Live Nhiều người Hà nội "quay xe" vì biết nguồn gốc tổ tông mình chính là Thanh Hóa.

Xa quê hương một chiều khi viễn khơi. Bao tâm tư hẹn ngày vui khắp nơi. Thăng Long ơi không biết tới bao người. Đang sống với mong chờ , ngày vui về cố hương.”

hay quá, cảm hứng hát thêm câu
Quê hương ơi Việt Nam nước tôi
Tôi mong ngày về từng phút người ơi
Quê hương tôi nằm cạnh biển khơi
Cho tôi tiếng khóc từ khi ra đời
Bây giờ mình đã đôi nơi
Bây giờ buồn lắm người ơi
Thương cho ai chờ mong héo hắt

Nhắc qua để rồi đêm xuống ngậm ngùi
 
Túm váy lại là cứ hễ cái gì thối thối là thanh húa yêu à @Xoanquay ?
Khó hiểu, thật !
rZsg1R.jpg
 
Ngô Quyền là vị vua đầu tiên sau 1k năm bắc thuộc--> nguồn gốc người Việt ở Đường Lâm, Sơn Tây - Hà Lội à?
Đường Lâm thời nhà Đường là ở 1 huyện trong rừng Thanh Hóa sát Lào ngày nay nha mày
Đám tham gia khởi nghĩa với Dương Đình Nghệ toàn là sống ở Thanh Hóa-Nghệ An thôi, Đinh Công Trứ bố của Đinh Bộ Lĩnh với con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền cũng thế
Lê Hoàn cũng Thanh Hóa
Đến khi Lý Công Uẩn con cháu của dòng tộc họ Lý hào trưởng ở Bắc Ninh được 2 ông chú ông bác (hoặc 1 ông là bố) làm hòa thượng Phật giáo đi dùng mê tín, xem bói mê hoặc nhân dân chiếm được vương quyền thì mới hết Thanh Hóa, Nghệ An thao túng.
Nhưng họ Dương của Dương Đình Nghệ vẫn có quyền lực thao túng vương triều Lý Công Uẩn qua vợ cả họ Lê là con Lê Hoàn và Dương thị vợ cũ của Đinh Bộ Lĩnh. Họ Dương còn làm hoàng hậu đến tận đời vua thứ 3 Lý Thánh Tông, không có con nên bị Ỷ Lan giết chết
 
Sửa lần cuối:
hay quá, cảm hứng hát thêm câu
Quê hương ơi Việt Nam nước tôi
Tôi mong ngày về từng phút người ơi
Quê hương tôi nằm cạnh biển khơi
Cho tôi tiếng khóc từ khi ra đời
Bây giờ mình đã đôi nơi
Bây giờ buồn lắm người ơi
Thương cho ai chờ mong héo hắt

Nhắc qua để rồi đêm xuống ngậm ngùi
Em vẫn mơ một ngày nào,
Quê núi sông không còn Cộng thù
Trên con đường mòn sau cơn mưa chiều
Anh ôm đàn dìu em đi dưới trăng
 
Nếu tính theo hiện tại về tín ngưỡng tâm linh, thì hà nội có phải là địa bàn tụ hội các vị thần thánh, quan lớn...các kiểu mạnh nhất Vietnam đúng không. Các tỉnh khác cũng mạnh nhưng không bằng.
chứ còn gì nữa. Nhưng thời Nhà Lê thì thế nào. Vì LÊ Lợi là người Mường, viết chữ giun chữ dế giống bọn Lào chứ sao.
 
Tao lại nhẹ nhàng còm lại mày như sau : Món Phá lấu của người Triều Châu, Quảng Đông khi du nhập vào nam miền trung Việt Nam ( Xứ nẫu ) là đất vương quốc Champa mới + thêm mắm tôm , nước mắm ...Chứ nguyên gốc không có đâu . Tụi nó nhập nội tạng về chế biến thức ăn gia súc hoặc phục vụ sản xuất dược phẩm chứ đa số không ăn . Nước chấm phổ thông nhất của nó là chao , xì dầu hoặc nước chấm công nghiệp . Không có nước mắm tự nhiên làm từ cá .

