Có Hình Hoàng đế Quang Trung đánh bại thực dân Pháp, thống nhất đất nước từ năm 1789?

conchonhoi

Bò lái xe

Từ nghiên cứu, KS Vũ Đình Thanh đưa giả thuyết, vua Quang Trung thống nhất đất nước từ năm 1789, đánh bại thực dân Pháp, giữ độc lập dân tộc thêm gần 100 năm.

Bản đồ quân sự Pháp hé lộ: Hoàng đế Quang Trung thống nhất đất nước từ năm 1789​

Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, thời kỳ Tây Sơn luôn là một bản anh hùng ca rực rỡ với những chiến công hiển hách. Tuy nhiên, đằng sau hào quang đó vẫn tồn tại những câu hỏi hóc búa khiến các nhà quân sự và sử học trăn trở suốt nhiều thế kỷ.

Sau 10 năm nghiên cứu tư liệu lưu trữ tại châu Âu, kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật và đại diện NPO ALMAZ (Nga) tại Việt Nam đã đưa ra nhiều giả thuyết, nhận định mới. Trong đó, đáng chú ý, ông cho rằng, hoàng đế Quang Trung đã thống nhất Đại Việt từ ngoài ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc từ năm 1789. Nguyễn Ánh từ năm 1788 đến năm 1792 là kẻ khốn khổ, chắc chắn không có mặt ở Gia Định của Đại Việt.

z7810130345184-d65660ec937517222d1bae27ec2fd9b8.jpg
Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu (phải) và kỹ sư Vũ Đình Thanh. Ảnh: NVCC.
Nghiên cứu này của kỹ sư Thanh đã được Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu kiểm tra kỹ lưỡng và đồng tình.

Bản hịch năm 1792 và sự thật về "kẻ khốn khổ" Nguyễn Ánh lưu lạc hải ngoại​

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, ông và Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cùng nhiều cán bộ quân đội nhiều năm trăn trở trước một loạt nghịch lý lịch sử: Vì sao năm 1789, khi Hoàng đế Quang Trung dốc toàn lực đại phá quân Thanh thì Nguyễn Ánh, theo sử sách đã chiếm Gia Định từ năm 1788 lại hoàn toàn im tiếng? Tại sao sau chiến thắng vang dội ấy, Quang Trung không tiến quân vào Gia Định tiêu diệt Nguyễn Ánh? Vì lý do gì, năm 1791, nhà vua đưa hàng vạn quân sang Lào nhưng vẫn không đánh Gia Định?

“Những diễn biến này dường như không phù hợp với tư duy của một thiên tài quân sự như Quang Trung”, ông Thanh phân tích.

z7810130585853-1f58a1c04fba63f5025c28447c8c29c7.jpg
Bản hịch năm 1792 (bản tiếng Pháp do giáo sĩ lưu giữ) cho thấy toàn dân Việt Nam không biết “kẻ chúa khốn cùng” (misérable) ở đâu. Nguồn: VĐT.
Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, một trong những câu trả lời thuyết phục nhất nằm trong bản hịch viết ngày 27/8/1792 của Hoàng đế Quang Trung được các giáo sĩ phương Tây ghi lại và công bố trên tờ Tin tức Giáo hội Phương Đông (Nouvelles des Missions Orientales). Theo bản hịch này, sau năm 1785, Nguyễn Ánh đã không còn hiện diện tại Đại Việt trong nhiều năm. Điều này giúp lý giải hàng loạt “điểm nghẽn logic” trong lịch sử quân sự Tây Sơn.

Trong bản hịch còn ghi rõ Nguyễn Ánh là một "kẻ khốn khổ" (misérable) đang lang thang cầu viện tại các vương quốc bất hạnh ở châu Âu, còn ở Gia Định chỉ còn "đầy xương cốt của họ" tức xương cốt của lính và tướng dưới quyền Nguyễn Ánh. Toàn thể Nhân dân khi đó "đã là nhân chứng" cho việc này.

Theo nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh, căn cứ theo bản hịch năm 1792, các tấm bản đồ và rất nhiều tài liệu khác còn lưu trữ ngày nay, từ năm 1789, hoàng đế Quang Trung đã thực sự thống nhất Đại Việt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm cả chủ quyền vững chắc tại Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo và Phú Quốc. Còn Nguyễn Ánh trong giai đoạn 1788-1792 không hề xuất hiện tại Gia Định.

Câu chuyện đoàn thuyền 50 chiếc chở gạo của Nguyễn Ánh giúp quân Thanh chỉ là giai thoại không thuyết phục. “Bởi nếu Nguyễn Ánh đang lưu lạc tại châu Âu ăn bánh mì, một cân gạo cũng không có thì làm sao còn có cả đoàn thuyền 50 chiếc? Cũng vì thế, mà theo giai thoại, đoàn thuyền đã bị bão đánh chìm (vì thực tế không có)”, kỹ sư Thanh phân tích.

z7810130818321-8835a31ec8ffc86297cd41348d0e3cb6.jpg
Theo ông Thanh, việc vua Quang Trung không đánh Gia Định sau năm 1789 đơn giản vì nơi đó Nhân dân đang sống yên vui dưới triều đại Tây Sơn. Nguồn: VĐT.

Theo ông Thanh, việc vua Quang Trung không đánh Gia Định sau năm 1789 đơn giản vì nơi đó Nhân dân đang sống yên vui dưới triều đại Tây Sơn, không có đối thủ để đánh. Trong bản hịch, hoàng đế Quang Trung thậm chí còn trách dân Gia Định tại sao khi giặc phương Tây "mắt rắn xanh" mang tàu đồng, khinh khí cầu đến chiếm đất lại sợ hãi bỏ chạy thay vì chiến đấu.

"Hoàng đế Quang Trung, người mà toàn dân Việt Nam phải mang ơn vì đã mang lại 'sổ đỏ' cho toàn dân ta từ ải Nam Quan đến địa đầu mũi Cà Mau tất nhiên phải hành động như một thiên tài quân sự bách chiến bách thắng như mọi người đều biết", kỹ sư Vũ Đình Thanh khẳng định.

Bản đồ Vauban Gia Định là bằng chứng vật lý thuyết phục​

Một trong những bằng chứng rõ ràng nữa, theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, là bản đồ thành Vauban Gia Định mang con dấu mộc đỏ của Cục Lưu trữ Bản đồ thuộc Bộ Hải quân Pháp. Qua giám định kỹ thuật, loại ấn triện hình mỏ neo này chỉ tồn tại trong giai đoạn 1799-1804, chứng minh tòa thành chính thức là tài sản quân sự của nước Pháp, hoàn thiện vào năm 1799 chứ không phải năm 1790 như sử cũ mô tả.

z7810131106470-23eb3ef19edf06e6302c7f7690601101.jpg
Bản đồ thành Vauban Gia Định. Nguồn: VĐT.
Đặc biệt, dòng chữ tiếng Pháp ghi trên bản đồ đã là bằng chứng rõ nhất: “Đại tá Victor Olivier lên ý tưởng năm 1790 tại Mauritius và kỹ sư Brun thực hiện đo đạc (levé) bản đồ thành Vauban năm 1795 khi thành hoàn thiện phần thô”.

Tham vấn từ các chuyên gia kỹ thuật xây dựng Pháp cho thấy, một siêu pháo đài với công nghệ Vauban phức tạp đòi hỏi tới 10.000 lính thợ cơ khí lành nghề của Pháp (do thợ bản xứ thời đó không nắm được công nghệ này) và phải thi công liên tục ít nhất 6 năm (thực tế, nhiều thành Vauban bên Pháp có quy mô nhỏ hơn Gia Định cũng cần tối thiểu 6 năm, thậm chí có thành xây mất 30 năm).

ban-do-con-dao.jpg
Bản đồ Côn Đảo mang dấu của Bộ Ngoại giao Pháp. Ảnh: NVCC.
Như vậy, mốc thời gian logic nhất là thành được khởi công năm 1792 và hoàn thiện năm 1799 với tốc độ thi công cấp tốc của công binh Pháp. Kết hợp với con dấu của Bộ Ngoại giao Pháp năm 1792 trên bản đồ Côn Đảo, có thể khẳng định thực dân Pháp chỉ chiếm được Côn Đảo và Gia Định từ năm 1792 sau khi đổ bộ hàng vạn quân vào Đại Việt. Hoàn toàn không có chuyện Nguyễn Ánh thiết kế và xây xong tòa thành khổng lồ này vào năm 1790.

Nguyên nhân thực dân Pháp dốc toàn lực vào Đại Việt không chỉ để hỗ trợ Nguyễn Ánh mà là vì một ván bài sinh tử: Diêm tiêu. Sau khi mất nguồn cung diêm tiêu tại Ấn Độ vào tay người Anh, nước Pháp rơi vào thế đường cùng vì không có nguyên liệu chế thuốc súng. Họ buộc phải nhắm đến các hang dơi tại Đại Việt.

