Trận chiến giữa Miến Điện vs Mãn Thanh và sự phơi bày thất bại thảm hại của đội quân Bát Kỳ

Nguyễn Quang 01

Chịu khó la liếm
Nhiều thằng xem phim vẫn nghĩ nhà Mãn Thanh thời Càn Long mạnh, nhưng thực tế nhà Thanh đã thua rất nhiều cuộc chiến và mất nhiều lãnh thổ từ các cuộc chiến với quân Nga Hoàng, quân Đài Loan, quân phản loạn Quảng Đông, quân Nepal, quân Miến Điện, quân Đại Việt, hải tặc biển Đông...
Có thể nói tình hình nhà Thanh giống như ngồi trên đống lửa, nếu không tính toán cẩn thận thì nhà Thanh sẽ bị người Hán thảm sát.
Nhà Thanh bắt nguồn vùng Đông Bắc, là 1 dân tộc thiểu số không đông hơn người Đại Việt. Đến thời Càn Long, vùng Đông Bắc này bị quân Nga Hoàng xâm lược khiến nhà Thanh mất luôn quê hương không có đường về, nên nếu bị người Hán lật thì sẽ không có đường về, nguy cơ bị thảm sát thù hận dân tộc. Nên nhà Thanh đến thời vua Càn Long trở về sau mang tính cầm cự sống còn cho tộc người Mãn Châu.

Hôm nay tao rãnh nên viết bài tóm lược về trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh (1765 - 1769), nhiều người nghiên cứu sử quân đội Tây Sơn mà không nhiều người nghiên cứu trận chiến Miến Điện vs Mãn Thanh cũng như hệ quả của nó tác động đến cuộc chiến của Tây Sơn với nhà Thanh 1789 và các chính sách ngoại giao của nhà Thanh sau đó với các nước phía Nam nên tao viết cho tụi mày đọc.
Nếu để so sánh 2 cuộc chiến này thì rõ ràng cuộc chiến của Tây Sơn thua xa trận đánh của Miến Điện về quy mô và quân số.
Khi với quân Tây Sơn thì nhà Thanh chỉ mới dùng Lục doanh binh (bộ binh người Hán) từ hai tỉnh (Lưỡng Quảng và Vân Quý), tức là dân quân chủ yếu.
Còn với Miến Điện, Càn Long cử cả quân Lục Doanh, quân Mãn Châu, quân Bát Kỳ, và đại tướng quân Minh Thụy (con rễ vua Càn Long).
Trận chiến này quân Miến Điện chưa dùng đến quân đội chủ lực mà vẫn có thể thắng nhà Thanh.
Trận chiến diễn ra 4 đợt, kết quả quân đội nhà Thanh chết nhiều hơn quân Miến Điện, tổng số tử vong là 70,000 quân, nhiều đơn vị Bát Kỳ tinh nhuệ gần như bị xóa sổ, tướng quân Minh Thụy và nhiều tướng khác phải tự sát.
Còn phía Miến Điện mất 20,000 quân, có 1 tướng lĩnh tự ý thả các tướng Mãn Thanh mà bị vua Miến Điện bắt đội váy đi đường và đày ải ra biên cương. Quan trọng hơn người Miến Điện từ chối nạp cống phẩm hàng năm cho nhà Thanh.
Sau trận chiến này, nhà Thanh rất kỵ rơ, cẩn trọng với các tiểu quốc phía Nam khi quân đội người Mãn trở nên thất thế việc thích nghi hơn là vùng giá lạnh phương Bắc. Việc sa lầy vào trận chiến này nếu dùng quân Bát Kỳ có thể làm cho nhà Thanh suy sụp dẫn đến sụp đổ trước các cuộc khởi nghĩa của Hán.
Nguyễn Huệ có quan hệ với các tàu thuyền biển Đông nên chắc chắn cũng đã nghe qua cuộc chiến này mà đoán định tình hình của nhà Thanh.

1. Nguyên nhân cuộc chiến
Quân Miến Điện dưới triều đại vua Alaungpaya đưa quân chiếm các vùng đất biên giới với nhà Thanh 1659.
Nhà Thanh quyết định đưa quân chính thức vào Miến Điện để dạy cho người Miến 1 bài học.