OK t sẽ trả lời cho m 2 vế :

1. Nước mắm có phải thực sự có nguồn gốc từ Chăm pa không ?
Trước t thấy m cmt như này
Tao thì lại nghĩ mắm tôm , nước mắm...xuất phát từ tộc Khmer cơ . Nó chỉ xuất hiện khi các tù binh , thợ thủ công bị bắt ra bắc từ thế kỷ 15 sau chiến công hiển hách của Lê Thánh Tông phá hủy kinh thành Đồ Bàn cơ ! Dân Tàu Quảng Đông , Quảng Tây , Vân Nam...đa số nó có ăn nội tâm gia súc gia cầm đéo đâu ( Nên toàn xuất qua VN :)) ) Thời tiết , khí hậu lạnh sun chim làm mắm biết đến đéo bao giờ mới được ăn ? Chắc chắn mắm không phải là 36 và Tàu nghĩ ra đâu !

T khẳng định luôn là sai nhé, trước thế kỷ 15 nước mắm đã từng xuất hiện ở vùng Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam).

Bằng chứng thép là trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư có ghi rõ vào năm 997 (thời vua Lê Hoàn - Tiền Lê, tức là trước Lê Thánh Tông tận 500 năm), nhà Tống từng yêu cầu Đại Việt cống nạp nước mắm

6VHRu7H.png


Đoạn sử liệu này cho thấy muộn nhất là vào trước năm 997 tức thế kỷ 10, người Việt đã biết làm và dùng nước mắm và nước mắm đã được lưu vào sử sách.

Ngày xưa ở miền Bắc đúng là có lạnh, nhưng mùa hè vẫn nắng gay gắt, thậm chí bh t tin là mùa hè ở HN còn nóng kinh khủng hơn mùa hè ở SG gấp nhiều lần.
Cách làm mắm truyền thống ở miền Bắc tận dụng cái nóng hè để lên men, và vì thế quy trình làm mắm cũng dài hơn có khi kéo dài cả năm, trong khi miền Nam nắng ấm quanh năm mắm sẽ nhanh chín hơn.

2. Trung Quốc có ăn nội tạng động vật không ?

T kể cả ngày cũng không hết những món nội tạng nổi tiếng của TQ
- Tứ Xuyên Trùng Khánh : Mao Huyết Vượng, Phu thê phế phiến, ruột heo xào ớt,..
- Bắc Kinh : Lỗ chúc hỏa thiêu, Gan xào, Sách bò tái,..
- Quảng Đông : Ngưu Tạp (phá lấu), Dạ dày hầm tiêu xanh,..
- Sơn Đông : Cửu chuyển đại tràng
- Nam Kinh : Canh miến huyết vịt
- Đông Bắc : Dồi huyết
- Hồ Nam : Ruột già xào khô

除了桌子和椅子,凡是有腿的(东西)他们都吃
Thứ duy nhất có chân mà người TQ không ăn là bàn và ghế.

Ở đó mà bỏ nội tạng.
 
Sửa lần cuối:
Cả cái đất VN này đều có tổ tiên là 36 thôi, dù cay đắng nhưng cũng phải chấp nhận điều này
 
chứ còn gì nữa. Nhưng thời Nhà Lê thì thế nào. Vì LÊ Lợi là người Mường, viết chữ giun chữ dế giống bọn Lào chứ sao.
Tổ tiên Lê Lợi là người nói tiếng Tày Thái giống như người Lê trên đảo Hải Nam chứ ếu phải là Mường
Lúc Lê Khoáng cưới vợ thì có mấy thằng tù trưởng Mường chuyên cướp giết hiếp các dân khác trong vùng nên phải chuyển vùng sang huyện khác ở
 