Thực dân Pháp đã huy động từ 15.000 đến 66.200 quân Pháp - Ấn, rút quân từ các thuộc địa lâu năm như Pondichéry để tập trung đánh Đại Việt, thậm chí thiết lập nhà máy diêm tiêu khổng lồ tại Bình Thuận.

"Lịch sử truyền thống thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chính trị, cảm xúc và những văn tự được phe chiến thắng nhào nặn. Nhưng toán học, vật lý, hóa học và sổ sách kế toán thì không biết nói dối”, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay.

Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống thực dân Pháp

Từ việc nghiên cứu Hiệp ước Versailles năm 1787, các tài liệu của John Barrow và hồ sơ hàng hải Pháp, kỹ sư Vũ Đình Thanh đưa ra nhận định: cuộc chiến giai đoạn 1792-1802 không phải nội chiến, mà là cuộc chiến quy mô lớn chống lực lượng viễn chinh Pháp.


7.jpg
Nội dung hiệp ước Versailles từ sách của John Barrow. Nguồn: VĐT.
Hiệp ước Versailles tồn tại hai phiên bản khác nhau. Một phiên bản thường được nhắc đến gồm 1.650 quân và 4 chiến hạm; còn phiên bản khác, theo mô tả của John Barrow, gồm 20 chiến hạm và 7 trung đoàn với khoảng 15.000 quân. Kỹ sư Thanh cho rằng, vua Pháp đã ký hiệp ước 1787 với phiên bản 1.650 lính và 4 tàu chiến.

Đội quân đầu tiên gồm 1.650 lính Pháp đã tới Đại Việt năm 1788 và bị quân Tây Sơn tiêu diệt gần như hoàn toàn chỉ trong một trận đánh. Chỉ duy nhất chiến hạm Méduse chạy thoát cùng khoảng 80 binh sĩ, Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh sang Mauritius.

Chính từ thất bại này, phía thực dân Pháp mới tiếp tục nâng mức can thiệp quân sự lên quy mô lớn hơn nhiều nên có phiên bản thứ 2 - phụ lục của hiệp ước với quân số khổng lồ. Đặc biệt là với vũ khí hiện đại nhất thế giới như khinh khí cầu quân sự đã được trang bị cho đội quân viễn chính năm 1792 đánh Đại Việt trước khi chính thức trang bị cho quân đội Pháp năm 1794.

Theo kỹ sư Thanh, sức mạnh giúp quân Tây Sơn đối đầu với lực lượng viễn chinh hùng hậu của Pháp chính là vũ khí phốt pho. Loại vũ khí này được chế tạo từ phân chim và phân dơi tại các hòn đảo trên Biển Đông, khiến tất cả các đảo này bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa trở thành tài sản sống còn của Đại Việt.

Sau thất bại trước Anh, thực dân Pháp mất nguồn diêm tiêu từ Ấn Độ, nguyên liệu chính để sản xuất thuốc súng. Chính nhu cầu kiểm soát nguồn diêm tiêu từ các hang dơi và đảo có phân chim tại Đại Việt đã khiến thực dân Pháp thông qua công ty Đông Ấn Pháp (tên chính thức Compagnie des Indes orientales et de la Chine - Công ty Đông Ấn và Trung Quốc) dồn quân từ nước Pháp và tất cả các thuộc địa , tập trung lực lượng lớn vào khu vực Đông Dương cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng cũng chính vũ khí phốt pho của Đại Việt đã khiến quân đội Pháp sa lầy, dẫn đến vụ phá sản nổi tiếng của Công ty Đông Ấn Pháp vào năm 1793. Việc đổ tiền của và quân lính vào chiến trường Việt Nam mà không thu được kết quả đã làm ngân khố Pháp cạn kiệt, là nguyên nhân trực tiếp khiến nhân dân Pháp nổi dậy lật đổ và hành quyết vua Louis XVI vào đầu năm 1793.

Ngay cả sau khi Hoàng đế Quang Trung qua đời, vương triều Cảnh Thịnh với vũ khí phốt pho vẫn duy trì được nền độc lập, suýt đánh bại 66.200 quân Pháp - Ấn và chỉ chịu khuất phục khi Napoleon đổ hàng vạn quân hải quân cùng cướp biển nhà nước đánh bất ngờ Phú Xuân năm 1801. Sức mạnh của Tây Sơn đã giữ cho Đại Việt độc lập thêm gần 100 năm, ngăn chặn kịch bản Nguyễn Ánh bị biến thành vua bù nhìn ngay lập tức như các quốc gia tại Ấn Độ hay châu Phi.

"Chính sức mạnh của Tây Sơn đã giữ cho Đại Việt được độc lập thêm gần 100 năm nữa, con dân Việt không bị bán làm nô lệ như ở nhiều nước khác. Đây là sự thật lịch sử mà chúng ta cần phải biết và không được lãng quên”, kỹ sư Vũ Đình Thanh nhấn mạnh.

z7810131917843-d30395b47919f18ec3be9ed753fc2863.jpg
Dù Hoàng đế Quang Trung mất đi, nhưng Tây Sơn với vũ khí phốt pho đã suýt đại thắng đội quân 66.200 quân Pháp/Ấn, qua đó kéo dài nền độc lập của Đại Việt thêm gần 100 năm.
Kỹ sư Thanh cũng đưa ra bằng chứng từ cuốn sách Lettres édifiantes et curieuses (tạm dịch: Những bức thư giáo huấn và kỳ thú), xuất bản năm 1780, trong đó có kèm bản đồ Côn Đảo ghi rõ trại lính Pháp.

Điều này chứng minh rằng sau thất bại trước Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã chạy ra Côn Đảo, nơi có một thực thể quân sự Pháp đang đóng quân để nương tựa. Trước tình thế đó, Tây Sơn đã cử danh tướng Trương Văn Đa chỉ huy hàng chục chiến thuyền để tiêu diệt đơn vị quân đội Pháp này. Quân Pháp chỉ kịp đưa Nguyễn Ánh chạy thoát. Đó chính là sự mở đầu cho sự "hợp tác", hay nói đúng hơn là sự bán nước của Nguyễn Ánh cho Pháp.

Những nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh đã mở ra một hướng tiếp cận khác về giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XVIII, đặc biệt liên quan vai trò của Hoàng đế Quang Trung, triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh và sự can dự của thực dân Pháp tại Đại Việt. Công trình góp phần gợi mở thêm góc nhìn về tinh thần giữ nước, ý chí độc lập dân tộc và những cuộc kháng chiến quyết liệt của người Việt trong một giai đoạn nhiều biến động của lịch sử.

Nghiên cứu cần tiếp tục được các nhà khoa học, nghiên cứu trong và ngoài nước thẩm định, phản biện và kiểm chứng thêm từ nhiều nguồn tư liệu độc lập.
 

Từ nghiên cứu, KS Vũ Đình Thanh đưa giả thuyết, vua Quang Trung thống nhất đất nước từ năm 1789, đánh bại thực dân Pháp, giữ độc lập dân tộc thêm gần 100 năm.

Bản đồ quân sự Pháp hé lộ: Hoàng đế Quang Trung thống nhất đất nước từ năm 1789​

Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, thời kỳ Tây Sơn luôn là một bản anh hùng ca rực rỡ với những chiến công hiển hách. Tuy nhiên, đằng sau hào quang đó vẫn tồn tại những câu hỏi hóc búa khiến các nhà quân sự và sử học trăn trở suốt nhiều thế kỷ.

Sau 10 năm nghiên cứu tư liệu lưu trữ tại châu Âu, kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật và đại diện NPO ALMAZ (Nga) tại Việt Nam đã đưa ra nhiều giả thuyết, nhận định mới. Trong đó, đáng chú ý, ông cho rằng, hoàng đế Quang Trung đã thống nhất Đại Việt từ ngoài ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc từ năm 1789. Nguyễn Ánh từ năm 1788 đến năm 1792 là kẻ khốn khổ, chắc chắn không có mặt ở Gia Định của Đại Việt.

z7810130345184-d65660ec937517222d1bae27ec2fd9b8.jpg
Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu (phải) và kỹ sư Vũ Đình Thanh. Ảnh: NVCC.
Nghiên cứu này của kỹ sư Thanh đã được Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu kiểm tra kỹ lưỡng và đồng tình.