2. Diễn Biến

Chiến dịch lần thứ nhất (1765–1766)​

Đầu năm 1765, một đạo quân Miến gồm 20.000 binh lính đóng tại Kengtung, dưới sự chỉ huy của tướng Ne Myo Thihapate, xuất phát để đi đánh Xiêm. Với lực lượng chủ lực của Miến viễn chinh, Liu Tảo dùng cớ tranh chấp giữa thương gia Miến và Thanh để xâm lược Kengtung tháng 12 năm 1765. Lực lượng Thanh gồm 3.500 quân Lục Doanh, cùng với thổ binh Thái-Shan, tiến hành bao vây Kengtung nhưng không đánh lại được lực lượng quân đồn trú thiện chiến của Miến đóng tại đây dưới quyền chỉ huy của tướng Ne Myo Sithu. Quân Miến đánh phá vây và truy kích quân xâm lăng tới quận Phổ Nhĩ, rồi đánh bại họ tại đây. Tướng Ne Myo Sithu đóng lại đây một toán quân, rồi trở về Ava tháng 4 năm 1766.

Tướng Thanh Lưu Tảo bị mất mặt, tìm cách che giấu tin thất trận. Khi triều đình Thanh tỏ ra nghi ngờ, Càn Long đòi triệu hồi Lưu Tảo ngay tức khắc và giáng cấp. Thay vì phục mệnh, Lưu Tảo tự cắt cổ tự tử, dùng máu của chính mình viết "Không có cách nào báo được hoàng ân, ta đáng tội chết". Mặc dù kiểu tự tử này của quan lại nhà Thanh không phải hiếm gặp thời đó, nó cũng làm Càn Long đùng đùng nổi dận. Việc đánh dẹp quân Miên trở thành vấn đề giữ thể diện cho triều đình. Càn Long quyết định bổ nhiệm Dương Ứng Cừ, một võ quan dày dặn vùng biên cương, với nhiều năm kinh nghiệm tại Tân CươngLưỡng Quảng.

Bát kỳ binh thời Càn Long
Dương Ứng Cừ đến nhiệm sở mùa hè năm 1766. Khác với cuộc viễn chinh lần trước của Lưu Tảo đánh vào Kengtung, cách rất xa vùng trung tâm Miến Điện, Dương Ứng Kỳ quyết định đánh thẳng vào vùng Thượng Miến. Ông vạch kế hoạch đưa lên ngai vàng Miến Điện một ứng cử viên được nhà Thanh ủng hộ. Kế hoạch xâm lược của quân Thanh đi qua Bhamo, xuôi dòng sông Irrawaddy để vào Ava. Quân Miến biết trước được lộ trình tiến quân của nhà Thanh và lên kế hoạch đối phó. Hsinbyushin lập mưu lừa quân Thanh tiến sâu vào lãnh thổ Miến để rồi bao vây tiêu diệt. Chỉ huy quân Miến trên chiến trường là Balamindin được lệnh bỏ Bhamo, thay vào đó đóng trại tại Kaungton, cách Bhamo vài dặm trên dòng Irrawaddy. Đồn binh Kaungton được chuẩn bị kỹ càng với binh đội pháo thủ do các pháo thủ người Pháp (bị bắt sau trận Thanlyin năm 1756) chỉ huy. Để tăng cường, một cánh quân khác do Maha Thiha Thura chỉ huy tại miền cực đông Miến Điện Kenghung (nay là Cảnh Hồng, Vân Nam), được lệnh hành binh cắt ngang qua miền bắc xứ Shan về chiến trường Bhamo.

Theo kế hoạch, quân Thanh dễ dàng chiếm được Bhamo vào tháng 12 năm 1766, và thiết lập trại lương tại đây. Quân Thanh tiếp đó vây đánh đồn binh Miến tại Kaungton. Tuy nhiên Balamindin phòng ngự chắc chắn, đánh bật các cuộc tấn công liên tiếp của quân Thanh. Cùng lúc, hai cánh quân Miến, một do Maha Sithu chỉ huy, một do Ne Myo Sithu, bao vây quân Thanh. Cánh quân của Maha Thiha Thura cũng tới nơi, đóng lại gần Bhamo để chặn đường rút về Vân Nam.

Quân Thanh lâm vào thế bế tắc, hơn nữa họ không hợp với khí hậu nhiệt đới vùng Thượng Miến. Hàng ngàn quân Thanh đổ bệnh sốt rét, tiêu chảy, lỵ. Quân Thanh báo cáo "cứ 1000 người thì có 800 người chết vì bệnh dịch, hàng trăm người khác bị ốm".

