Nguyễn Quang 01
Chịu khó la liếm
Nhiều thằng xem phim vẫn nghĩ nhà Mãn Thanh thời Càn Long mạnh, nhưng thực tế nhà Thanh đã thua rất nhiều cuộc chiến và mất nhiều lãnh thổ từ các cuộc chiến với quân Nga Hoàng, quân Đài Loan, quân phản loạn Quảng Đông, quân Nepal, quân Miến Điện, quân Đại Việt, hải tặc biển Đông...
Có thể nói tình hình nhà Thanh giống như ngồi trên đống lửa, nếu không tính toán cẩn thận thì nhà Thanh sẽ bị người Hán thảm sát.
Nhà Thanh bắt nguồn vùng Đông Bắc, là 1 dân tộc thiểu số không đông hơn người Đại Việt. Đến thời Càn Long, vùng Đông Bắc này bị quân Nga Hoàng xâm lược khiến nhà Thanh mất luôn quê hương không có đường về, nên nếu bị người Hán lật thì sẽ không có đường về, nguy cơ bị thảm sát thù hận dân tộc. Nên nhà Thanh đến thời vua Càn Long trở về sau mang tính cầm cự sống còn cho tộc người Mãn Châu.
Hôm nay tao rãnh nên viết bài tóm lược về trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh (1765 - 1769), nhiều người nghiên cứu sử quân đội Tây Sơn mà không nhiều người nghiên cứu trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh cũng như hệ quả của nó tác động đến cuộc chiến của Tây Sơn với nhà Thanh 1789 và các chính sách ngoại giao của nhà Thanh sau đó với các nước phía Nam nên tao viết cho tụi mày đọc.
Nếu để so sánh 2 cuộc chiến này thì rõ ràng cuộc chiến của Tây Sơn thua xa trận đánh của Miến Điện về quy mô và quân số.
Khi với quân Tây Sơn thì nhà Thanh chỉ mới dùng Lục doanh binh (bộ binh người Hán) từ hai tỉnh (Lưỡng Quảng và Vân Quý), tức là dân quân chủ yếu.
Còn với Miến Điện, Càn Long cử cả quân Lục Doanh, quân Mãn Châu, quân Bát Kỳ, và đại tướng quân Minh Thụy (con rễ vua Càn Long).
Trận chiến này quân Miến Điện chưa dùng đến quân đội chủ lực mà vẫn có thể thắng nhà Thanh.
Trận chiến diễn ra 4 đợt, kết quả quân đội nhà Thanh chết nhiều hơn quân Miến Điện, tổng số tử vong là 70,000 quân, nhiều đơn vị Bát Kỳ tinh nhuệ gần như bị xóa sổ, tướng quân Minh Thụy và nhiều tướng khác phải tự sát.
Còn phía Miến Điện mất 20,000 quân, có 1 tướng lĩnh tự ý thả các tướng Mãn Thanh mà bị vua Miến Điện bắt đội váy đi đường và đày ải ra biên cương. Quan trọng hơn người Miến Điện từ chối nạp cống phẩm hàng năm cho nhà Thanh.
Sau trận chiến này, nhà Thanh rất kỵ rơ, cẩn trọng với các tiểu quốc phía Nam khi quân đội người Mãn trở nên thất thế việc thích nghi hơn là vùng giá lạnh phương Bắc. Việc sa lầy vào trận chiến này nếu dùng quân Bát Kỳ có thể làm cho nhà Thanh suy sụp dẫn đến sụp đổ trước các cuộc khởi nghĩa của Hán.
Nguyễn Huệ có quan hệ với các tàu thuyền biển Đông nên chắc chắn cũng đã nghe qua cuộc chiến này mà đoán định tình hình của nhà Thanh.
1. Nguyên nhân cuộc chiến
Quân Miến Điện dưới triều đại vua Alaungpaya đưa quân chiếm các vùng đất biên giới với nhà Thanh 1659.
Nhà Thanh quyết định đưa quân chính thức vào Miến Điện để dạy cho người Miến 1 bài học.