Bản hịch năm 1792 và sự thật về "kẻ khốn khổ" Nguyễn Ánh lưu lạc hải ngoại​

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, ông và Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cùng nhiều cán bộ quân đội nhiều năm trăn trở trước một loạt nghịch lý lịch sử: Vì sao năm 1789, khi Hoàng đế Quang Trung dốc toàn lực đại phá quân Thanh thì Nguyễn Ánh, theo sử sách đã chiếm Gia Định từ năm 1788 lại hoàn toàn im tiếng? Tại sao sau chiến thắng vang dội ấy, Quang Trung không tiến quân vào Gia Định tiêu diệt Nguyễn Ánh? Vì lý do gì, năm 1791, nhà vua đưa hàng vạn quân sang Lào nhưng vẫn không đánh Gia Định?

“Những diễn biến này dường như không phù hợp với tư duy của một thiên tài quân sự như Quang Trung”, ông Thanh phân tích.

z7810130585853-1f58a1c04fba63f5025c28447c8c29c7.jpg
Bản hịch năm 1792 (bản tiếng Pháp do giáo sĩ lưu giữ) cho thấy toàn dân Việt Nam không biết “kẻ chúa khốn cùng” (misérable) ở đâu. Nguồn: VĐT.
Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, một trong những câu trả lời thuyết phục nhất nằm trong bản hịch viết ngày 27/8/1792 của Hoàng đế Quang Trung được các giáo sĩ phương Tây ghi lại và công bố trên tờ Tin tức Giáo hội Phương Đông (Nouvelles des Missions Orientales). Theo bản hịch này, sau năm 1785, Nguyễn Ánh đã không còn hiện diện tại Đại Việt trong nhiều năm. Điều này giúp lý giải hàng loạt “điểm nghẽn logic” trong lịch sử quân sự Tây Sơn.

Trong bản hịch còn ghi rõ Nguyễn Ánh là một "kẻ khốn khổ" (misérable) đang lang thang cầu viện tại các vương quốc bất hạnh ở châu Âu, còn ở Gia Định chỉ còn "đầy xương cốt của họ" tức xương cốt của lính và tướng dưới quyền Nguyễn Ánh. Toàn thể Nhân dân khi đó "đã là nhân chứng" cho việc này.

Theo nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh, căn cứ theo bản hịch năm 1792, các tấm bản đồ và rất nhiều tài liệu khác còn lưu trữ ngày nay, từ năm 1789, hoàng đế Quang Trung đã thực sự thống nhất Đại Việt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm cả chủ quyền vững chắc tại Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo và Phú Quốc. Còn Nguyễn Ánh trong giai đoạn 1788-1792 không hề xuất hiện tại Gia Định.

Câu chuyện đoàn thuyền 50 chiếc chở gạo của Nguyễn Ánh giúp quân Thanh chỉ là giai thoại không thuyết phục. “Bởi nếu Nguyễn Ánh đang lưu lạc tại châu Âu ăn bánh mì, một cân gạo cũng không có thì làm sao còn có cả đoàn thuyền 50 chiếc? Cũng vì thế, mà theo giai thoại, đoàn thuyền đã bị bão đánh chìm (vì thực tế không có)”, kỹ sư Thanh phân tích.

z7810130818321-8835a31ec8ffc86297cd41348d0e3cb6.jpg
Theo ông Thanh, việc vua Quang Trung không đánh Gia Định sau năm 1789 đơn giản vì nơi đó Nhân dân đang sống yên vui dưới triều đại Tây Sơn. Nguồn: VĐT.

Theo ông Thanh, việc vua Quang Trung không đánh Gia Định sau năm 1789 đơn giản vì nơi đó Nhân dân đang sống yên vui dưới triều đại Tây Sơn, không có đối thủ để đánh. Trong bản hịch, hoàng đế Quang Trung thậm chí còn trách dân Gia Định tại sao khi giặc phương Tây "mắt rắn xanh" mang tàu đồng, khinh khí cầu đến chiếm đất lại sợ hãi bỏ chạy thay vì chiến đấu.

"Hoàng đế Quang Trung, người mà toàn dân Việt Nam phải mang ơn vì đã mang lại 'sổ đỏ' cho toàn dân ta từ ải Nam Quan đến địa đầu mũi Cà Mau tất nhiên phải hành động như một thiên tài quân sự bách chiến bách thắng như mọi người đều biết", kỹ sư Vũ Đình Thanh khẳng định.

Bản đồ Vauban Gia Định là bằng chứng vật lý thuyết phục​

Một trong những bằng chứng rõ ràng nữa, theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, là bản đồ thành Vauban Gia Định mang con dấu mộc đỏ của Cục Lưu trữ Bản đồ thuộc Bộ Hải quân Pháp. Qua giám định kỹ thuật, loại ấn triện hình mỏ neo này chỉ tồn tại trong giai đoạn 1799-1804, chứng minh tòa thành chính thức là tài sản quân sự của nước Pháp, hoàn thiện vào năm 1799 chứ không phải năm 1790 như sử cũ mô tả.

z7810131106470-23eb3ef19edf06e6302c7f7690601101.jpg
Bản đồ thành Vauban Gia Định. Nguồn: VĐT.
Đặc biệt, dòng chữ tiếng Pháp ghi trên bản đồ đã là bằng chứng rõ nhất: “Đại tá Victor Olivier lên ý tưởng năm 1790 tại Mauritius và kỹ sư Brun thực hiện đo đạc (levé) bản đồ thành Vauban năm 1795 khi thành hoàn thiện phần thô”.

Tham vấn từ các chuyên gia kỹ thuật xây dựng Pháp cho thấy, một siêu pháo đài với công nghệ Vauban phức tạp đòi hỏi tới 10.000 lính thợ cơ khí lành nghề của Pháp (do thợ bản xứ thời đó không nắm được công nghệ này) và phải thi công liên tục ít nhất 6 năm (thực tế, nhiều thành Vauban bên Pháp có quy mô nhỏ hơn Gia Định cũng cần tối thiểu 6 năm, thậm chí có thành xây mất 30 năm).

ban-do-con-dao.jpg
Bản đồ Côn Đảo mang dấu của Bộ Ngoại giao Pháp. Ảnh: NVCC.
Như vậy, mốc thời gian logic nhất là thành được khởi công năm 1792 và hoàn thiện năm 1799 với tốc độ thi công cấp tốc của công binh Pháp. Kết hợp với con dấu của Bộ Ngoại giao Pháp năm 1792 trên bản đồ Côn Đảo, có thể khẳng định thực dân Pháp chỉ chiếm được Côn Đảo và Gia Định từ năm 1792 sau khi đổ bộ hàng vạn quân vào Đại Việt. Hoàn toàn không có chuyện Nguyễn Ánh thiết kế và xây xong tòa thành khổng lồ này vào năm 1790.

Nguyên nhân thực dân Pháp dốc toàn lực vào Đại Việt không chỉ để hỗ trợ Nguyễn Ánh mà là vì một ván bài sinh tử: Diêm tiêu. Sau khi mất nguồn cung diêm tiêu tại Ấn Độ vào tay người Anh, nước Pháp rơi vào thế đường cùng vì không có nguyên liệu chế thuốc súng. Họ buộc phải nhắm đến các hang dơi tại Đại Việt.

Thực dân Pháp đã huy động từ 15.000 đến 66.200 quân Pháp - Ấn, rút quân từ các thuộc địa lâu năm như Pondichéry để tập trung đánh Đại Việt, thậm chí thiết lập nhà máy diêm tiêu khổng lồ tại Bình Thuận.

"Lịch sử truyền thống thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chính trị, cảm xúc và những văn tự được phe chiến thắng nhào nặn. Nhưng toán học, vật lý, hóa học và sổ sách kế toán thì không biết nói dối”, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay.

Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống thực dân Pháp

Từ việc nghiên cứu Hiệp ước Versailles năm 1787, các tài liệu của John Barrow và hồ sơ hàng hải Pháp, kỹ sư Vũ Đình Thanh đưa ra nhận định: cuộc chiến giai đoạn 1792-1802 không phải nội chiến, mà là cuộc chiến quy mô lớn chống lực lượng viễn chinh Pháp.


7.jpg
Nội dung hiệp ước Versailles từ sách của John Barrow. Nguồn: VĐT.
Hiệp ước Versailles tồn tại hai phiên bản khác nhau. Một phiên bản thường được nhắc đến gồm 1.650 quân và 4 chiến hạm; còn phiên bản khác, theo mô tả của John Barrow, gồm 20 chiến hạm và 7 trung đoàn với khoảng 15.000 quân. Kỹ sư Thanh cho rằng, vua Pháp đã ký hiệp ước 1787 với phiên bản 1.650 lính và 4 tàu chiến.