Thấy quân Thanh suy yếu trầm trọng, quân Miến mở cuộc tấn công. Đầu tiên, Ne Myo Sithu dễ dàng đánh chiếm lại Bhamo. Cánh quân chính của nhà Thanh vậy là hoàn toàn mắc kẹt trong hành lang Kaungton-Bhamo, cắt rời khỏi đường tiếp tế. Quân Miến tiếp đó đánh vào quân Thanh theo hai hướng— quân của Balamindin đánh ra từ thành Kaungton, quân của Ne Myo Sithu đánh xuống từ phía bắc. Quân Thanh rút theo hướng đông, rồi rẽ lên hướng bắc, lại gặp phải một cánh quân Miến khác của Maha Thiha Thura đang đợi sẵn. Hai cánh quân Miến kia cũng bám sát, và kết quả là quân Thanh bị tiêu diệt hoàn toàn. Đạo quân của Maha Sithu đang trấn giữ sườn tây sông Irrawaddy tiến lên phía bắc Myitkyina, đánh bại các đồn binh Trung Hoa nhỏ tại biên giới. Quân Miến tiếp đó chiếm 8 tiểu vương quốc Shan thuộc Vân Nam.

Các đạo quân chiến thắng của Miến Điện rút về Ava đầu tháng 5 mang theo chiến lợi phẩm chiếm được gồm pháo, súng hỏa mai, tù binh. Tại Côn Minh, Tổng đốc Dương Ứng Cừ buộc phải nói dối, báo về kinh đô rằng Bhamo đã thất thủ, dân cư sở tại đã dóc tóc kiểu Mãn Thanh, rằng chỉ huy quân Miến, Ne Myo Sithu, sau khi mất 10.000 quân đã phải xin ngưng chiến. Ông gợi ý hoàng đế chấp nhận hòa ước để tái lập mậu dịch giữa hai nước. Càn Long tuy nhiên nhận ra sự giả dối trong báo cáo, và triệu Dương về kinh. Về tới nơi, Dương Ứng Cừ phải tự vẫn theo lệnh của hoàng đế.

Sau khi bị đánh bại hai lần, hoàng đế nhà Thanh và triều thần không thể nào hiểu được một quốc gia "man di" nhỏ bé như Miến Điện lại có thể kháng cự lại uy vũ của nhà Thanh.Với Càn Long, đã đến lúc quân chính quy Mãn Thanh xung trận. Ông luôn nghi ngại khả năng tác chiến của quân Lục Doanh người Hán. Người Mãn Châu tự coi là một dân tộc chinh phục thiện chiến, còn người Hán là một sắc dân nô dịch, Càn Long ra lệnh nghiên cứu hai cuộc chinh phạt trước, và bản báo cáo càng làm tăng thêm thành kiến của ông— rằng sự yếu kém của quân Lục Doanh là nguyên nhân dẫn đến thất bại.
 
Năm 1767, bổ nhiệm viên tướng người Mãn Châu lão luyện là Minh Thụy, cũng là con rể, làm tổng đốc Vân Nam và Quý Châu, chỉ huy chiến dịch Miến Điện. Minh Thụy đã tham chiến chống người Thổ tại vùng tây bắc, và chỉ huy vùng đất trọng yếu Y Lê (nay thuộc Kazakhstan). Sự bổ nhiệm này có nghĩa đây không còn là việc tranh chấp biên giới mà là một cuộc chiến tranh toàn diện. Minh Thụy tới Vân Nam vào tháng 4. Một lực lượng viễn chinh gồm các binh lính tinh nhuệ Mãn Châu và Mông Cổ được cấp tốc đưa xuống từ Hoa BắcMãn Châu. Trong khắp nội địa Trung Hoa các tỉnh được huy động để cung ứng tiếp liệu. Đạo quân này được hỗ trợ bởi hàng ngàn quân Lục Doanh từ Vân Nam và thổ binh Thái-Shan. Tổng cộng đạo quân xâm lược có khoảng 50.000 quân, phần lớn là lục quân. Địa hình sơn cước và rừng rậm Miến Điện không phù hợp cho kỵ binh tác chiến. Để phòng ngừa dịch bệnh, là vấn đề mà quân Thanh giờ rất coi trọng, cuộc hành binh được hoạch địch trong mùa đông, khi mà dịch bệnh ít tràn lan nhất.