Ngay cả chúa Nguyễn, hay vua Gia Long tổ tiên gốc cũng là từ Thanh Hoá vào Huế thôi các tml
 
Tổ tiên Lê Lợi là người nói tiếng Tày Thái giống như người Lê trên đảo Hải Nam chứ ếu phải là Mường
Lúc Lê Khoáng cưới vợ thì có mấy thằng tù trưởng Mường chuyên cướp giết hiếp các dân khác trong vùng nên phải chuyển vùng sang huyện khác ở
Giờ lòi ra thêm tổ tiên Lê Lợi là người Lào à :vozvn (21):
 
OK t sẽ trả lời cho m 2 vế :

1. Nước mắm có phải thực sự có nguồn gốc từ Chăm pa không ?
Trước t thấy m cmt như này


T khẳng định luôn là sai nhé, trước thế kỷ 15 nước mắm đã từng xuất hiện ở vùng Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam).

Bằng chứng thép là trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư có ghi rõ vào năm 997 (thời vua Lê Hoàn - Tiền Lê, tức là trước Lê Thánh Tông tận 500 năm), nhà Tống từng yêu cầu Đại Việt cống nạp nước mắm

6VHRu7H.png


Đoạn sử liệu này cho thấy muộn nhất là vào trước năm 997 tức thế kỷ 10, người Việt đã biết làm và dùng nước mắm và nước mắm đã được lưu vào sử sách.

Ngày xưa ở miền Bắc đúng là có lạnh, nhưng mùa hè vẫn nắng gay gắt, thậm chí bh t tin là mùa hè ở HN còn nóng kinh khủng hơn mùa hè ở SG gấp nhiều lần.
Cách làm mắm truyền thống ở miền Bắc tận dụng cái nóng hè để lên men, và vì thế quy trình làm mắm cũng dài hơn có khi kéo dài cả năm, trong khi miền Nam nắng ấm quanh năm mắm sẽ nhanh chín hơn.

2. Trung Quốc có ăn nội tạng động vật không ?

T kể cả ngày cũng không hết những món nội tạng nổi tiếng của TQ
- Tứ Xuyên Trùng Khánh : Mao Huyết Vượng, Phu thê phế phiến, ruột heo xào ớt,..
- Bắc Kinh : Lỗ chúc hỏa thiêu, Gan xào, Sách bò tái,..
- Quảng Đông : Ngưu Tạp (phá lấu), Dạ dày hầm tiêu xanh,..
- Sơn Đông : Cửu chuyển đại tràng
- Nam Kinh : Canh miến huyết vịt
- Đông Bắc : Dồi huyết
- Hồ Nam : Ruột già xào khô

除了桌子和椅子,凡是有腿的(东西)他们都吃
Thứ duy nhất có chân mà người TQ không ăn là bàn và ghế.

Ở đó mà bỏ nội tạng.
Nguồn gốc của nước mắm Việt Nam là kết quả giao thoa giữa nhu cầu bảo quản đạm cá trong môi trường nhiệt đới, truyền thống lên men cá – muối bản địa Đông Nam Á, và ảnh hưởng giao thương đường biển từ rất sớm, đặc biệt qua không gian văn hóa Chămpa ở miền Trung – Nam Trung Bộ. Về mặt khái niệm, “nước mắm” vừa là một kỹ thuật bảo quản, vừa là một sản phẩm gia vị – thực phẩm giàu protein, gắn chặt với hình thành bữa ăn cơm – cá của cư dân ven biển và đồng bằng sông nước Việt từ hàng nghìn năm.[1][2][3][4][5]

Khái niệm và từ nguyên “nước mắm”