2. Diễn Biến
Tướng Thanh Lưu Tảo bị mất mặt, tìm cách che giấu tin thất trận. Khi triều đình Thanh tỏ ra nghi ngờ, Càn Long đòi triệu hồi Lưu Tảo ngay tức khắc và giáng cấp. Thay vì phục mệnh, Lưu Tảo tự cắt cổ tự tử, dùng máu của chính mình viết "Không có cách nào báo được hoàng ân, ta đáng tội chết". Mặc dù kiểu tự tử này của quan lại nhà Thanh không phải hiếm gặp thời đó, nó cũng làm Càn Long đùng đùng nổi dận. Việc đánh dẹp quân Miên trở thành vấn đề giữ thể diện cho triều đình. Càn Long quyết định bổ nhiệm Dương Ứng Cừ, một võ quan dày dặn vùng biên cương, với nhiều năm kinh nghiệm tại Tân Cương và Lưỡng Quảng.
Bát kỳ binh thời Càn Long
Dương Ứng Cừ đến nhiệm sở mùa hè năm 1766. Khác với cuộc viễn chinh lần trước của Lưu Tảo đánh vào Kengtung, cách rất xa vùng trung tâm Miến Điện, Dương Ứng Kỳ quyết định đánh thẳng vào vùng Thượng Miến. Ông vạch kế hoạch đưa lên ngai vàng Miến Điện một ứng cử viên được nhà Thanh ủng hộ. Kế hoạch xâm lược của quân Thanh đi qua Bhamo, xuôi dòng sông Irrawaddy để vào Ava. Quân Miến biết trước được lộ trình tiến quân của nhà Thanh và lên kế hoạch đối phó. Hsinbyushin lập mưu lừa quân Thanh tiến sâu vào lãnh thổ Miến để rồi bao vây tiêu diệt. Chỉ huy quân Miến trên chiến trường là Balamindin được lệnh bỏ Bhamo, thay vào đó đóng trại tại Kaungton, cách Bhamo vài dặm trên dòng Irrawaddy. Đồn binh Kaungton được chuẩn bị kỹ càng với binh đội pháo thủ do các pháo thủ người Pháp (bị bắt sau trận Thanlyin năm 1756) chỉ huy. Để tăng cường, một cánh quân khác do Maha Thiha Thura chỉ huy tại miền cực đông Miến Điện Kenghung (nay là Cảnh Hồng, Vân Nam), được lệnh hành binh cắt ngang qua miền bắc xứ Shan về chiến trường Bhamo.
Quân Thanh lâm vào thế bế tắc, hơn nữa họ không hợp với khí hậu nhiệt đới vùng Thượng Miến. Hàng ngàn quân Thanh đổ bệnh sốt rét, tiêu chảy, lỵ. Quân Thanh báo cáo "cứ 1000 người thì có 800 người chết vì bệnh dịch, hàng trăm người khác bị ốm".
Thấy quân Thanh suy yếu trầm trọng, quân Miến mở cuộc tấn công. Đầu tiên, Ne Myo Sithu dễ dàng đánh chiếm lại Bhamo. Cánh quân chính của nhà Thanh vậy là hoàn toàn mắc kẹt trong hành lang Kaungton-Bhamo, cắt rời khỏi đường tiếp tế. Quân Miến tiếp đó đánh vào quân Thanh theo hai hướng— quân của Balamindin đánh ra từ thành Kaungton, quân của Ne Myo Sithu đánh xuống từ phía bắc. Quân Thanh rút theo hướng đông, rồi rẽ lên hướng bắc, lại gặp phải một cánh quân Miến khác của Maha Thiha Thura đang đợi sẵn. Hai cánh quân Miến kia cũng bám sát, và kết quả là quân Thanh bị tiêu diệt hoàn toàn. Đạo quân của Maha Sithu đang trấn giữ sườn tây sông Irrawaddy tiến lên phía bắc Myitkyina, đánh bại các đồn binh Trung Hoa nhỏ tại biên giới. Quân Miến tiếp đó chiếm 8 tiểu vương quốc Shan thuộc Vân Nam.