Miến Điện phải đương đầu với một đạo quân Trung Hoa lớn nhất từ trước đến giờ chuẩn bị xâm lược họ. Dù vậy, vua Hsinbyushin dường như không nhận thức được sự nghiêm trọng của tình hình. Trong suốt hai cuộc xâm lược trước, ông luôn luôn không chịu gọi về các đạo quân chính của Miến Điện, vốn đang chinh chiến tại Xiêm từ tháng 1 năm 1765 và bao vây kinh đô Ayutthaya từ tháng 1 năm 1766. Trong suốt năm 1767, khi quân Trung Hoa đang điều động lực lượng chuẩn bị cho cuộc viễn chinh, quân Miến Điện vẫn chỉ chú tâm vào việc đánh bại người Xiêm. Thậm chí sau khi kinh đô Xiêm đã bị chiếm vào tháng 4 năm 1767, Hsinbyushin vẫn giữ một bộ phận lớn quân đội tại Xiêm trong các tháng mùa mưa để đánh dẹp tàn quân Xiêm trong mùa đông tới. Thậm chí ông còn cho các đơn vị quân Shan và Lào giải giáp vào đầu mùa mưa năm đó.

Kết quả là khi cuộc chiến bắt đầu tháng 11 năm 1767, hệ thống phòng thủ của Miến Điện vẫn chưa được nâng cấp để đối phó với một địch thủ mạnh mẽ và quyết tâm hơn rất nhiều. Bộ chỉ huy của quân Miến vẫn giống như lần trước, Hsinbyushin vẫn chỉ định các chỉ huy lần trước để chống lại quân Trung Hoa. Maha Sithu chỉ huy đạo quân chủ lực, và là tổng chỉ huy chiến trường, với Maha Thiha ThuraNe Myo Sithu chỉ huy hai cánh quân Miến còn lại. Balamindin lại được lệnh phòng thủ thành Kaungton. (Với đạo quân chủ lực của Miến Điện chỉ có khoảng 7000 binh, toàn bộ lực lượng Miến Điện khi bắt đầu cuộc viễn chinh lần thứ ba không thể vượt quá 20.000 quân.)

Các lộ quân trong cuộc viễn chinh lần thứ ba (1767-1768)

Minh Thụy dự trù tấn công theo hai gọng kìm ngay khi mùa mưa chấm dứt. Đạo quân chủ lực do chính Minh Thụy chỉ huy sẽ tiến vào Ava theo đường Hsenwi, LashioHsipaw, dọc theo sông Namtu. (Đường tiến quân chính sử dụng hướng tấn công do quân Thanh truy đuổi Vĩnh Lịch Đế nhà Minh một thế kỷ trước). Đạo quân thứ hai do tướng Ngạch Nhĩ Cảnh Ngạch (額爾景額) chỉ huy, lại tiến theo hướng Bhamo. Mục tiêu chính của cả hai đạo quân là hội quân thành một gọng kìm siết chặt thủ đô Ava của người Miến. Kế hoạch của quân Miến là kìm chân đạo quân Thanh tại phía bắc Kaungton với cánh quân của Ne Myo Sithu, và đón đánh cánh quân chủ lực của quân Thanh ở miền đông bắc với hai cánh quân của Maha Sithu và Maha Thiha Thura.

Ban đầu, mọi việc tiến hành đúng theo kế hoạch của nhà Thanh. Cuộc viễn chinh bắt đầu tháng 11 năm 1767 với cánh quân phụ của quân Thanh đánh chiếm Bhamo. Chỉ trong vòng 8 ngày, cánh quân chủ lực của Minh Thụy chiếm các tiểu quốc Shan Hsenwi và Hsipaw. Minh Thụy đặt Hsenwi thành căn cứ hậu cần, để lại đây 5.000 quân bảo vệ phía sau lưng, rồi dẫn 15.000 quân về hướng Ava. Cuối tháng 12, tại đèo Goteik (phía nam Hsipaw), quân hai bên đối mặt trong một trận quyết chiến đầu tiên kể từ khi chiến dịch bắt đầu. Không chống lại được quân Thanh đông gấp hai lần, đạo quân chủ lực của Miến do Maha Sithu bị quân Bát kỳ đánh tan tác. Maha Thiha Thura cũng bị đánh lui tại Hsenwi. Tin về trận đại bại tại Goteik bay về Ava. Vua Hsinbyushin cuối cùng cũng nhận ra tình hình nguy cập, và gấp rút gọi các đạo quân viễn chinh Miến từ Xiêm về.