Trong ngôn ngữ, “nước mắm” là tổ hợp giữa “nước” (chất lỏng) và “mắm” (cá hay thủy sản ướp muối, lên men), phản ánh đúng bản chất dung dịch dịch thể thu từ khối cá – muối sau quá trình chượp. Một số từ điển Anh–Việt và từ điển tiếng Anh ghi nhận “nuoc mam” vào tiếng Anh từ nửa sau thế kỷ XIX, mô tả là “sauce made of fish fermented in brine”, cho thấy đến giai đoạn này nước mắm Việt Nam đã đủ đặc trưng để được ghi nhận như một thực thể ngôn ngữ riêng.[6][7]

Từ “mắm” trong tiếng Việt liên hệ với các dạng “mắm cá”, “mắm tôm”, “mắm ruốc”, hàm ý kỹ thuật ướp muối – lên men thủy sản, trong đó nước mắm là tầng dịch thể chọn lọc, đạt trạng thái thủy phân protein cao hơn. Sự phân hóa giữa “mắm” (thể rắn/paste) và “nước mắm” (thể lỏng) phản ánh tiến trình chuyên môn hóa kỹ thuật chế biến từ bảo quản đơn thuần sang sản xuất gia vị lỏng có giá trị cảm quan cao.[3][5]

Bối cảnh khu vực: kỹ thuật lên men cá – muối ở Đông Nam Á

Về mặt khu vực, khảo cổ học và sử liệu cho thấy kỹ thuật lên men cá – muối xuất hiện rất sớm tại Đông Nam Á, dù chưa thể quy định chính xác “quốc gia khai sinh” theo nghĩa hiện đại. Một số tổng thuật lịch sử ẩm thực ghi nhận bằng chứng lên men cá khoảng thế kỷ III TCN tại không gian Đông Nam Á lục địa và hải đảo, trước khi lan rộng và hình thành các biến thể như nước mắm Việt Nam, nam pla Thái Lan, patis Philippines, và các dạng mắm cá ở Lào, Campuchia, Myanmar.[3]

Các nguồn nghiên cứu về nước chấm lên men ở châu Á nhấn mạnh đây là một trong những kỹ thuật bảo quản cổ xưa nhằm chuyển dư thừa cá mùa vụ thành nguồn đạm ổn định quanh năm. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, muối và quá trình lên men tự nhiên trở thành công nghệ bảo quản “rẻ tiền nhưng hiệu quả”, tiền đề cho việc hình thành các dòng nước mắm bản địa trước khi được chuẩn hóa thành sản phẩm hàng hóa.[5][3]

Tranh luận về mối liên hệ với garum Địa Trung Hải

Trong lịch sử toàn cầu, vùng Địa Trung Hải cổ đại (Hy Lạp – La Mã – Carthage) cũng phát triển các loại sốt cá lên men như garum/liquamen. Một số tác giả và bài báo phổ thông đã đặt vấn đề liệu nước mắm Đông Nam Á – trong đó có Việt Nam – có thể bắt nguồn từ garum, được truyền qua giao thương đường bộ và đường biển (Con đường Tơ lụa) hay không.[8][9][10]

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử ẩm thực và khảo cổ cho rằng khả năng “phát minh độc lập” là rất cao: cả ở Đông lẫn Tây, con người đều phải giải quyết vấn đề bảo quản cá thừa trong điều kiện không có lạnh; việc trộn cá với muối, để lên men, là một hướng giải quyết gần như “tự nhiên”. Hơn nữa, các chứng cứ về nước chấm cá lên men ở Đông Á và Đông Nam Á (ghi chép Trung Hoa từ khoảng thế kỷ III TCN, và bằng chứng khảo cổ khu vực) cho thấy kỹ thuật này ở phương Đông đã khá định hình, không thể giản lược thành “bản sao” của garum Địa Trung Hải.[9][8][3]

