Live Nhìn vào lịch sử con vẹm từ thời kỳ Hùng Vương chúng mày sẽ hiểu sao dân tộc này chọn búa liềm làm tư tưởng dắt lối

Marine Corp Commandant

Trưởng lão
United-Kingdom
Nếu chúng mày tìm hiểu lịch sử cổ xưa của vẹm từ thời Hùng Vương thì chúng mày sẽ hiểu được vì sao, 18 đời Hùng Vương không phải là vua theo nghĩa quân chủ mà là 1 hợp bang các bộ lạc ăn lông ở lỗ đứng đầu là 1 lang kun, thống trị mỗi bộ lạc đó lại là 1 lang có bất cứ quyền gì tùy thích, nói tóm gọn thời đó đúng nghĩa vô pháp vô thiên, chúng mày có thể đọc sử tích đẻ đất đẻ nước để hiểu rõ thời đó xứ vẹm loạn như thế nào,1 lang or thầy phù thủy có thể làm gì tùy thích kể cả cướp cạn rồi đến văn hoá hiến tế thờ tà thần (thờ Xương Cuồng), qua vài đời trưởng hợp bang bộ lạc thì xứ này xảy ra nội chiến giữa các Lang để rồi đến đời thứ 18 thì bị gia binh của An Dương Vương tràn xuống chiếm đóng hợp bang lạc việt tạo thành Âu Lạc, tiến hành đồng hoá văn hoá Tai Kadai vào văn hoá việt Mường, không cam chịu trước việc bị người Âu Việt chiếm đóng thì 1 số lang hợp tác với Triệu Đà lật An Dương Vương để đổi lấy quyền tự trị biệt lập ăn lông ở lỗ, sang đến thời Hán thì có cuộc nổi dậy Hai Bà cũng là cuộc nổi dậy duy nhất và cuối cùng của dân Việt Cổ bảo tồn những gì còn sót lại nhưng bị Mã Viện dập thẳng tay, không chỉ thế tất cả những gì về văn hoá, cách sống, thuật phù thủy...bị Mã Viện diệt hết sạch. Có 1 thứ về cuộc nổi dậy Hai Bà mà sử học không nói đến đó chính là những người Việt bị hán hoá đã giúp sức cho Mã Viện phản ánh xung đột nội bộ giữa 1 bên là đại diện văn hoá việt cổ mán mường và 1 bên đại diện tiếp thu văn hoá công nghệ Trung Hoa( gốc của đám sĩ phu bắc hề). Tưởng xứ này chịu tiếp thu văn hoá Trung Hoa hơn 1000 năm sẽ khá hơn nhưng ko, suốt 1 thời gian xứ này vẫn tương đối biệt lập không phát triển cái gì y hệt thời văn lang chỉ khác là đã có luật pháp, chữ viết, tôn giáo và hệ thống hành chính, nhưng tại các làng xã vẫn giữ nguyên hình thức biệt lập cai trị giống thời bộ lạc, phép vua thua lệ làng, mãi đến lúc bọn pháp vác súng thuộc địa hoá xứ này, xoá sổ những tàn dư sót lại từ thời việt cổ đến phong kiến thì cũng có khá hơn nhưng vẫn ko ăn thua để rồi dân xứ này quyết định chọn tư tưởng búa liềm làm kim chỉ nam giải phóng dân tộc thì phần còn lại chúng mày cũng tự hiểu rồi. Tóm gọn là quốc tế búa liềm không hề ép dân tộc này theo mà búa liềm là lựa chọn lịch sử của dân xứ này.