Sau khi đánh vỡ đạo quân chủ lực của Miến Điện, Minh Thụy xua quân tiến lên, đánh chiếm hết thị trấn này đến thị trấn khác và đến được Singu trên bờ sông Irrawaddy, chỉ cách Ava có 30 dặm về phía bắc vào đầu năm 1768. Với người Miến, tin tốt duy nhất mà họ nhận được là việc cánh quân xâm lược thứ hai ở phía bắc, vốn định theo dòng Irrawaddy hội binh với quân chủ lực của Minh Thụy, đã bị chặn đứng tại Kaungton.

Tại Ava, Hsinbyushin nổi danh vì không khiếp sợ trước viễn cảnh một đạo quân Trung Hoa lớn (khoảng 30.000 quân) đã đến trước cửa. Triều đình giục nhà vua bỏ trốn, nhưng nhà vua đáp lại một cách khinh miệt, rằng ông và các hoàng thân em trai, con của Alaungpaya, sẽ đánh lại quân Thanh dù có phải đơn độc chiến đấu. Thay vì phòng ngự thủ đô, Hsinbyushin bình tĩnh đưa một đạo quân thiết lập vị trí tiền tiêu ngoài Singu, bản thân ông cũng dẫn binh sĩ lên tuyến đầu chiến tuyến.

Trong khi đó, hóa ra là Minh Thụy cũng đã phải căng ra quá sức, và không có khả năng tiến sâu hơn nữa. Quân Thanh giờ ở quá xa căn cứ hậu cần chính tại Hsenwi, cách đó hàng trăm dặm ở miền thượng du Shan phía bắc. Quân du kích Miến đánh phá tuyến vận lương trong rừng của quân Thanh, ngăn trở quân Thanh tiến xa thêm. (Lực lượng du kích được tướng Teingya Minkhaung, phó tướng của Maha Thiha Thura, chỉ huy). Minh Thụy phải quay sang phòng ngự, kéo dài thời gian chờ đạo quân phía bắc đến cứu viện. Nhưng viện quân không bao giờ tới nơi, đạo quân phía bắc bị tổn thất nặng nề trong các đợt hãm thành liên tiếp đánh vào Kaungton. Chỉ huy đạo quân này, chống lệnh Minh Thụy, rút lui về Vân Nam.

Tình hình quân Thanh trở nên bi đát. Đầu năm 1768, viện binh Miến gồm các đội binh thiện chiến từ chiến trường Xiêm bắt đầu về tới nơi. Được tăng cường bởi viện binh, hai cánh quân Miến của Maha Thiha Thura và Ne Myo Sithu đánh chiếm lại Hsenwi. Tướng chỉ huy quân Thanh tại Hsenwi tự sát.Vậy là tới tháng 3 năm 1768, cánh quân chính của nhà Thanh bị cắt đứt hoàn toàn khỏi đường tiếp tế. Hàng ngàn quân Bát kỳ, vốn là các chiến binh du mục miền thảo nguyên phương bắc dọc biên giới với Nga, nay bắt đầu chết vì bệnh sốt rét cũng như vì bị quân Miến tập kích trong cái nóng nung người ở miền trung Miến Điện. Minh Thụy không còn hy vọng tiến đánh Ava, phải tìm cách rút về Vân Nam để bảo toàn lực lượng.
Tháng 3 năm 1768, quân Thanh bắt đầu rút lui, bị quân Miến với khoảng 10.000 bộ binh và 2.000 kỵ binh bám riết. Quân Miến định vây hãm quân Thanh bằng cách chia làm hai cánh quân. Maha Thiha Thura nay là tổng chỉ huy thay Maha Sithu. Cánh quân nhỏ hơn do Maha Sithu chỉ huy, tiếp tục truy đuổi quân Thanh trong khi cánh quân chủ lực của Maha Thiha Thura theo đường núi bất ngờ xông vào hậu quân Thanh. Bằng các cuộc hành binh được chuẩn bị kỹ lưỡng, quân Miến thành công trong việc khép vây hoàn toàn quân Thanh tại Pyinoolwin (nay là Maymyo), cách Ava 50 dặm về phía đông bắc. Sau ba ngày giao chiến đẫm máu, quân Bát kỳ bị tiêu diệt hoàn toàn. Cuộc tàn sát dữ dội đến mức quân Miến không cầm được vào chuôi gươm trơn tuột vì đẫm máu quân địch. Trong tổng số quân ban đầu gồm 30.000 người, chỉ còn 2500 sống sót và bị bắt làm tù binh. Số còn lại hoặc bị giết trên chiến trường, hoặc chết bệnh hay bị hành quyết sau khi đầu hàng. Bản thân Minh Thụy bị thương nặng. Chỉ có một nhóm nhỏ quân Thanh tìm cách phá được vòng vây chạy thoát. Tướng Thanh Minh Thụy dù có thể tẩu thoát cùng nhóm này, nhưng quyết định cắt bím tóc gửi về cho hoàng đế làm minh chứng cho sự trung thành của mình, rồi treo cổ tự sát.

