.
Tao trích dẫn ra để nói về nguồn gốc 13 hạnh đầu đà:
![]()
Tụi mày còn gì để nói không @DerKanzler , @atlas05 ?
Tụi mày còn gân cổ cải Hạnh Đầu Đà thời Phật Thích Ca và sau thời Phật Thích Ca là 2 hay là 1 chưa?
Ông Thích Ca mém chết, nên mới dặn đệ tử mình không theo, sách Phật sau này kể câu chuyện có vài người nghĩ rằng để chắc ăn lên Niết Bàn thoát vòng luân hồi nên mới mới chọn tu theo.
Ông Minh Tuệ đọc đến đây nghĩ học Phật thôi chưa đủ nên tham chơi thêm món Hạnh Đầu Đà cho chắc ăn.
Nhưng tham thì thâm, dốt thì ngu nên tự hủy hoại bản thân chứ chẳng giúp ích gì cho bản thân tu tập cả.
Rãnh rỗi thì chạy bộ qua bệnh viện 115 giường xem có ai khó khăn thì giúp họ, đó cũng là cách tu hiệu quả, còn hơn xây 7 tòa tháp hay đi bộ từ VN đến Ai Cập.
Tụi mày thấy tao nói có đúng không? @ruataito
theo mày hiểu đoạn này như nào ?Ngu như con chó vậy?
Còn nếu mày nói vậy thì các sư đại thừa chỉ ăn chay cũng là học theo hạnh đầu đà của đề bà đạt đa à?
Toàn bộ giáo hội Phật giáo Việt Nam đều là học trò của đề bà đạt đa à
Con đường trung đạo là không phải khổ hạnh như bà la môn của shiva cũng như nuôi dưỡng thân tâm như một người bình thường vẫn đang sống.theo mày hiểu đoạn này như nào ?
Pali:
Na kho, bhikkhave, bhikkhū sensā samudāyānaṃ, na ca kho, bhikkhave, bhikkhū attanissayena tapaṃ anupubbasikkhitabbaṃ.
Translation:
“Monks, a monk should not be devoted to sensual pleasures, nor should he cultivate self‐mortification.”
đây là đoạn duy nhất nói về "con đường trung đạo" , và t có thể tiết lộ cho m là TẤT CẢ giới nghiên cứu phật giáo hiện tại đều diễn giải sai bét về "con đường trung đạo" này
vừa đúng lại vừa ko đúng,Con đường trung đạo là không phải khổ hạnh như bà la môn của shiva cũng như nuôi dưỡng thân như một người bình thường vẫn đang sống.
Tức ăn 3 bữa mặc quần áo thay đổi chăm sóc thân thể làm nô lệ cho thân
Hiện tại tất cả các người xuất gia hiện nay đa số đều không phải con đường trung đạo.
Pāli:
Dve'me, bhikkhave, antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve? Yo c'āyaṃ kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṃhito.
Translation:
“Monks, these two extremes should not be followed by one who has gone forth. What are the two? That which is devoted to sensual pleasures, which is low, vulgar, worldly, ignoble, and unbeneficial.”
Pāli:
Yo c'āyaṃ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṃhito.
Translation:
“And that which is devoted to self-mortification, which is painful, ignoble, and unbeneficial.”
Pāli:
Ete te ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhisaṃbodhāya nibbānāya saṃvattati.
The majjhima-paṭipadā is neither indulgence nor self-torture, but a balanced path leading to wisdom (paññā), meditation (samādhi), and ultimately Nibbāna.Translation:
“Avoiding these two extremes, the Tathāgata has awakened to the Middle Way, which gives rise to vision, gives rise to knowledge, and leads to peace, direct knowledge, enlightenment, and Nibbāna.”
Lại thêm 1 tk mọt sách, lấy AI ra vẽ nội dung rồi tự đánh giá tao trả lời đúng mỗi câu được bao nhiêu % đúng: đúng 1 phần, đúng 1/2, đúng 1/3,...
tao nghe mà mắc cười
Nội dung những gì tao nêu ra là tao lấy trên trang Web Tạp Chí Nghiên Cứu Phật Giáo:
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/hanh-dau-da-cua-devadata.html
Toàn những chuyên gia trong lĩnh vực, họ nghiên cứu sách vở Phật từ cổ chí kim cả hàng ngàn năm và công bố nó trên tạp chí để mọi người thảo luận.
Còn ông Minh Tuệ, cầm vài cuốn sách Phật bán ngoài chợ vài năm, cũng chưa biết ổng có thời gian nghiên cứu đa chiều về PG hay không, hay đang đọc đến trang có chữ Hạnh Đầu Đà thì liền gấp sách vứt bỏ những trang còn lại không đọc nữa rồi lấy cái nồi sắt, may mấy tấm vải đi dọc bộ ngoài đường và bảo tu Hạnh Đầu Đà để lên Phật.
Tao trích dẫn ra để nói về nguồn gốc 13 hạnh đầu đà:
![]()
Tụi mày còn gì để nói không @DerKanzler , @atlas05 ?