Các đạo quân chiến thắng của Miến Điện rút về Ava đầu tháng 5 mang theo chiến lợi phẩm chiếm được gồm pháo, súng hỏa mai, tù binh. Tại Côn Minh, Tổng đốc Dương Ứng Cừ buộc phải nói dối, báo về kinh đô rằng Bhamo đã thất thủ, dân cư sở tại đã dóc tóc kiểu Mãn Thanh, rằng chỉ huy quân Miến, Ne Myo Sithu, sau khi mất 10.000 quân đã phải xin ngưng chiến. Ông gợi ý hoàng đế chấp nhận hòa ước để tái lập mậu dịch giữa hai nước. Càn Long tuy nhiên nhận ra sự giả dối trong báo cáo, và triệu Dương về kinh. Về tới nơi, Dương Ứng Cừ phải tự vẫn theo lệnh của hoàng đế.
Sau khi bị đánh bại hai lần, hoàng đế nhà Thanh và triều thần không thể nào hiểu được một quốc gia "man di" nhỏ bé như Miến Điện lại có thể kháng cự lại uy vũ của nhà Thanh.Với Càn Long, đã đến lúc quân chính quy Mãn Thanh xung trận. Ông luôn nghi ngại khả năng tác chiến của quân Lục Doanh người Hán. Người Mãn Châu tự coi là một dân tộc chinh phục thiện chiến, còn người Hán là một sắc dân nô dịch, Càn Long ra lệnh nghiên cứu hai cuộc chinh phạt trước, và bản báo cáo càng làm tăng thêm thành kiến của ông— rằng sự yếu kém của quân Lục Doanh là nguyên nhân dẫn đến thất bại.
Có thể nói tình hình nhà Thanh giống như ngồi trên đống lửa, nếu không tính toán cẩn thận thì nhà Thanh sẽ bị người Hán thảm sát.
Nhà Thanh bắt nguồn vùng Đông Bắc, là 1 dân tộc thiểu số không đông hơn người Đại Việt. Đến thời Càn Long, vùng Đông Bắc này bị quân Nga Hoàng xâm lược khiến nhà Thanh mất luôn quê hương không có đường về, nên nếu bị người Hán lật thì sẽ không có đường về, nguy cơ bị thảm sát thù hận dân tộc. Nên nhà Thanh đến thời vua Càn Long trở về sau mang tính cầm cự sống còn cho tộc người Mãn Châu.
Hôm nay tao rãnh nên viết bài tóm lược về trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh (1765 - 1769), nhiều người nghiên cứu sử quân đội Tây Sơn mà không nhiều người nghiên cứu trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh cũng như hệ quả của nó tác động đến cuộc chiến của Tây Sơn với nhà Thanh 1789 và các chính sách ngoại giao của nhà Thanh sau đó với các nước phía Nam nên tao viết cho tụi mày đọc.
Nếu để so sánh 2 cuộc chiến này thì rõ ràng cuộc chiến của Tây Sơn thua xa trận đánh của Miến Điện về quy mô và quân số.
Khi với quân Tây Sơn thì nhà Thanh chỉ mới dùng Lục doanh binh (bộ binh người Hán) từ hai tỉnh (Lưỡng Quảng và Vân Quý), tức là dân quân chủ yếu.
Còn với Miến Điện, Càn Long cử cả quân Lục Doanh, quân Mãn Châu, quân Bát Kỳ, và đại tướng quân Minh Thụy (con rễ vua Càn Long).
Trận chiến này quân Miến Điện chưa dùng đến quân đội chủ lực mà vẫn có thể thắng nhà Thanh.
Trận chiến diễn ra 4 đợt, kết quả quân đội nhà Thanh chết nhiều hơn quân Miến Điện, tổng số tử vong là 70,000 quân, nhiều đơn vị Bát Kỳ tinh nhuệ gần như bị xóa sổ, tướng quân Minh Thụy và nhiều tướng khác phải tự sát.
Còn phía Miến Điện mất 20,000 quân, có 1 tướng lĩnh tự ý thả các tướng Mãn Thanh mà bị vua Miến Điện bắt đội váy đi đường và đày ải ra biên cương. Quan trọng hơn người Miến Điện từ chối nạp cống phẩm hàng năm cho nhà Thanh.