Hoàng đế Càn Long phái Minh Thụy và quân Bát kỳ đi, tính rằng chiến thắng dễ như trở bàn tay. Nhà Thanh bắt đầu lên kế hoạch cai trị vùng đất mới được sáp nhập. Trong vòng vài tuần, triều đình không nhận được tin tức chiến trường, và rồi tin dữ cũng bay về. Hoàng đế choáng váng, hạ lệnh ngưng tất cả các hoạt động quân sự cho tới khi ông có thể quyết định được bước đi tiếp theo. Các tướng lĩnh trở về từ chiến trường khuyên can hoàng đế rằng Miến Điện không thể chinh phục được. Tuy nhiên, nhà Thanh không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục chiến tranh, vì thể diện quốc gia.

Càn Long quay sang một trong những quân sư tin cẩn nhất của mình Phó Hằng, chú của Minh Thụy. Trong những năm 1750, Phó Hằng là một trong số ít quan lại ủng hộ Càn Long đánh dẹp quân nổi dậy Dzungar, tại thời điểm mà đa phần mọi người đều cho rằng chiến tranh rất bất trắc. Ngày 14 tháng 4 năm 1768, triều đình thông báo Minh Thụy tử trận, và bổ nhiệm Phó Hằng làm tổng chỉ huy mới cho chiến dịch Miến Điện. Các tướng lĩnh Mãn Thanh là Agui, Aligun và Suhede được cử làm phó tướng. Cả một nhóm tướng lĩnh hàng đầu của nhà Thanh sửa soạn cho cuộc quyết chiến với Miến Điện.

Trước khi chiến sự tái diễn, phía Trung Hoa cho người dò hỏi khả năng hòa bình với triều đình Ava. Phía Miến Điện cũng đánh tin họ muốn có cơ hội thương thuyết, vì họ vẫn còn vướng chân tại Xiêm. Tuy nhiên Càn Long, được Phó Hằng khích, cương quyết cho rằng không thể hòa hoãn với Miến Điện, không thể để mất thể diện quốc gia. Mục tiêu của Càn Long là thiết lập ách cai trị của nhà Thanh lên toàn Miến Điện. Các phái đoàn cũng được cử sang Xiêm và Lào để thông báo cho họ biết ý định của phía Trung Hoa, và tìm kiếm đồng minh.
 
Ava giờ phải chuẩn bị cho một cuộc xâm lăng toàn diện. Hsinbyushin cho gọi gần hết binh tướng từ Xiêm về nước để đương đầu với quân Thanh. Lợi dụng quân Miến bận rộn đối phó với hiểm họa từ phía nhà Thanh, quân kháng chiến Xiêm tái chiếm Ayutthaya năm 1768, rồi tiếp tục tái chiếm tất cả các lãnh thổ trước đó mất vào tay người Miến trong các năm 1768 và 1769. Với người Miến, tất cả các thành quả mà họ phải khó nhọc mới giành được trong 3 năm trước đó (1765–1767) ở Xiêm tan thành bọt nước, mà họ không có cách nào cứu vãn được, vì bản thân họ phải chuẩn bị cho một cuộc chiến có tính chất sống còn.