Không gian Chămpa và tiền đề nước mắm Việt

Nhiều tài liệu hiện nay coi vùng Phan Thiết và dải duyên hải Nam Trung Bộ – vốn là đất Chămpa trước khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt cuối thế kỷ XVII – là một cái nôi quan trọng của nước mắm Việt Nam. Một số nghiên cứu và bài viết lịch sử về “nước mắm tĩn” nhấn mạnh rằng ngư dân Việt khi vào khai phá đã tiếp thu kỹ thuật “ủ cá – muối trong chum (tĩn)” từ cư dân Chăm, rồi cải tiến và thương mại hóa, tạo nên ngành nghề nước mắm Phan Thiết – Phan Rang – Nha Trang sau này.[4][1]

Các khảo cứu về Chămpa mô tả vương quốc này như một “quyền lực hàng hải” ở Đông Nam Á, với mạng lưới thương mại nối Ấn Độ Dương – Trung Đông – Địa Trung Hải, khiến giả thuyết giao thoa kỹ thuật lên men cá qua tuyến thương mại biển càng có cơ sở. Việc tìm thấy dấu tích chum, vệt mặn và cá trong các di chỉ tàu buôn Chăm được cho là gợi ý rằng sản phẩm cá – muối (dạng mắm/nước mắm tiền thân) từng nằm trong hệ hàng hóa trao đổi, dù bằng chứng trực tiếp còn hạn chế và cần khai quật – phân tích thêm.[10]

Chứng cứ sử liệu về nước mắm trong sử Việt

Một số bài viết tổng thuật trích dẫn rằng sử liệu Việt Nam, đặc biệt là Đại Việt sử ký toàn thư, đã nhắc đến nước mắm như sản vật cống nạp của Đại Việt cho triều đình Trung Hoa từ khoảng thế kỷ X, cho thấy nước mắm đã là một sản phẩm đặc trưng đủ để được sử dụng trong cơ chế triều cống. Các nguồn này mô tả nước mắm như một “đặc sản” khiến hoàng đế phương Bắc ưa chuộng, trước khi vị trí bị nước tương (từ đậu nành) thay thế dần trong thị hiếu cung đình Trung Hoa từ thế kỷ XIV trở đi.[10]

Ngoài sử chính thống, nhiều ghi chép du ký, địa chí và văn bản thời trung – cận đại (kể cả nguồn phương Tây) mô tả thói quen dùng “sauce de poisson” ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, gắn với nghề làm mắm ven biển, cho thấy tới thế kỷ XVII–XVIII nước mắm đã phổ biến rộng và trở thành thành tố bắt buộc trong khẩu phần cư dân Việt. Trong nội địa, nước mắm được vận chuyển từ xưởng chượp ven biển lên các đô thị và vùng đồng bằng bằng ghe thuyền, thường đựng trong các chum sành, tĩn, góp phần hình thành mạng lưới thương mại thực phẩm liên vùng.[4][5]

Hình thành trung tâm nước mắm Phan Thiết – Phú Quốc

Trong lịch sử cận – hiện đại, Phan Thiết thường được xác định như một cái nôi và trung tâm thương mại nước mắm lớn của Việt Nam. Theo một số khảo cứu, nghề sản xuất nước mắm quy mô lớn tại đây gắn với sự phát triển của các làng chài Việt sau khi vùng đất này được sáp nhập (1693) và với các phong trào kinh tế – yêu nước đầu thế kỷ XX như phong trào Duy Tân và Liên Thành Thương Quán.[1][4]

Song song, Phú Quốc ở vùng biển Tây Nam trở thành trung tâm nước mắm nổi tiếng nhờ nguồn cá cơm phong phú, độ mặn nước biển và truyền thống ủ chượp trong thùng gỗ lớn, tạo ra loại nước mắm có hương vị và màu sắc riêng. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nước mắm Phú Quốc đã xuất hiện trên thị trường khu vực, cả trong nội địa và xuất khẩu, góp phần định hình “hình ảnh thương hiệu” nước mắm Việt trong con mắt thương nhân châu Á.[5]