 
Nếu chúng mày tìm hiểu lịch sử cổ xưa của vẹm từ thời Hùng Vương thì chúng mày sẽ hiểu được vì sao, 18 đời Hùng Vương không phải là vua theo nghĩa quân chủ mà là 1 hợp bang các bộ lạc ăn lông ở lỗ đứng đầu là 1 lang kun, thống trị mỗi bộ lạc đó lại là 1 lang có bất cứ quyền gì tùy thích, nói tóm gọn thời đó đúng nghĩa vô pháp vô thiên, chúng mày có thể đọc sử tích đẻ đất đẻ nước để hiểu rõ thời đó xứ vẹm loạn như thế nào,1 lang or thầy phù thủy có thể làm gì tùy thích kể cả cướp cạn rồi đến văn hoá hiến tế thờ tà thần (thờ Xương Cuồng), qua vài đời trưởng hợp bang bộ lạc thì xứ này xảy ra nội chiến giữa các Lang để rồi đến đời thứ 18 thì bị gia binh của An Dương Vương tràn xuống chiếm đóng hợp bang lạc việt tạo thành Âu Lạc, tiến hành đồng hoá văn hoá Tai Kadai vào văn hoá việt Mường, không cam chịu trước việc bị người Âu Việt chiếm đóng thì 1 số lang hợp tác với Triệu Đà lật An Dương Vương để đổi lấy quyền tự trị biệt lập ăn lông ở lỗ, sang đến thời Hán thì có cuộc nổi dậy Hai Bà cũng là cuộc nổi dậy duy nhất và cuối cùng của dân Việt Cổ bảo tồn những gì còn sót lại nhưng bị Mã Viện dập thẳng tay, không chỉ thế tất cả những gì về văn hoá, cách sống, thuật phù thủy...bị Mã Viện diệt hết sạch. Có 1 thứ về cuộc nổi dậy Hai Bà mà sử học không nói đến đó chính là những người Việt bị hán hoá đã giúp sức cho Mã Viện phản ánh xung đột nội bộ giữa 1 bên là đại diện văn hoá việt cổ mán mường và 1 bên đại diện tiếp thu văn hoá công nghệ Trung Hoa( gốc của đám sĩ phu bắc hề). Tưởng xứ này chịu tiếp thu văn hoá Trung Hoa hơn 1000 năm sẽ khá hơn nhưng ko, suốt 1 thời gian xứ này vẫn tương đối biệt lập không phát triển cái gì y hệt thời văn lang chỉ khác là đã có luật pháp, chữ viết, tôn giáo và hệ thống hành chính, nhưng tại các làng xã vẫn giữ nguyên hình thức biệt lập cai trị giống thời bộ lạc, phép vua thua lệ làng, mãi đến lúc bọn pháp vác súng thuộc địa hoá xứ này, xoá sổ những tàn dư sót lại từ thời việt cổ đến phong kiến thì cũng có khá hơn nhưng vẫn ko ăn thua để rồi dân xứ này quyết định chọn tư tưởng búa liềm làm kim chỉ nam giải phóng dân tộc thì phần còn lại chúng mày cũng tự hiểu rồi. Tóm gọn là quốc tế búa liềm không hề ép dân tộc này theo mà búa liềm là lựa chọn lịch sử của dân xứ này.
Mày bạn thằng @Nguyễn Quang 01 hả
Ngu mà khoái nói
 
Tuy có 1 đoạn thôi nhưng có thằng nào tóm tắt cho tao xem thử tml thớt nó viết cái gì không? Nhìn đéo đọc nổi luôn.
1. Người Việt cổ, đặc biệt cho đến thời kỳ Văn hóa Đông Sơn, đã kết tập các bộ Sử thi Thần thoại cơ bản thành hình, và đưa ra lý giải về sự hình thành thế giới và con người theo nhãn quan thần thoại của người Việt cổ. Những cư dân của Văn hóa Đông Sơn, còn được gọi là người Nak, đã xây dựng một quốc gia cổ đại từ cách đây hơn 2,700 năm trước.