Sau trận chiến này, nhà Thanh rất kỵ rơ, cẩn trọng với các tiểu quốc phía Nam khi quân đội người Mãn trở nên thất thế việc thích nghi hơn là vùng giá lạnh phương Bắc. Việc sa lầy vào trận chiến này nếu dùng quân Bát Kỳ có thể làm cho nhà Thanh suy sụp dẫn đến sụp đổ trước các cuộc khởi nghĩa của Hán.
Nguyễn Huệ có quan hệ với các tàu thuyền biển Đông nên chắc chắn cũng đã nghe qua cuộc chiến này mà đoán định tình hình của nhà Thanh.
1. Nguyên nhân cuộc chiến
Quân Miến Điện dưới triều đại vua Alaungpaya đưa quân chiếm các vùng đất biên giới với nhà Thanh 1659.
Nhà Thanh quyết định đưa quân chính thức vào Miến Điện để dạy cho người Miến 1 bài học.
2. Diễn Biến
Chiến dịch lần thứ nhất (1765–1766)
Đầu năm 1765, một đạo quân Miến gồm 20.000 binh lính đóng tại Kengtung, dưới sự chỉ huy của tướng Ne Myo Thihapate, xuất phát để đi đánh Xiêm. Với lực lượng chủ lực của Miến viễn chinh, Liu Tảo dùng cớ tranh chấp giữa thương gia Miến và Thanh để xâm lược Kengtung tháng 12 năm 1765. Lực lượng Thanh gồm 3.500 quân Lục Doanh, cùng với thổ binh Thái-Shan, tiến hành bao vây Kengtung nhưng không đánh lại được lực lượng quân đồn trú thiện chiến của Miến đóng tại đây dưới quyền chỉ huy của tướng Ne Myo Sithu. Quân Miến đánh phá vây và truy kích quân xâm lăng tới quận Phổ Nhĩ, rồi đánh bại họ tại đây. Tướng Ne Myo Sithu đóng lại đây một toán quân, rồi trở về Ava tháng 4 năm 1766.Tướng Thanh Lưu Tảo bị mất mặt, tìm cách che giấu tin thất trận. Khi triều đình Thanh tỏ ra nghi ngờ, Càn Long đòi triệu hồi Lưu Tảo ngay tức khắc và giáng cấp. Thay vì phục mệnh, Lưu Tảo tự cắt cổ tự tử, dùng máu của chính mình viết "Không có cách nào báo được hoàng ân, ta đáng tội chết". Mặc dù kiểu tự tử này của quan lại nhà Thanh không phải hiếm gặp thời đó, nó cũng làm Càn Long đùng đùng nổi dận. Việc đánh dẹp quân Miên trở thành vấn đề giữ thể diện cho triều đình. Càn Long quyết định bổ nhiệm Dương Ứng Cừ, một võ quan dày dặn vùng biên cương, với nhiều năm kinh nghiệm tại Tân Cương và Lưỡng Quảng.
Dương Ứng Cừ đến nhiệm sở mùa hè năm 1766. Khác với cuộc viễn chinh lần trước của Lưu Tảo đánh vào Kengtung, cách rất xa vùng trung tâm Miến Điện, Dương Ứng Kỳ quyết định đánh thẳng vào vùng Thượng Miến. Ông vạch kế hoạch đưa lên ngai vàng Miến Điện một ứng cử viên được nhà Thanh ủng hộ. Kế hoạch xâm lược của quân Thanh đi qua Bhamo, xuôi dòng sông Irrawaddy để vào Ava. Quân Miến biết trước được lộ trình tiến quân của nhà Thanh và lên kế hoạch đối phó. Hsinbyushin lập mưu lừa quân Thanh tiến sâu vào lãnh thổ Miến để rồi bao vây tiêu diệt. Chỉ huy quân Miến trên chiến trường là Balamindin được lệnh bỏ Bhamo, thay vào đó đóng trại tại Kaungton, cách Bhamo vài dặm trên dòng Irrawaddy. Đồn binh Kaungton được chuẩn bị kỹ càng với binh đội pháo thủ do các pháo thủ người Pháp (bị bắt sau trận Thanlyin năm 1756) chỉ huy. Để tăng cường, một cánh quân khác do Maha Thiha Thura chỉ huy tại miền cực đông Miến Điện Kenghung (nay là Cảnh Hồng, Vân Nam), được lệnh hành binh cắt ngang qua miền bắc xứ Shan về chiến trường Bhamo.