Đội quân đầu tiên gồm 1.650 lính Pháp đã tới Đại Việt năm 1788 và bị quân Tây Sơn tiêu diệt gần như hoàn toàn chỉ trong một trận đánh. Chỉ duy nhất chiến hạm Méduse chạy thoát cùng khoảng 80 binh sĩ, Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh sang Mauritius.

Chính từ thất bại này, phía thực dân Pháp mới tiếp tục nâng mức can thiệp quân sự lên quy mô lớn hơn nhiều nên có phiên bản thứ 2 - phụ lục của hiệp ước với quân số khổng lồ. Đặc biệt là với vũ khí hiện đại nhất thế giới như khinh khí cầu quân sự đã được trang bị cho đội quân viễn chính năm 1792 đánh Đại Việt trước khi chính thức trang bị cho quân đội Pháp năm 1794.

Theo kỹ sư Thanh, sức mạnh giúp quân Tây Sơn đối đầu với lực lượng viễn chinh hùng hậu của Pháp chính là vũ khí phốt pho. Loại vũ khí này được chế tạo từ phân chim và phân dơi tại các hòn đảo trên Biển Đông, khiến tất cả các đảo này bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa trở thành tài sản sống còn của Đại Việt.

Sau thất bại trước Anh, thực dân Pháp mất nguồn diêm tiêu từ Ấn Độ, nguyên liệu chính để sản xuất thuốc súng. Chính nhu cầu kiểm soát nguồn diêm tiêu từ các hang dơi và đảo có phân chim tại Đại Việt đã khiến thực dân Pháp thông qua công ty Đông Ấn Pháp (tên chính thức Compagnie des Indes orientales et de la Chine - Công ty Đông Ấn và Trung Quốc) dồn quân từ nước Pháp và tất cả các thuộc địa , tập trung lực lượng lớn vào khu vực Đông Dương cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng cũng chính vũ khí phốt pho của Đại Việt đã khiến quân đội Pháp sa lầy, dẫn đến vụ phá sản nổi tiếng của Công ty Đông Ấn Pháp vào năm 1793. Việc đổ tiền của và quân lính vào chiến trường Việt Nam mà không thu được kết quả đã làm ngân khố Pháp cạn kiệt, là nguyên nhân trực tiếp khiến nhân dân Pháp nổi dậy lật đổ và hành quyết vua Louis XVI vào đầu năm 1793.

Ngay cả sau khi Hoàng đế Quang Trung qua đời, vương triều Cảnh Thịnh với vũ khí phốt pho vẫn duy trì được nền độc lập, suýt đánh bại 66.200 quân Pháp - Ấn và chỉ chịu khuất phục khi Napoleon đổ hàng vạn quân hải quân cùng cướp biển nhà nước đánh bất ngờ Phú Xuân năm 1801. Sức mạnh của Tây Sơn đã giữ cho Đại Việt độc lập thêm gần 100 năm, ngăn chặn kịch bản Nguyễn Ánh bị biến thành vua bù nhìn ngay lập tức như các quốc gia tại Ấn Độ hay châu Phi.

"Chính sức mạnh của Tây Sơn đã giữ cho Đại Việt được độc lập thêm gần 100 năm nữa, con dân Việt không bị bán làm nô lệ như ở nhiều nước khác. Đây là sự thật lịch sử mà chúng ta cần phải biết và không được lãng quên”, kỹ sư Vũ Đình Thanh nhấn mạnh.

z7810131917843-d30395b47919f18ec3be9ed753fc2863.jpg
Dù Hoàng đế Quang Trung mất đi, nhưng Tây Sơn với vũ khí phốt pho đã suýt đại thắng đội quân 66.200 quân Pháp/Ấn, qua đó kéo dài nền độc lập của Đại Việt thêm gần 100 năm.
Kỹ sư Thanh cũng đưa ra bằng chứng từ cuốn sách Lettres édifiantes et curieuses (tạm dịch: Những bức thư giáo huấn và kỳ thú), xuất bản năm 1780, trong đó có kèm bản đồ Côn Đảo ghi rõ trại lính Pháp.

Điều này chứng minh rằng sau thất bại trước Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã chạy ra Côn Đảo, nơi có một thực thể quân sự Pháp đang đóng quân để nương tựa. Trước tình thế đó, Tây Sơn đã cử danh tướng Trương Văn Đa chỉ huy hàng chục chiến thuyền để tiêu diệt đơn vị quân đội Pháp này. Quân Pháp chỉ kịp đưa Nguyễn Ánh chạy thoát. Đó chính là sự mở đầu cho sự "hợp tác", hay nói đúng hơn là sự bán nước của Nguyễn Ánh cho Pháp.

Những nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh đã mở ra một hướng tiếp cận khác về giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XVIII, đặc biệt liên quan vai trò của Hoàng đế Quang Trung, triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh và sự can dự của thực dân Pháp tại Đại Việt. Công trình góp phần gợi mở thêm góc nhìn về tinh thần giữ nước, ý chí độc lập dân tộc và những cuộc kháng chiến quyết liệt của người Việt trong một giai đoạn nhiều biến động của lịch sử.

Nghiên cứu cần tiếp tục được các nhà khoa học, nghiên cứu trong và ngoài nước thẩm định, phản biện và kiểm chứng thêm từ nhiều nguồn tư liệu độc lập.
Sục card đến mức này luôn à ?
 
Thứ trưởng bộ hải quân Anh John Barrow ghi rõ nhà máy diêm tiêu khổng lồ và 66.200 quân Pháp Ấn (15000 + 30 000 + 12 000 + 8000 + 1200). Trong bối cảnh năm 1806 ông Barrow chắc chắn phải ghi chính xác quân số để cảnh báo hoàng gia Anh.

Chính ông Thanh ghi nguồn con số 66.200 lính pháp ấn của ông ấy là lấy từ Barrow.

Trong bảng thống kê quân số (trang bên phải), John Barrow ghi tiêu đề rất rõ ràng:


"The strength of the forces of the King of Cochinchina, as stated by Captain Barissy, was in the year 1800 as follows:"

(Sức mạnh lực lượng của Vua xứ Đàng Trong (Nguyễn Ánh), theo báo cáo của Hạm trưởng Barissy vào năm 1800 như sau:)


  • Sự thật: Đây là thống kê quân đội của Nguyễn Ánh, gồm toàn lính người Việt.
  • Ông Thanh bóp méo: Ông ấy lấy tổng số các mục có chữ "trained in European tactics" (được huấn luyện theo chiến thuật châu Âu) và "European built vessels" (tàu đóng kiểu châu Âu) rồi tự tiện gán cho họ cái mác là "Quân Pháp Ấn".

2. Phép cộng 66.200 lính "tự chế"​


Ông Thanh làm phép tính: 15.000 + 30.000 + 12.000 + 8.000 + 1.200 = 66.200.


Hãy nhìn vào bảng tiếng Anh để xem các con số này thực chất là gì:


  • 15.000: Artillerymen (Lính pháo binh người Việt).
  • 30.000: Regiments trained in European tactics (Các trung đoàn người Việt được huấn luyện chiến thuật châu Âu).
  • 12.000: Guards regularly trained in European tactics (Lính cận vệ được huấn luyện thường xuyên theo chiến thuật châu Âu).
  • 8.000: Sailors on the 100 row-galleys (Thủy thủ trên 100 thuyền chèo - loại thuyền đặc trưng của Nam Bộ).
  • 1.200: Sailors on the European built vessels (Thủy thủ trên các tàu đóng theo kiểu châu Âu).

Kết luận: 100% số quân này là người Việt Nam. John Barrow không hề viết chữ nào là "French-Indian troops" (Quân Pháp Ấn) ở đây cả. Việc huấn luyện theo "kiểu Pháp" không biến người lính đó thành "người Pháp".


3. Về "nhà máy diêm tiêu khổng lồ"​


Trong đoạn văn bản tiếng Anh ở trang giữa (trang 482), John Barrow viết:


"...he established a manufactory of saltpetre in Fin-tan (Tiệm-tôm of the charts)..."

(...ông ấy [Nguyễn Ánh] đã lập một xưởng sản xuất diêm tiêu ở Tam Tòa/Tiệm Tôm...)


  • Sự thật: Đây là xưởng chiết xuất diêm tiêu từ phân dơi/phân chim để làm thuốc súng đen (black powder).
  • Ông Thanh suy diễn: Ông ấy biến cái xưởng thủ công này thành "nhà máy diêm tiêu khổng lồ" để phục vụ cho câu chuyện "vũ khí hóa học phốt pho" và " Napoleon sang cướp phân dơi".
 