2. Sử thi của người Việt cổ là có thật, nó đã kể về sự khai thiên lập địa bởi Thần tối cao và tổ chức hệ thống các vị thần. Sử thi Việt cổ đã gần như hoàn thiện “Vạn thần điện” – tức phả hệ các vị thần linh trong huyền thoại cổ đại. Các vị thần đã khai sinh trời đất, tạo ra con người và dựng lên các mường các bản.
3. Theo thần thoại Việt cổ, thuyết tiến hóa được thừa nhận là có tồn tại. Nhưng khác với Darwin cho rằng con người tiến hóa từ loài vượn tối cổ, thần thoại Việt cổ tin rằng con người đầu tiên được tiến hóa từ loài chim cách đây hơn 3 vạn năm trước, nhờ sự thăng hoa và quyền pháp của chư Thần đã ban cho. Những người tiến hóa từ loài chim đã quần tụ ở mảnh đất của phương Nam và kiến lập các thị tộc đầu tiên mà sau này được phiên âm hóa là “Hồng Bàng thị.” Lại nữa, cách đây hơn 1,5 vạn năm trước, Thiên Đế theo thần thoại đã biến những con cá của mình thành rồng, những con rồng ấy sau 1000 năm bèn mọc tay chân đi lên bờ và biến thành con người. Những người được tiến hóa từ loài rồng đã quần tụ ở mảnh đất của phương Bắc thuộc phía nam sông Trường Giang, về sau, bộ phận những người rồng đã tiến xuống phương Nam phối hôn với những người tiến hóa từ loài chim nên đã hình thành một chủng người mới – người K’Wat, tức người Việt cổ.
4. Kể từ khi người chim xuất hiện 3 vạn năm trước, loài người đã sinh sôi nhiều và tản đi khắp mặt đất, sinh ra các mường khác nhau. Đến quãng 1,5 vạn năm trước, hai hệ rồng–chim đã kết hợp thành giống người mới, họ sống ở phía nam Ngũ Lĩnh và xây dựng các bộ tộc lớn. Có hai vợ chồng sống hàng trăm tuổi, và đã trở thành minh chủ của tất cả các bộ tộc phía Nam này, người chồng đó về sau được xưng hiệu là Thạp Nùng – tức Thần Nông theo cách gọi của người phương Bắc. Con cháu của Thạp Nùng về sau có một chi hệ đã đi về Nam, chi hệ đó được hình tượng hóa thành Kinh Dương Vương theo truyền thuyết của người Kinh.
5. Kinh Dương Vương là sự thần thoại hóa của chi hệ đi về phương Nam cách đây hơn 4,5 nghìn năm về trước. Tuy nhiên, nhân vật lãnh tụ của chi hệ này hoàn toàn không phải như truyền thuyết người Kinh sau này hư cấu. Vị ấy không hề xưng hiệu là Kinh Dương Vương, cũng không hề có quốc hiệu nào gọi là Xích Quỷ. Tất cả đều là sự thêu dệt lầm lẫn. Đây chính là căn cứ quan trọng để tôi có thể quyền phủ nhận và bài bác mọi luận điệu của bác Lâm. Trong tập 1, tôi đã kể cho các bạn cuộc đối thoại giữa tôi và nhân vật bác Lâm ở Gò Vấp. Các kiến thức của bác Lâm, mặc dù là một người uyên bác và lão thành khả kính, nhưng chúng đều là ngụy biện và sai lầm. Sự thật không hề đúng như vậy!
6. Những nhân vật huyền thoại được gán cho danh hiệu Kinh Dương Vương kia cũng không phải là cha của Lạc Long Quân. Chúng ta nên nhớ, người Việt cổ hàng ngàn năm trước chưa có sự ảnh hưởng của văn hóa người Hán, do đó họ không thể có những danh hiệu cho lãnh tụ theo phong cách Hán–Việt như “Kinh Dương Vương” hay “Lạc Long Quân” được. Đó rõ ràng là những danh hiệu ngụy tạo của người Việt thời trung cổ, mãi đến thế kỷ 13-15 mới xuất hiện. “Lạc Long Quân” trong nguyên bản của thần thoại Việt cổ chính là một nhân vật được gọi là CUN THUỒNG LUỒNG. Tuy nhiên, Cun Thuồng Luồng không phải là con của Kinh Dương Vương, vì thời đại mà nhân vật này sống cách thời kỳ của chi hệ “Kinh Dương Vương” những 500 năm. Truyền thuyết người Kinh đã lầm!