Theo kế hoạch, quân Thanh dễ dàng chiếm được Bhamo vào tháng 12 năm 1766, và thiết lập trại lương tại đây. Quân Thanh tiếp đó vây đánh đồn binh Miến tại Kaungton. Tuy nhiên Balamindin phòng ngự chắc chắn, đánh bật các cuộc tấn công liên tiếp của quân Thanh. Cùng lúc, hai cánh quân Miến, một do Maha Sithu chỉ huy, một do Ne Myo Sithu, bao vây quân Thanh. Cánh quân của Maha Thiha Thura cũng tới nơi, đóng lại gần Bhamo để chặn đường rút về Vân Nam.Quân Thanh lâm vào thế bế tắc, hơn nữa họ không hợp với khí hậu nhiệt đới vùng Thượng Miến. Hàng ngàn quân Thanh đổ bệnh sốt rét, tiêu chảy, lỵ. Quân Thanh báo cáo "cứ 1000 người thì có 800 người chết vì bệnh dịch, hàng trăm người khác bị ốm".
Thấy quân Thanh suy yếu trầm trọng, quân Miến mở cuộc tấn công. Đầu tiên, Ne Myo Sithu dễ dàng đánh chiếm lại Bhamo. Cánh quân chính của nhà Thanh vậy là hoàn toàn mắc kẹt trong hành lang Kaungton-Bhamo, cắt rời khỏi đường tiếp tế. Quân Miến tiếp đó đánh vào quân Thanh theo hai hướng— quân của Balamindin đánh ra từ thành Kaungton, quân của Ne Myo Sithu đánh xuống từ phía bắc. Quân Thanh rút theo hướng đông, rồi rẽ lên hướng bắc, lại gặp phải một cánh quân Miến khác của Maha Thiha Thura đang đợi sẵn. Hai cánh quân Miến kia cũng bám sát, và kết quả là quân Thanh bị tiêu diệt hoàn toàn. Đạo quân của Maha Sithu đang trấn giữ sườn tây sông Irrawaddy tiến lên phía bắc Myitkyina, đánh bại các đồn binh Trung Hoa nhỏ tại biên giới. Quân Miến tiếp đó chiếm 8 tiểu vương quốc Shan thuộc Vân Nam.
Các đạo quân chiến thắng của Miến Điện rút về Ava đầu tháng 5 mang theo chiến lợi phẩm chiếm được gồm pháo, súng hỏa mai, tù binh. Tại Côn Minh, Tổng đốc Dương Ứng Cừ buộc phải nói dối, báo về kinh đô rằng Bhamo đã thất thủ, dân cư sở tại đã dóc tóc kiểu Mãn Thanh, rằng chỉ huy quân Miến, Ne Myo Sithu, sau khi mất 10.000 quân đã phải xin ngưng chiến. Ông gợi ý hoàng đế chấp nhận hòa ước để tái lập mậu dịch giữa hai nước. Càn Long tuy nhiên nhận ra sự giả dối trong báo cáo, và triệu Dương về kinh. Về tới nơi, Dương Ứng Cừ phải tự vẫn theo lệnh của hoàng đế.
Sau khi bị đánh bại hai lần, hoàng đế nhà Thanh và triều thần không thể nào hiểu được một quốc gia "man di" nhỏ bé như Miến Điện lại có thể kháng cự lại uy vũ của nhà Thanh.Với Càn Long, đã đến lúc quân chính quy Mãn Thanh xung trận. Ông luôn nghi ngại khả năng tác chiến của quân Lục Doanh người Hán. Người Mãn Châu tự coi là một dân tộc chinh phục thiện chiến, còn người Hán là một sắc dân nô dịch, Càn Long ra lệnh nghiên cứu hai cuộc chinh phạt trước, và bản báo cáo càng làm tăng thêm thành kiến của ông— rằng sự yếu kém của quân Lục Doanh là nguyên nhân dẫn đến thất bại.