66.200 quân pháp ấn trong mắt ông Thanh chắc là do ông barisy này.
Theo Barrow kể về tiểu sử barrisy
Laurent André Barisy sinh tại Port Louis, Pháp Quốc, ngày 8 tháng 11 năm 1769, con của một viên chức làm việc tại công ty buôn bán với Ấn Độ. Từ 17 tuổi, Barisy đã đi theo các thương thuyền, đến năm 21 tuổi là thuyền trưởng của tàu Ile de Groix. Khoảng năm 1791, Barisy khởi hành sang Thổ Nhĩ Kỳ, rồi sang Ấn Độ và gặp đám cướp biển Mã Lai. Đến năm 24 tuổi, Barisy tìm đựoc nơi trú náu bên cạnh chúa Nguyễn Ánh. Nhờ kinh nghiệm thương mại hàng hải, Barisy đã được chúa Nguyễn Ánh phái đi sang Ấn Độ, Phi Luật Tân, Mã Lai, Malacca để mua quân trang quân dụng cho quân đội 200,000 người của chúa Nguyễn Ánh khi đó.
Laurent Barisy đã thực sự trở thành một người Nam Kỳ, ông ta lấy một người đàn bà Việt Nam và có nhiều con với người vợ này. Barisy được vua Gia Long phong tước làm Thiện Tri Hầu.
Barisy cũng mang cấp Trung Tá trong quân đội của chúa Nguyễn Ánh, tham dự nhiều trận đánh trên bộ, đặc biệt là trận đánh đuổi quân Tây Sơn tại Đà Nẵng ngày 8 tháng Ba năm 1801 và trận đánh Huế vào ngày 15 tháng Sáu năm 1801.
Barisy chết vào ngày 23 tháng Bảy năm 1802, trước khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được Hà Nội và thống nhất đất nước Việt Nam.
  • Công thức của ông Thanh: (Cha làm ở công ty Ấn Độ + Con là người Pháp) \times (Con số thống kê quân đội người Việt) = 66.200 Quân Pháp Ấn.

Nếu dùng logic này để viết sử thì thật sự là thảm họa:


  1. Nếu Barisy có ông nội là người Đức, chẳng lẽ 6 vạn quân đó lập tức biến thành quân "Pháp - Đức - Ấn"?
  2. Chỉ vì Barisy có mối liên hệ gia đình với một công ty buôn bán ở Ấn Độ mà ông Thanh dám biến hàng vạn người lính mặc áo bông, chít khăn xếp, cưỡi voi ở Gia Định thành "Quân Pháp Ấn" từ trên trời rơi xuống.

Sự thật về chữ "Ấn" trong tiểu sử Barisy:


Cha của Barisy làm việc cho Compagnie française des Indes orientales (Công ty Đông Ấn Pháp). Đây là một tổ chức thương mại, không phải là một bộ quốc phòng. Nhiệm vụ của họ là buôn bán gia vị, vải vóc và trà. Việc Barisy là con của một viên chức ngành "ngoại thương" chẳng liên quan gì đến việc nước Pháp điều động quân đội viễn chinh cả.
Còn đây là Barrow thừa nhận phần sau quyển sách của mình đặc biệt là phần quân đội chúa Nguyễn là lấy từ barrisy
John Barrow viết trong quyển du hành nam hà 1793 đây

Điều cần làm là xin thưa với độc giả rằng phần lớn sự phác họa mà tôi đưa ra ở đây, cũng như phần tiếp theo sau, là nội dung của một bản thảo tập hồi ức được viết bởi ông Barissy (b), một sĩ quan người Pháp thông minh, đang chỉ huy một chiến thuyền phục vụ vị quân vương này. Và khi mà đoạn văn trước rất phù hợp với những gì chúng ta hay biết được tại vịnh Turon [Đà Nẵng ngày nay, chú thích của người dịch], xuyên qua người thông dịch của chúng tôi, từ một viên thư ký người Trung Hoa cho chính quyền ở nơi chốn đó, và với nhiều quan hệ khác nhau với các nhà truyền giáo cư ngụ tại đó, tôi không ngần ngại gì khi đặt niềm tin tưởng tuyệt đối nhất nơi đoạn văn kế tiếp. Trong thực tế, các sự kiện cụ thể đã chứng thực cho lời chứng của hai ông khách Anh Quốc đã từng thăm viếng Sai-gong [trong nguyên bản, chú của người dịch] trong các năm 1799 và 1800…
 
Còn đây là
Bác
Hịch của Huệ đây

MANIFESTE

De Quang Trung, Roi de la Cour de Cochinchine et du Tunkin,

A Tous Les Mandarins, Soldats, et peuples des Provinces de Quang-Ngai et de Qui-Nhon




Vous tous grands et petits, depuis plus de 20 ans ne cessez de subsister par nos bienfaits, nous frères (Tay-son), il est vrai que pendant tout ce temps, si nous avons remporté des victoires dans le nord et dans le sud, nous reconnaissons que nous les devons à l'attachement des peuples de ces deux provinces. C'est là où nos avons trouvé des hommes courageux et des mandarins capables pour former notre cour. Partout où nous avons porté nos armes, nos ennemis ont été défaits ou dispersés; partout où nous avons porté nos conquêtes, les Siamois et les cruels Chinois ont été obligés de subir le joug... Quant aux restes impurs de l'ancienne cour, depuis plus de 30 ans avons-nous jamais vu qu'ils eussent rien fait de bien!... Dans cent combats que nous leur avons livrés, leurs soldats ont été dispersés, leurs généraux mis à mort, la province de Gia-Dinh a été remplie de leurs ossemens. Ce que nous disons ici, vous en avez été les témoins, et si vous ne l'avez vu de vos propres yeux, au moins l'avez-vous entendu de vos oreilles, quel cas faire de ce misérable Chung (Roi actuel régnant) qui s'est enfoui dans les malheureux royaumes d'Europe? Quant au peuple timide de Gia-Dinh, qui ose aujourd'hui de mettre en mouvement, et lever une armée, pourquoi les craignez-vous tant? Pourquoi votre coeur est-il saisi d'effroi? Si leur armée de terre et de mer s'est présentée dans tous vos ports, et s'en est emparée dans un temps où vous ne vous y attendiez pas, le grand empereur nous en a déjà fait connaître les raisons par lettres; et nous avons vu que les mandarins, les soldats et vous tous dans ces deux provinces, n'aviez pas eu le courage de combattre, et que c'est par cette raison plutôt que par leurs talens qu'ils s'étaient emparés de tous les endroits qui sont aujourd'hui en leur possession. Votre armée de terre, s'est enfuie lâchement. Maintenant, par l'ordre de notre frère empereur, nous préparons nous-mêmes une armée formidable par terre et par mer, et nous allons réduire les ennemis de notre nom avec la même facilité que nous froisserions un morceau de bois pourri ou du bois sec. Quant à vous tous, ne faites en aucun cas de ces ennemis; ne les craignez point; mais seulement ouvrez les yeux et les oreilles pour voir et entendre ce que nous allons faire. Vous verrez que les province de Binh Khang et de Nha Trang qui ne sont que des débris de Gia-Dinh, que la province de Phu-Yen qui a toujours été le centre de la guerre, et qu'enfin depuis la province de Binh-Thuan, jusqu'au Cambodge, toutes d'un seul coup vont rentrer sous notre puissance; afin que tout le monde sache que nous sommes véritablement frères, et que nous n'avons jamais pu oublier que nous étions du même sang. Nous vous exhortons tous, grands et petits, de soutenir la famille de l'empereur et de lui rester fidèlement attachés, en attendant que notre armée purifie la province de Gia-Dinh et d'y établisse notre autorité, et les noms de vos deux provinces seront immortels dans nos annales. Ne soyez pas assez crédules pour ajouter foi à ce qu'ont dit des Européens. Quelle habileté peut avoir cette espèce d'hommes? Ils ont tous des yeux de serpens verds, et vous ne devez les regarder que comme des cadaves flottans qui nous sont jettés ici par les mers du nord. Qu'y a-t-il là d'extraordinaire pour venir nous parler de vaisseaux de cuivre, et de ballons? Tous les villages qui se trouvent sur les chemins dans vos deux provinces auront soin de faire partout des ponts, afin de faciliter la passges de nos troupes. Aussiôt que cet ordre vous parviendral, vous aurez soin de vous y conformer. Recevez avec respect ce manifeste; car tel est notre bon plaisir.


Le 10ème jour de la 7ème lune,

de la 5ème année de Quang Trung[28]




của Quang Trung, Vua Nam Hà và Bắc Hà

gửi toàn thể Quan, Quân, Dân hai xứ Quảng Ngãi và Qui Nhơn




"Các ngươi, lớn, nhỏ, từ hơn hai mươi năm nay không ngừng sống nhờ ân huệ của anh em ta. Đành rằng nếu chúng ta đã gặt hái được những chiến thắng trong Nam ngoài Bắc trong thời kỳ này, quả đúng cũng là nhờ vào lòng gắn bó của nhân dân hai xứ. Tại vùng đất này, ta đã tìm được những người can đảm, những quan lại có khả năng xây dựng triều đình.