7. Cun Thuồng Luồng đã kết hôn với người phụ nữ là dòng dõi của loài tiên chim. Theo thần thoại, tổ tiên của người phụ nữ này là một cặp vợ chồng chim: chồng là chim Ây, vợ là chim Ú, họ giao phối và đẻ ra trăm (hay nghìn) trứng, trứng ấy nở ra người. Những người này kết hợp tên của cha mẹ mình, Ây + Ú = Âu (hay Ôu). Về sau, những người Âu này khi gặp người rồng phương Bắc, họ đã có hai thái độ khác nhau: những người không chịu giao phối với người rồng đã đi lên vùng cao phía bắc tương đương với biên giới Việt Nam–Trung Quốc hiện nay, khoảng các huyện ở tỉnh Quảng Tây, và Cao Bằng, Lạng Sơn để cư trú, họ là tổ tiên của người Tày, người Nùng, người Bố Y, người Choang v.v... Thời xưa, người phương Bắc gọi họ là người Dương Việt, người Âu Việt, người U Việt, người Dạ Lang...; còn những người chim chịu giao phối với người rồng thì ở vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam, trong đó người phụ nữ đã kết hôn với Cun Thuồng Luồng. Nàng được người Việt sau này gọi là “Âu Cơ,” tuy nhiên, “Âu Cơ” không phải là tên thật, chỉ là một biệt danh, nó chỉ mang nghĩa là “người con gái của tộc chim Ây Ú.”
8. Vợ chồng Cun Thuồng Luồng và nàng Âu Cơ sau này đã tách riêng ra. Cun Thuồng Luồng đã dẫn theo các con của mình đi về vùng đồng bằng sông Hồng, sau đó ông tiếp tục đi xuống đến khu vực Nghệ An hiện nay và đã qua đời ở đó. Chính vì vậy, mộ phần của nhân vật Lạc Long Quân nhất định phải nằm ở Nghệ An chứ không phải nằm ở Bắc Ninh hay Hà Nam như nhiều người sau này đã ngụy tạo.
9. Âu Cơ sống trên khu vực núi thuộc tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh. Khác với truyền thuyết người Kinh, vợ chồng Cun Thuồng Luồng không phải là cha mẹ của Hùng Vương. Nhân vật Hùng Vương chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, cách thời đại của Cun Thuồng Luồng hơn 1,000 năm, do đó thật sai lầm khi nói các vua Hùng đã cai trị “nước Văn Lang” từ sau Lạc Long Quân suốt 2,000 năm. Nhà sử học Trần Trọng Kim đặt nghi vấn hoàn toàn đúng, không thể có một triều đại Hùng Vương kéo dài 2,000 năm với mỗi ông vua cai trị lên đến 150 năm được. Âu Cơ không truyền ngôi cho con trai nào là Hùng Vương cả. Trái lại, bản thân Âu Cơ vừa là một nữ chúa, vừa là một phù thủy. Sau khi chết, người kế thừa Âu Cơ là con gái. Suốt từ thế kỷ 20 cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên, trên lãnh thổ Bắc Bộ Việt Nam không hề có một quốc gia thống nhất nào cả. Mỗi khu vực có những bộ tộc khác nhau cư trú, đứng đầu các bộ tộc này không phải là đàn ông mà là đàn bà. Tín ngưỡng Việt cổ đi theo hình thức mẫu hệ, cho nên những lãnh tụ bộ tộc chính là các bà cốt, hay các “thần nữ.” Các thần nữ này cũng chính là những truyền nhân của tín ngưỡng tôn giáo Việt cổ, là nền tảng để hình thành các pho sử thi thần thoại của Việt Nam thời Đông Sơn sau này.