Nước mắm như chiến lược sinh tồn dinh dưỡng

Trong cấu trúc khẩu phần truyền thống, nước mắm không chỉ đóng vai trò gia vị mà còn là nguồn cung đạm và vi chất quan trọng, đặc biệt đối với nhóm dân nghèo ít thịt. Nhiều bài viết phổ biến về văn hóa – ẩm thực Việt mô tả nước mắm như “linh hồn” của bữa cơm, bởi chỉ cần cơm, rau luộc và chén nước mắm (đôi khi pha thêm chanh, ớt) đã tạo nên một bữa ăn đủ vị, phản ánh chiến lược dinh dưỡng – kinh tế của nông dân và ngư dân.[2][5]

Về sinh hóa, quá trình lên men lâu dài biến protein cá thành acid amin tự do, peptid ngắn và các chất tạo vị, giúp tăng khả năng hấp thu và giá trị cảm quan, dù khía cạnh này thuộc phạm vi nghiên cứu hóa thực phẩm nhiều hơn là lịch sử. Chính sự kết hợp giữa chức năng dinh dưỡng, bảo quản, hương vị và chi phí thấp khiến nước mắm trở thành giải pháp tối ưu trong điều kiện kinh tế – xã hội nông nghiệp lúa nước, ít tài nguyên chăn nuôi đại gia súc.[3][5]

Các lớp tầng văn hóa – nhận diện bản sắc

Trong tiến trình lịch sử, nước mắm dần vượt ra khỏi vai trò vật chất để trở thành ký hiệu văn hóa của bản sắc Việt. Trong diễn ngôn hiện đại, sự phân biệt giữa nước mắm Việt Nam với các dạng nước chấm tương tự của Thái, Philippines, Trung Quốc… thường được gắn với yếu tố “thời gian chượp lâu”, “độ đạm cao”, “hương thơm nồng” như những chuẩn mực riêng, dù thực tế có nhiều chồng lấn kỹ thuật trong khu vực.[5][3]

Việc nước mắm được giữ nguyên tên gọi “nuoc mam” trong nhiều ngôn ngữ (như trong tiếng Anh) phản ánh một mức độ “đặc hóa” và nhận diện quốc tế, ngang với những biểu tượng khác như “pho”, “banh mi”. Trong nước, các trung tâm như Phan Thiết, Phú Quốc, Nha Trang, Cát Hải không chỉ là đơn vị sản xuất mà còn là “địa danh văn hóa” gắn với ký ức ẩm thực, di sản làng nghề và tranh luận đương đại về bảo hộ chỉ dẫn địa lý.[7][1][4][5]

Tranh luận hiện đại về “truyền thống” và “lai ghép”

Khi công nghiệp thực phẩm phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XX, nước mắm Việt Nam bước vào giai đoạn tái cấu trúc. Một mặt, các nhà máy áp dụng công nghệ thủy phân acid, phối trộn phụ gia, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo nên các loại “nước chấm” giá rẻ, ổn định cảm quan, song khác biệt đáng kể so với nước mắm lên men truyền thống về mặt lịch sử – kỹ thuật.[3][5]

Mặt khác, chính sự đối lập giữa “truyền thống” (lên men tự nhiên lâu năm, ít phụ gia, sản xuất thủ công) và “công nghiệp/pha chế” đã kích hoạt cuộc tranh luận về bản sắc và di sản: đâu là “nước mắm đúng nghĩa”, đâu là “nước chấm hóa học”. Trong tranh luận này, các nhà nghiên cứu lịch sử – văn hóa có xu hướng nhấn mạnh chiều sâu thời gian, không gian Chămpa – duyên hải Trung Bộ, nguồn gốc nông dân – ngư dân, như những tiêu chí cốt lõi để phân biệt “nước mắm như di sản” với “nước mắm như sản phẩm hàng hóa thuần túy”.[1][4][10][5]