Quân ta tiến đến đâu, giặc tơi bời, tan tác. Quân ta chinh phạt đến đâu, giặc Xiêm, giặc Tầu tàn ác buộc phải chịu ách cúi đầu...

Còn lũ nhơ bẩn của triều đình cũ, từ hơn ba mươi năm nay, ta chưa thấy chúng làm được việc gì ra hồn!... Trăm trận ta đánh với chúng, quân chúng tan rã, tướng chúng bị tiêu diệt; vùng Gia Định tràn đầy xương cốt chúng. Những điều ta nói đây các ngươi đã từng chứng kiến; nếu các ngươi không thấy tận mắt thì cũng đã nghe kể lại.

Xá gì tên Chủng khốn nạn đi chui luồn những triều đình Âu Châu tồi bại? Còn đám quần chúng khiếp nhược ở Gia Định bây giờ dám đứng lên đầu quân, các ngươi há gì mà sợ chúng thế? Sao các ngươi lại bị khủng hoảng tinh thần đến vậy? Nếu bộ binh và thủy binh của chúng bất ngờ xâm phạm những cửa biển của các ngươi; thì cứ theo những chỉ dụ của Hoàng Đế [Thái Đức] đã viết sẵn mà làm. Ta thấy các ngươi, quan cũng như quân, cả hai xứ, đều không có can đảm chiến đấu. Thực chỉ vì lẽ đó chứ không phải vì quân giặc có tài cán gì mà chúng làm chủ được hết các vùng chúng xâm lược. Bộ binh của các ngươi hèn nhát trốn chạy.

Nay, chấp lệnh của Hoàng đế, anh ta, ta chuẩn bị một binh đội thuỷ, bộ kinh hồn, nhân danh ta, nghiền nát chúng dễ như "bóp tan mảnh gỗ mục".

Còn các ngươi, các ngươi không cần đếm xỉa đến kẻ thù, cũng đừng sợ chúng, chỉ cần mở mắt, dóng tai, mà nhìn, mà nghe, những gì ta sẽ làm. Các ngươi sẽ thấy các xứ Bình Khang, Nha Trang đầy mảnh vụn xác người Gia Định, sẽ thấy Phú Yên, luôn luôn là trung tâm của chiến tranh và từ Bình Thuận đến biên giới Cao Miên, tất cả, chớp nhoáng, sẽ trở về tay ta, để mọi người biết rằng chúng ta đích thực là anh em, không bao giờ ta quên tình máu mủ.

Ta khuyên các ngươi, lớn nhỏ, hãy phò trợ Hoàng gia, trung thành với Hoàng đế, trong khi chờ đợi ta quét sạch Gia Định, thiết lập lại chính quyền, thì tên tuổi của hai xứ sẽ trở thành bất tử trong sử sách.

Đừng cả tin những gì lũ người Âu nói. Khéo léo tinh xảo gì chúng nó? Tất cả đều một bọn mắt rắn xanh. Các ngươi chỉ nên nhìn chúng như những xác chết trôi được vất xuống từ biển Bắc. Có gì ghê gớm đâu mà ba hoa thuyền đồng, thuyền trường đà [27].

Tất cả làng mạc trên đường hành quân trong hai xứ phải góp sức làm cầu cho quân đi qua. Nhận được lệnh này, phải triệt để thi hành ngay.

Khâm tai! Đặc chiếu

Quang Trung năm thứ 5, ngày thứ 10, tuần trăng thứ bẩy"

Tức ngày 27/8/1792

Thằng khốn nạn này nó trích đúng 1 câu trong bài hịch
Xá gì tên Chủng khốn nạn đi chui luồn những triều đình Âu Châu tồi bại?

Và rồi nó kêu lúc đó Ánh đang lưu lạc ở Châu Âu
 
Vị kỹ sư kia lập luận rằng giai đoạn 1788 - 1792 Nguyễn Ánh không có mặt ở Gia Định, và Quang Trung đã thống nhất đất nước. Nhưng hãy đọc kỹ những câu tiếp theo ngay trong bài hịch của vua Quang Trung:
Thực chỉ vì lẽ đó chứ không phải vì quân giặc có tài cán gì mà chúng làm chủ được hết các vùng chúng xâm lược. Bộ binh của các ngươi hèn nhát trốn chạy.”

Phân tích: Chính vua Quang Trung thừa nhận phe Nguyễn Ánh ("giặc") đã đánh chiếm và đang làm chủ các vùng đất của nhà Tây Sơn. Nếu Gia Định và miền Nam đang yên vui dưới thời Tây Sơn, tại sao quân bản bộ Tây Sơn ở đây lại "hèn nhát trốn chạy"?
trong khi chờ đợi ta quét sạch Gia Định, thiết lập lại chính quyền...”


Phân tích: Câu này là cái tát thẳng vào giả thuyết "Quang Trung đã thống nhất đất nước đến mũi Cà Mau từ năm 1789". Chính vua Quang Trung viết vào tháng 8/1792 rằng ngài đang chuẩn bị quân đội để vào "quét sạch Gia Định" và "thiết lập lại chính quyền". Điều này chứng tỏ rõ ràng: Đến năm 1792, Gia Định hoàn toàn nằm trong tay Nguyễn Ánh, nhà Tây Sơn đã mất quyền kiểm soát vùng này!

Vị kỹ sư nói rằng Nguyễn Ánh lưu lạc châu Âu ăn bánh mì nên không thể có tàu thuyền gì ở Gia Định cả. Nhưng hãy xem vua Quang Trung mắng nhân dân hai xứ:
Có gì ghê gớm đâu mà ba hoa thuyền đồng, thuyền trường đà (vaisseaux de cuivre, et de ballons)?”

Phân tích: "Thuyền đồng" (vaisseaux de cuivre) chính là loại tàu chiến bọc đồng theo kiểu phương Tây mà Nguyễn Ánh đã thuê các kỹ sư Pháp (như Jean-Marie Dayot) đóng tại xưởng thủy quân Gia Định trong các năm 1789 - 1791. Tin tức về những chiến hạm hiện đại này của Nguyễn Ánh lan ra miền Trung khiến quân dân Tây Sơn hoang mang, sợ hãi. Vì vậy, vua Quang Trung mới phải ra hịch trấn an tinh thần, bảo họ đừng sợ mấy chiếc tàu bọc đồng và khinh khí cầu của "lũ mắt rắn xanh" (người Pháp giúp Nguyễn Ánh).

Kỹ sư Vũ Đình Thanh đã phạm một sai lầm sơ đẳng nhất của người làm nghiên cứu: Nhặt nhạnh một câu chữ hợp ý mình, rồi lờ đi toàn bộ ngữ cảnh xung quanh.


Chính văn bản bài hịch ngày 27/8/1792 này là minh chứng rõ ràng nhất chống lại tác giả. Nó khẳng định:
Nguyễn Ánh và các cố vấn Pháp đã chiếm được Gia Định, đang sở hữu tàu chiến bọc đồng hiện đại khiến quân Tây Sơn khiếp sợ.
Quang Trung chưa hề thống nhất đến mũi Cà Mau vào năm 1789, mà đến tận năm 1792 ông mới đang chuẩn bị đại quân để tiến vào Nam giành lại Gia Định ( ngay sau khi đọc bản hịch này không lâu,Quang Trung đột ngột qua đời vào tháng 9/1792, và đất Gia Định vẫn thuộc về Nguyễn Ánh cho đến khi ông ấy thống nhất ).
 
Chỉ bằng cách đặt ngược lại một câu hỏi logic: "Nếu Nguyễn Ánh không ở Gia Định, vậy Quang Trung viết hịch điều quân đánh ai?", ta có thể đã bẻ gãy hoàn toàn "tòa lâu đài cát" mà ông ta tốn bao năm xây dựng.