10. Thời đại Hùng Vương chính là thời đại văn hóa Đông Sơn, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 tCN, và đúng như huyền thoại đã nói, thời đại này kéo dài với 18 đời lãnh tụ mà người Việt Nam sau này gọi là “Mười tám đời vua Hùng.” Tuy nhiên, điều quan trọng là, 18 đời vua này không thực sự là... “vua” theo ý nghĩa quân chủ phong kiến. 18 vị vua này cũng không phải hoàn toàn là nam giới, trong số đó có 7 vị vua là nữ giới. Đáng chú ý hơn hết, mối quan hệ của mỗi đời vua này đều không phải là cha con. Chế độ Hùng Vương không phải là chế độ quân chủ thế tập “cha truyền con nối,” họ không có bất cứ quan hệ huyết thống nào cả, mà được lên ngôi bằng phương thức... “bầu cử.” Cũng xin tiết lộ thêm, thời kỳ Hùng Vương này cũng không hề có quốc hiệu nào tên là “Văn Lang” cả, đó là một cái tên bịa đặt của thế kỷ 15 tại Việt Nam.
11. Kho tàng tri thức cổ đại và quyền pháp siêu nhiên tâm linh của người Việt cổ đã hun đúc qua các đời, đạt đến thịnh vượng vào thời đại của vị Hùng Vương thứ Sáu – tức là Lang Liêu theo truyền thuyết của người Kinh. Ông vua này không những nổi tiếng với câu chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy, mà còn rất nổi tiếng là một vị minh quân, hơn nữa cũng là một phù thủy có quyền lực tối cao, có thể ví von ông giống như vua Solomon của người Do-thái vậy. Ông đã để lại một danh tác mà đến nay bị thất truyền, TLẦY-DHAI-NĂK (Trời Đất Nước), được xem là một cuốn “Bách khoa thư” cổ đại của người Việt cổ, là nòng cốt của hệ kinh điển Hồng Bàng.
12. Thời đại của Hùng Vương thứ Sáu cũng là thời điểm xã hội Việt cổ bước vào một thế kỷ mới – Bình minh của Triết học bừng sáng khắp thế giới, và ánh sáng của nó cũng lan tỏa đến Bắc Bộ Việt Nam. Một phong trào thời đại đã khai sinh tại Việt Nam cổ đại, PHONG TRÀO NGƯỜI SÁNG, xuất hiện những bậc thầy luyện pháp và minh triết với 12 trường phái cổ đại.
13. Chế độ Hùng Vương đến thế kỷ thứ 3 tCN thì suy thoái, xảy ra nội chiến. Vị Hùng Vương thứ 18 đã kết thúc cuộc đời mà Hội đồng các Trưởng lão đã không kịp tiến hành tôn phong cho người kế vị tiếp theo. Lãnh thổ của 15 bộ lạc người Nak bị phân hóa thành các thế lực đánh nhau mà không biết rằng, tai họa từ phương Bắc sắp ập đến. Cuối cùng, 15 bộ lạc của người Nak đã bị quy phục dưới sự chinh chiến của thủ lĩnh người Âu – Sùa Pắn, hay An Dương Vương.
14. An Dương Vương đã thống nhất 9 Nậm của người Âu và 15 Nak của Hùng Vương, cai trị 24 bộ lạc, xây tòa thành Con Ốc (Cổ Loa thành), đáng lý sẽ có công trạng gần giống như Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa, nhưng vì chính sách quản trị tồi tệ, xem thường những tập tục và nguyện vọng của các bộ lạc, không biết đoàn kết lòng người, xúc phạm các biểu tượng thần linh của người Nak, làm chia rẽ dân tộc, từ đó dẫn đến sự phản bội của những thành phần bất mãn, cuối cùng đại bại trong tay của người nước Nam Việt.