Những vấn đề cần được xác nhận thêm

Tổng hợp các bằng chứng khảo cổ, sử liệu và nghiên cứu khu vực cho thấy nước mắm Việt Nam là kết quả của một tiến trình dài: từ kỹ thuật bảo quản cá – muối bản địa Đông Nam Á, qua tầng văn hóa Chămpa và giao thương Ấn – Địa – Địa Trung Hải, đến sự tiếp thu – biến đổi của cư dân Việt dọc duyên hải và các trung tâm như Phan Thiết, Phú Quốc. Về mặt học thuật, nguồn gốc nước mắm Việt cần được hiểu như một lịch sử “lai ghép” nhiều lớp, trong đó người Việt vừa là người kế thừa, vừa là chủ thể “chuẩn hóa” nước mắm thành biểu tượng ẩm thực – bản sắc quốc gia, hơn là một “phát minh đơn tuyến” có thể quy về một điểm khởi nguyên duy nhất.[9][4][10][1][5]

Nếu cần, có thể xây dựng tiếp các tiểu mục chuyên sâu (khai quật cụ thể, trích dẫn đoạn sử, thống kê niên đại, phân tích so sánh với nam pla/patis/garum) để chuyển bài này thành một chương chuyên khảo hoàn chỉnh.

Nguồn
[1] Fish sauce - Wikipedia https://en.wikipedia.org/wiki/Fish_sauce
[2] Exploring the Origins and Cultural Significance of Vietnamese Nuoc ... https://torontopho.wordpress.com/20...gnificance-of-vietnamese-nuoc-mam-fish-sauce/
[3] Fermented Fish Sauce From Ancient Wisdom to Pasteurized https://www.rimping.com/blog/7887/fermented-fish-sauce-pasteurization
[4] Nước mắm tĩn: The Rich History of Vietnamese Fish Sauce | Vân Vân https://getvanvan.com/blogs/behind-the-bowl/nuoc-mam-tin
[5] Fish Sauce (Nuoc Mam) - a Famous Vietnamese Condiment https://vietnamdiscovery.com/culture-arts/fish-sauce/
[6] NUOC MAM Definition & Meaning - Dictionary.com https://www.dictionary.com/browse/nuoc-mam
[7] NUOC MAM Definition & Meaning - Merriam-Webster https://www.merriam-webster.com/dictionary/nuoc mam
[8] Did southeast asian fish sauce evolve from Roman / Carthaginian ...
[9] Did fish sauce in Vietnam come from Ancient Rome via the Silk ... https://www.southeastasianarchaeolo...imilarities-between-nuoc-mam-and-roman-garum/
[10] Fish sauce - The soul of Vietnamese cuisine - Golden Spoon Awards http://goldenspoonawards.com/news/f...-vietnamese-cuisine-c943a2017031309223016.htm
 
Tổ tiên Lê Lợi là người nói tiếng Tày Thái giống như người Lê trên đảo Hải Nam chứ ếu phải là Mường
Lúc Lê Khoáng cưới vợ thì có mấy thằng tù trưởng Mường chuyên cướp giết hiếp các dân khác trong vùng nên phải chuyển vùng sang huyện khác ở
Nói tóm lại nó đéo phải bọn Bắc kì aka bọn Tàu dạt thế cho nhanh. NẾu thế thì đúng là bọn sử xếp Lê Lợi vào nhóm Mường - Trại là khả dĩ. Sau này bọn sử bịa vẹm + hay cả chính thể VNCH đều vì chống Tàu mà phải khẳng định cái giống nói đéo liên quan đến tàu. Nói tóm lại Thanh - Nghệ nói chung nó có cùng một giống, và đéo liên quan Lồn gì đến tổ tiên hay nguồn gốc của Nam Kì Cẩu Nhân cả. Nam kì cẩu nhân cũng giống như Bắc kì cẩu nhân, đều là các giống dân bị đồng hóa về văn hóa và ngôn ngữ, đéo đồng chủng.
 

Có thể bạn quan tâm

Top