Nhìn lại toàn bộ chuỗi giả thuyết của vị kỹ sư này, chúng ta thấy một công thức "lòe thiên hạ" rất rập khuôn:
Nhặt nhạnh chữ để đổi trắng thay đen: Thấy chữ "misérable" (khốn nạn/khốn khổ) và "royaumes d'Europe" (triều đình châu Âu) \rightarrow Ngắt ngay ra để giật tít: Nguyễn Ánh lưu lạc ăn mày ở châu Âu.
Lờ đi bối cảnh lịch sử cốt lõi: Cố tình giấu nhẹm việc chính vua Quang Trung đang tức giận vì quân Nguyễn Ánh từ Gia Định ra đánh phá tan nát hạm đội Tây Sơn ở Quy Nhơn, chửi quan quân miền Trung hèn nhát bỏ chạy.
Xào nấu số liệu tinh vi: Lấy bảng thống kê 66.200 binh lính người Việt của Nguyễn Ánh trong sách của John Barrow, hô biến một cái thành quân viễn chinh Pháp - Ấn để dọa người đọc về một cuộc xâm lăng viễn tưởng.
Bơm thổi yếu tố giật gân: Đưa phốt pho trắng (thứ chưa có bất cứ quốc gia nào trên thế giới có thể sản xuất công nghiệp lúc bấy giờ) và "cướp biển Napoleon" vào để biến một cuộc nội chiến rệu rã thành một trận chiến công nghệ cao mang tầm quốc tế.
 
Về câu chuyện thành vauban
Để "lòe" người đọc ở đoạn thành Vauban Gia Định này, vị kỹ sư tiếp tục sử dụng lại đúng một công thức: Lấy một hiện vật có thật (tấm bản đồ trong kho lưu trữ Pháp) + Đọc hiểu sai các thuật ngữ chuyên ngành + Suy diễn cơ học theo ý mình.


Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu kiến trúc quân sự và sử học, luận điểm "thành Gia Định do hàng vạn lính thợ Pháp xây suốt 6 năm từ 1792-1799" là hoàn toàn sai lệch. Hãy cùng bóc tách từng chi tiết kỹ thuật và lịch sử để thấy tác giả đã "ngây ngô" (hoặc cố tình) như thế nào:


1. Bản chất của chữ "Levé" (Đo đạc/Khảo sát) trên bản đồ​


Tác giả hí hửng dẫn chứng dòng chữ tiếng Pháp: “Đại tá Victor Olivier lên ý tưởng năm 1790 tại Mauritius và kỹ sư Brun thực hiện đo đạc (levé) bản đồ thành Vauban năm 1795 khi thành hoàn thiện phần thô” để khẳng định thành xây từ 1792 đến 1799.


  • Sai lầm sơ đẳng về thuật ngữ: Trong ngành bản đồ học và công binh Pháp, từ "Levé" (hoặc Levé de kế hoạch / Levé topographique) nghĩa là vẽ bản đồ địa hình, đo đạc lại một công trình đã có sẵn, chứ không phải là khởi công hay xây dựng.
  • Thực tế là gì? Thành Gia Định (Thành Quy) được Nguyễn Ánh cho khởi công xây dựng vào năm 1790 theo bản thiết kế kiểu Vauban của Theodore Lebrun và Victor Olivier (hai sĩ quan Pháp làm thuê cho Nguyễn Ánh). Thành được xây dựng cực kỳ nhanh chóng bằng mô hình huy động tổng lực hàng vạn dân phu và binh lính người Việt tại chỗ chứ không hề có "lính thợ Pháp" nào cả.
  • Đến năm 1795, khi kỹ sư Brun vẽ lại bản đồ (levé) để lưu trữ, ông ta chỉ đang làm nhiệm vụ đo đạc, họa lại sơ đồ thực địa của tòa thành đang hiện hữu để báo cáo cho cấp trên hoặc lưu trữ cá nhân, hoàn toàn không phải là mốc thời gian "hoàn thiện phần thô" như ông Thanh tự dịch.

2. Con dấu mỏ neo của Bộ Hải quân Pháp (1799 - 1804)​


Ông Thanh lập luận: Con dấu hình mỏ neo giai đoạn 1799-1804 trên bản đồ chứng minh tòa thành này là "tài sản quân sự của nước Pháp, hoàn thiện vào năm 1799".


  • Logic nực cười: Đây là một suy diễn cực kỳ ngây ngô về mặt hành chính lưu trữ. Thời kỳ đó, các sĩ quan, đô đốc hoặc thương nhân Pháp đi khắp thế giới (trong đó có những người phục vụ Nguyễn Ánh như Chaigneau, Vannier, Barissy). Khi họ vẽ hoặc thu thập được bản đồ của các vùng đất/thành trì nước ngoài, họ mang về nước Pháp.
  • Khi các tấm bản đồ này được nộp vào Cục lưu trữ của Bộ Hải quân Pháp, các viên chức lưu trữ ở Paris sẽ đóng cái mộc đỏ của cơ quan họ lên để quản lý tài liệu.
  • Việc Bộ Hải quân Pháp đóng dấu lên tấm bản đồ vẽ thành Gia Định chỉ có nghĩa là: "Tấm bản đồ này đã được nhập kho lưu trữ của Pháp vào giai đoạn 1799-1804". Nó hoàn toàn không có nghĩa là nước Pháp sở hữu tòa thành đó ở ngoài đời thực! Nếu theo logic của ông Thanh, thì bất kỳ bản đồ thành trì nước ngoài nào (như thành Bắc Kinh, thành Luân Đôn) có đóng dấu lưu trữ của Pháp thì đều biến thành "tài sản quân sự của Pháp" hết sao?

3. "10.000 lính thợ cơ khí Pháp" và công nghệ Vauban​


Tác giả bài báo giăng ra một cái bẫy kỹ thuật: Thành Vauban rất phức tạp, bên Pháp xây mất mấy chục năm, người Việt thời đó không có công nghệ này nên phải cần tới 10.000 lính thợ cơ khí lành nghề của Pháp sang xây liên tục 6 năm.


  • Nước Pháp lấy đâu ra thợ? Như chúng ta đã phân tích, từ năm 1789 - 1799, nước Pháp bận làm Cách mạng, vua Louis XVI bị chém đầu, đất nước rơi vào cảnh khủng hoảng, nội chiến kinh hoàng và bị phe liên minh châu Âu bao vây. Nước Pháp không thể điều động nổi vài trăm lính sang châu Á, lấy đâu ra "10.000 lính thợ cơ khí lành nghề" vượt đại dương sang Gia Định ngồi đắp đất xây thành cho Nguyễn Ánh?
  • Thực tế kỹ thuật xây thành Vauban ở Việt Nam: Thành Vauban thực chất là một hệ dung quất, thành lũy được tính toán theo các góc hình học (hình ngôi sao) để tối ưu hóa góc bắn của pháo binh và triệt hạ góc chết của đối phương.

Khi xây dựng thành Gia Định (1790), các kiến trúc sư Pháp (Olivier và Lebrun) chỉ đóng vai trò thiết kế vẽ bản vẽ kỹ thuật trên giấy, cắm cọc, đo đạc và giám sát định vị các góc. Còn việc đào hào, đắp đất, nện đất, xây gạch đá... hoàn toàn do hàng vạn dân phu và binh lính người Việt thực hiện dưới sự chỉ đạo của các quan nhà Nguyễn.


Người Việt từ ngàn năm trước đã có truyền thống đắp đê trị thủy, xây thành lũy (như thành Cổ Loa, thành Nhà Hồ). Khi có bản vẽ kỹ thuật chính xác của kỹ sư phương Tây, người thợ Việt hoàn toàn dư sức thi công theo các đường xẻ, góc cạnh một cách nhanh chóng. Việc thần thánh hóa rằng phải có "thợ cơ khí Pháp" mới xây được thành đất Vauban là một sự xúc phạm lớn đến năng lực lao động và xây dựng của cha ông ta thời đó.


Bản chất cú "lừa" ở đoạn này là gì?​


Tác giả Vũ Đình Thanh cố tình lập luận thành Gia Định xây từ 1792-1799 bởi quân Pháp nhằm mục đích: Xóa bỏ sự tồn tại của căn cứ Gia Định của Nguyễn Ánh trong giai đoạn 1788-1792.


Bằng cách nói rằng thành chưa xây xong và do quân Pháp chiếm đóng xây dựng, ông ta cố né tránh một thực tế lịch sử là Nguyễn Ánh đã làm chủ Gia Định vững chắc từ năm 1788. Nhưng xui xẻo cho ông ta, việc giải thích thuật ngữ "Levé" (đo đạc bản đồ) thành "xây dựng" và biến cái "mộc đóng dấu lưu trữ tài liệu" thành "mộc chứng nhận quyền sở hữu đất" đã biến toàn bộ đoạn phân tích này thành một trò cười cho giới nghiên cứu lưu trữ học.
 
Quang Trung sinh năm 1753
Pháp lần đầu xâm lược Vẹm 1858

Hóa ra Quang Trung là Hùng Vương (đéo biết đời nào) tái sinh. Sống 105 tuổi vẫn có thể cầm quân đánh giặc.
Quá thông minh.
 
Vãi cả Lồn:

Đánh giá nhanh: bài này độ tin cậy rất thấp. Nó nêu “giả thuyết” nhưng trình bày như gần khẳng định, trong khi nhiều điểm mâu thuẫn mạnh với sử liệu phổ biến.