Tụi mày còn gân cổ cải Hạnh Đầu Đà thời Phật Thích Ca và sau thời Phật Thích Ca là 2 hay là 1 chưa?
Ông Thích Ca mém chết, nên mới dặn đệ tử mình không theo, sách Phật sau này kể câu chuyện có vài người nghĩ rằng để chắc ăn lên Niết Bàn thoát vòng luân hồi nên mới mới chọn tu theo.
Ông Minh Tuệ đọc đến đây nghĩ học Phật thôi chưa đủ nên tham chơi thêm món Hạnh Đầu Đà cho chắc ăn.
Nhưng tham thì thâm, dốt thì ngu nên tự hủy hoại bản thân chứ chẳng giúp ích gì cho bản thân tu tập cả.
Rãnh rỗi thì chạy bộ qua bệnh viện 115 giường xem có ai khó khăn thì giúp họ, đó cũng là cách tu hiệu quả, còn hơn xây 7 tòa tháp hay đi bộ từ VN đến Ai Cập.
Tụi mày thấy tao nói có đúng không? @ruataito
Tao thấy một tỳ kheo tuân thủ đủ giới luật thì đó chính là con đường trung đạovừa đúng lại vừa ko đúng,
con đường trung đạo nó ko có định nghĩa rõ ràng, nó chỉ có 1 khái niệm là nằm giữa sự thoải mái và sự khổ hạnh ép xác
nếu quá thoải mái sẽ dẫn đến sự ngu ngốc
ngược lại, nếu quá ép xác, khổ hạnh, sẽ dẫn đến sự hoang tưởng có thể đắc đạo
The second extreme, attakilamathānuyoga, refers to excessive austerity and self-denial in an attempt to attain spiritual purification. The same sutta states:
con đường đúng đắn là con đường trung đạo, ở giữa, ko thoải mái nhưng cũng ko ép xác, giác ngộ bằng trí tuệ
Conclusion: The Middle Way
Rejecting both extremes, the Buddha declared:
The majjhima-paṭipadā is neither indulgence nor self-torture, but a balanced path leading to wisdom (paññā), meditation (samādhi), and ultimately Nibbāna.
NHƯNG, như nào mới là thoải mái và như nào là khổ hạnh ép xác ? Cái này nó còn phụ thuộc vô tình trạng cơ thể, trạng thái thực tế, cái ông phật chỉ ra với dhutanga, là nó là 1 pháp tu khổ hạnh NHƯNG không ép xác, tức cái dhutanga này là 1 cái chặn trên, vì nếu 1 tu sĩ nào đó thực hành pháp tu khổ hạnh, ban đầu sẽ là ép xác, nhưng lâu dần cơ thể r sẽ quen, và khi này tu sĩ nhầm tưởng cảm giác "quen" này là thoải mái --> ép xác nhiều hơn cho tới khi thành bộ xương khô như này luôn :v
còn lý do vì sao tất cả giới nghiên cứu phật giáo này đều đéo hiểu con đường trung đạo, tại vì con đường trung đạo này là con đường cần phải thực hành, cần phải chiêm nghiệm, ko phải lôi kinh kệ ra soi từng chữ như nào là đúng như nào là đéo đúng, như nào là thoải mái như nào là khổ hạnh ép xác --> ko thực hành thì mãi mãi ko hiểu đc
còn 1 cái rất là "tự mâu thuẫn" của con đường trung đạo, đó là nếu ông nào đó hiểu ra, thì sẽ thấy con đường này hoàn toàn là do cá nhân tự diễn giải ra từ quá trình tu tập 13 hạnh đầu đà, nó xảy ra sự "tự mâu thuẫn", tức là sự nghi ngờ liệu có đang đi đúng chánh pháp, chánh đạo hay ko, hay là đang "tự phát minh" ra 1 loại phật giáo mới, và như vậy liệu có phải là tà đạo ?
tóm lại, thay vì đi thực hành con đường trung đạo phật để lại, thì giới phật giáo lại chìm đắm trong bắt lỗi con chữ kinh kệ, và lại càng chìm trong sự thoải mái ( sensual pleasures ) ---> càng bắt lỗi càng thấy tự mâu thuẫn, và càng vô minh
dhutanga nó như 1 cái đường cao tốc cho tu hành, nhưng có thể đi đc trên đó ko, thì còn phải tùy vô xe và động cơ, ông tuệ trước khi thực hành dhutanga, cũng phải mất đâu 2 năm tập ăn 1 bữa, tập ngủ ngồi r gì đó đ nhớ, với người thế tục ko tu thì nhìn dhutanga như khổ hạnh ép xác, còn với ông tuệ thì nó là trung đạo

5 giới cũng là con đường trung đạo mà 250 giới cũng là con đường trung đạoTao thấy một tỳ kheo tuân thủ đủ giới luật thì đó chính là con đường trung đạo
Tuân thủ không đủ giới luật để hưởng thụ cho bản thân là thiên vào dục lạc thân tâm