15. Chúa của người Nam Việt vốn dĩ là người nước Triệu, khác với suy nghĩ của nhiều người Việt Nam hiện nay, Triệu Đà không thừa nhận mình là người Hán (vì ông ta chưa bao giờ xem mình là thần tử của nhà Hán), ông ta chỉ chấp nhận huyết thống của mình là người nước Triệu và có quan hệ bà con xa với Triệu vương thời Xuân Thu–Chiến Quốc. Hơn nữa, ông ta xưng quốc hiệu là Nam Việt, chính chữ “Việt” này đã làm lung lạc người Nak, và họ cho rằng người Nam Việt có lẽ còn tử tế hơn người Âu. Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại của An Dương Vương, và cuối cùng người Nak chịu quy phục Đế quốc Nam Việt.
16. Sự xâm lược của nước Đại Hán đã khiến các dân tộc Âu và Nak nổi dậy chống cự mạnh mẽ. Nhưng người Hán đã khôn khéo học theo cách cai trị của người Nam Việt, chỉ quản lý người Nak trên mặt danh nghĩa, cho phép chế độ tự trị kéo dài hơn một trăm năm. Mâu thuẫn nội bộ của người Nak ngày càng gia tăng, khiến cho văn hóa của họ ngày càng thụt lùi và có nguy cơ bị tiêu ma dưới sức lấn ép của văn hóa phương Bắc.
17. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng không phải là “đền nợ nước, trả thù chồng” như các pho sử diễm tình sau này thêu dệt. Chồng của bà Trưng không hề bị giết trước khởi nghĩa, ông ta sau khởi nghĩa mới bị trúng độc chết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của văn hóa Việt cổ đối với văn hóa Hán, sự thất bại của nó rốt cuộc đã dẫn đến ba lần đại thảm sát của Mã Viện giết sạch 2/3 người Nak và đem 1/3 số còn lại đồng hóa vào người Hán. Dưới bàn tay sắt máu và tàn ác của người Hán, nền văn hóa Việt cổ với đầy đủ tính văn minh và nhân bản đã bị xóa sạch hoàn toàn, khiến người Việt Nam hiện đại không còn một chút nhận thức gì về sự tồn tại của nó nữa.
18. Các thành phần chủng tộc của người Nak bị phân hóa nghiêm trọng. Trong số 1/3 người Nak còn sống sót, phần lớn họ đã bị dồn vào đồng bằng sống chung với người Hán, trải qua gần 500 năm tủi nhục, họ đã hình thành người Kinh như hiện nay

Tau là ba mày
Thằng khùng
 
Có gì khó đâu cuộc chiến ngày xưa là cuộc chiến ý thức hệ giữa Hiên Viên Hoàng đế đại diện cho tộc Hoa Hạ trồng kê với Viêm Đế đại diện cho tộc Bách Việt trồng lúa nước!
Kết quả là Hiên Viên Hoàng Đế chiến thắng và cai trị đồng hóa 9/10 tộc Bách Việt cả về tiếng nói lẫn diện tích lãnh thổ !
Chỉ có 1 đám nhỏ là tộc Kinh Việt chạy trốn về Phú Thọ dựng lên nước Đại Việt độc lập đến bây giờ !
Sau đó đến thời Trịnh Nguyễn Đại Việt cũng di cư vào Nam đồng hóa được đám Chăm ở Trung Kì vs Miên ở Nam Kì hình thành nên nước Việt Nam !
Sắp tới nước Nam Việt bên Trung sẽ tái lập quốc riêng Sở Quốc dưới sự bảo trợ của Mỹ Quốc !
Đám Nam Việt là con lai của Hoa Hạ vs Bách Việt !
 

Có thể bạn quan tâm

Top