Các điểm sai/đáng nghi lớn:

  1. Quang Trung không “đánh bại thực dân Pháp” năm 1789. Năm 1789 là chiến thắng quân Thanh ở Ngọc Hồi – Đống Đa, không phải chiến tranh với Pháp. Bản thân bài cũng chỉ nói “giả thuyết” của KS Vũ Đình Thanh, không phải kết luận học thuật đã được công nhận. (Dân Việt 24h)
  2. Nguyễn Ánh không “mất tích ở châu Âu 1788–1792”. Các nguồn lịch sử phổ biến ghi Nguyễn Ánh đã chiếm lại Gia Định/Nam Bộ từ 1788–1789 và dùng đây làm căn cứ chống Tây Sơn. Nguồn về hỗ trợ Pháp cũng ghi lực lượng của Pigneau đến Vũng Tàu ngày 24/7/1789 để hỗ trợ Nguyễn Ánh, không phải Nguyễn Ánh đang lang thang châu Âu. (Wikipedia)
  3. Hiệp ước Versailles 1787 không được Pháp triển khai như một cuộc viễn chinh lớn. Nội dung thường được ghi là 1.650 quân và 4 tàu chiến, nhưng do bối cảnh trước Cách mạng Pháp, chính quyền Pháp không thực thi đầy đủ; Pigneau chủ yếu tự xoay xở với một nhóm sĩ quan/tình nguyện viên Pháp rất nhỏ. (Wikipedia)
  4. Con số 15.000–66.200 quân Pháp/Ấn đánh Đại Việt là cực kỳ bất thường và thiếu chứng cứ tương xứng. Nguồn tổng quan về hỗ trợ Pháp cho Nguyễn Ánh ghi “đỉnh điểm” hiện diện quân sự Pháp tại Việt Nam chỉ khoảng 14 sĩ quan và 80 người, khác xa tuyên bố hàng chục nghìn quân. (Wikipedia)
  5. Thành Gia Định/Vauban không chứng minh “Pháp chiếm Gia Định từ 1792”. Các nguồn phổ biến ghi thành được xây năm 1790 dưới Nguyễn Ánh, có kỹ sư/quân nhân Pháp hỗ trợ thiết kế và giám sát, dùng khoảng 30.000 lao động bản xứ; không phải “tài sản quân sự của nước Pháp”. (Wikipedia)
  6. Lập luận “Pháp phá sản Đông Ấn vì chiến trường Việt Nam, dẫn đến xử tử Louis XVI” rất khó tin. Britannica ghi Louis XVI bị xử tử ngày 21/1/1793 vì bị kết tội phản quốc trong bối cảnh Cách mạng Pháp, không phải vì thua Tây Sơn hay thiếu diêm tiêu Việt Nam. (Encyclopedia Britannica)
Kết luận: không nên xem bài này là thông tin lịch sử đáng tin cậy. Có thể xem nó như một bài nêu giả thuyết bên lề, nhưng các claim chính như “Quang Trung thống nhất cả nước từ 1789”, “đánh bại thực dân Pháp”, “Nguyễn Ánh không ở Gia Định 1788–1792”, “66.200 quân Pháp/Ấn” đều chưa có nền tảng sử học vững và mâu thuẫn với dòng sử liệu chính thống/quốc tế hiện có.

Mời xammer kỹ Sư Thanh gì đó phản biện ở đây.
 

Dòng chữ tiếng pháp
Plan de la Ville de Saïgon
Levé en 1795 Sur le Calcul,
Par le Capitaine Victor Olivier
En vertu de l'Ordre de sa Majesté
Et le Major Théodore Lebrun,
Ce 20 Janvier 1799.
Bản đồ Thành phố Sài Gòn
Được đo vẽ năm 1795 trên cơ sở tính toán,
Bởi Đại úy Victor Olivier
Theo lệnh của Hoàng thượng
Cùng với Thiếu tá Théodore Lebrun,
Ngày 20 Tháng Giêng năm 1799.
"Levé" chính là hành động vẽ lại (khảo sát đo đạc) những thứ đã tồn tại sẵn trên thực địa, chứ không phải vẽ theo ý tưởng thiết kế để sau đó mới xây dựng.
Giải thích rõ ràng:
Levé = Khảo sát thực địa / Đo vẽ hiện trạng (topographical survey).
Người ta mang dụng cụ ra hiện trường, đo đạc vị trí, kích thước, hình dạng của những gì đang có sẵn (nhà cửa, đường sá, sông ngòi, địa hình, thành lũy, tường thành, v.v.), rồi vẽ thành bản đồ hoặc kế hoạch.
Ngược lại với "projet" hoặc "plan de projet" (bản vẽ thiết kế): Đây là bản vẽ theo ý tưởng, dự án tương lai, cái chưa tồn tại, để sau này mới thi công xây dựng.
Trong bản đồ Sài Gòn:
"Plan de la Ville de Saïgon Levé en 1795"
→ Nghĩa là bản đồ thành phố Sài Gòn được khảo sát đo vẽ thực tế năm 1795 (dựa trên những gì đang tồn tại lúc bấy giờ), chứ không phải là bản vẽ thiết kế để xây dựng mới.
Chữ "En vertu de l'Ordre de sa Majesté" (Theo lệnh của Hoàng thượng): "Sa Majesté" ở đây chính là Chúa Nguyễn Ánh(người mà các sĩ quan Pháp thời đó tôn xưng là Vua/Hoàng thượng).
Dòng chữ này xác nhận rõ ràng: Olivier và Lebrun là người làm thuê, thực hiện việc vẽ bản đồ theo lệnh của chủ (Nguyễn Ánh).
Mốc thời gian 1799: Đây là ngày hoàn tất việc chỉnh lý và trình bày tấm bản đồ để lưu trữ (20/01/1799). Nó đơn thuần là ngày "xuất bản" bản vẽ, không liên quan đến tiến độ xây dựng ngoài thực địa.
Con dấu đỏ (Dưới cùng bên phải): Đó là dấu của Bibliothèque Nationale de France (Thư viện Quốc gia Pháp) và dấu của Dépôt des Cartes et Plans de la Marine(Cục lưu trữ Bản đồ và Sơ đồ Hải quân).
Những con dấu này được đóng vào sau khi tấm bản đồ được đưa về Pháp và nhập kho lưu trữ tại Paris để quản lý tài liệu. Nó chứng minh đây là một tài liệu lưu trữ của Pháp, chứ không chứng minh tòa thành ở Việt Nam là "tài sản quân sự của Pháp".

Tóm lại: Tấm bản đồ này là một tài liệu kỹ thuật do các cố vấn Pháp vẽ thuê cho Nguyễn Ánh để báo cáo thực địa. Mọi chữ viết trên đó đều khẳng định quyền sở hữu và ra lệnh của Nguyễn Ánh, đồng thời phản bác hoàn toàn việc đây là căn cứ của "quân đội Napoleon".
Thằng Thanh nó quả là thằng lừa đảo
 
Lũ súc vật
Hoàng đế clmm lũ giặc cỏ Tây Sơn

Đáng lý đức Gia Long nên tru diệt bọn sĩ phu Baker chúng mày thì giờ đâu có chuyện ăn cháo đá bát.

Trận đầm Thị Nại ghi danh Tả Quân Lê Văn Duyệt, kháng lệnh thu binh, dũng cảm xông pha tiên phong lao vào cường địch.
Chính nhờ vậy, khi gió Nam + thuỷ triều lên giúp quân Nguyễn tiến như vũ bão.

Còn đức Võ Tánh thì lũ giặc cỏ Tây Sơn đ thể có ai = 1/2 rồi.
 
Lũ súc vật
Hoàng đế clmm lũ giặc cỏ Tây Sơn

Đáng lý đức Gia Long nên tru diệt bọn sĩ phu Baker chúng mày thì giờ đâu có chuyện ăn cháo đá bát.

Trận đầm Thị Nại ghi danh Tả Quân Lê Văn Duyệt, kháng lệnh thu binh, dũng cảm xông pha tiên phong lao vào cường địch.
Chính nhờ vậy, khi gió Nam + thuỷ triều lên giúp quân Nguyễn tiến như vũ bão.

Còn đức Võ Tánh thì lũ giặc cỏ Tây Sơn đ thể có ai = 1/2 rồi.
Bọn Sĩ Phu Bắc hà lúc đó nâng niu Gia Long như bợt 2 trứng dái của Ngài. Chẳng qa đám con cháu Bắc Hà sau này nó lỡ nhận giặc làm bố r nên đâu dám cãi
 

Có thể bạn quan tâm

Top