Chiến thuyền Miến trên sông Irrawaddy

Phó Hằng tới Vân Nam tháng 4 năm 1769 để chỉ huy đạo quân gồm 60 ngàn binh lính. Ông nghiêm cứu các cuộc viễn chinh trước đó của nhà Minh và quân Mông Cổ để lên kế hoạch tác chiến, theo đó quân Thanh sẽ tiến đánh theo ba mũi, qua ngả Bhamo và sông Irrawaddy. Cánh quân thứ nhất sẽ tiến đánh trực diện vào Bhamo và Kaungton, tức sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên hai cánh quân còn lại lớn hơn sẽ bỏ qua Kaungton và tiến dọc sông, mỗi cánh trên một bờ sông, tiến về Ava. Hai cánh quân này sẽ được hỗ trợ bởi các thuyền chiến dùng thủy thủ từ hạm đội Triết Giang. Để không lặp lại sai lầm của Minh Thụy, ông cho bảo vệ tuyến tiếp tế và liên lạc của mình, cũng như cho tiến quân với tốc độ phù hợp. Ông không cho tiến quân xuyên rừng qua miền đồi núi xứ Shan để tránh bị quân du kích Miến phục kích cắt đường tiếp tế. Ông cũng mang theo một đội quân đông đảo thợ mộc để xây dựng đồn lũy và chiến thuyền dọc đường tiến quân.

Mục tiêu chính của quân Miến là chặn quân địch tại biên giới, ngăn cản quân Trung Hoa thọc sâu vào lãnh thổ của họ. Maha Thiha Thura là tổng chỉ huy, tiếp tục vai trò mà ông đã nắm trong nửa cuối chiến dịch trước. Vẫn như thường lệ, Balamindin chỉ huy đồn Kaungton. Tuần cuối tháng 9, ba đạo quân Miến được điều động đánh chặn ba cánh quân Thanh. Một đạo quân thứ tư được tổ chức với mục đích cắt đường tiếp tế của quân địch. Vua Hsinbyushin cũng tổ chức một hạm đội thủy quân để đánh chiến thuyền Thanh. Quân Miến giờ còn gồm cả lính hỏa mai Pháp dưới quyền chỉ huy của Pierre de Milard, tổng trấn thành Tabe ở Miến Điện, vừa quay trở về từ chiến trường Xiêm. Dựa vào hướng di chuyển quân địch, phía Miến Điện biết được đường tiến công của đạo quân xâm lược. Maha Thiha Thura cho quân ngược sông bằng thuyền về Bhamo.

Khi quân Miến bắc tiến, Phó Hằng bất chấp lời khuyên của các tướng dưới quyền, quyết định không chờ tới hết mùa mưa. Đây là một hành động liều lĩnh có tính toán; ông muốn đánh nhanh trước khi quân Miến tới, đồng thời hy vọng "chướng khí sẽ không lan tràn khắp nơi." Tháng 10 năm 1768, tới cuối mùa mưa, Phó Hằng mở màn chiến dịch xâm lược lớn nhất cho tới lúc đó. Cả ba đạo quân Trung Hoa đồng loạt đánh và hạ thành Bhamo. Tiếp đó họ nam tiến, xây dựng một tòa thành lớn gần làng Shwenyaungbin, cách thành Kaungton của quân Miến 12 dặm về phía đông. Theo kế hoạch, thợ mộc Trung Hoa đóng hàng trăm thuyền chiến để đi xuôi dòng Irrawaddy.

Tuy nhiên không có kế hoạch nào thực hiện được như dự định. Một đạo quân vượt qua bờ tây sông Irrawaddy như kế hoạch, tuy nhiên chỉ huy đạo quân này không muốn tiến quá xa khỏi căn cứ của mình. Khi quân Miến bên bờ tây áp sát, quân Thanh rút về bờ đông. Tương tự như vậy, đạo quân được chỉ định tiến theo bờ đông cũng không dịch chuyển, khiến cho thủy quân Thanh bị hở sườn. Hạm đội Miến Điện ngược dòng tấn công và đánh chìm tất cả chiến thuyền Thanh. Các đạo quân Thanh giờ hợp sức đánh thành Kaungton. Nhưng sau bốn tuần liên tiếp, quân Miến Điện chống cự dũng mãnh phi thường, đánh lui hết đợt xung phong này đến đợt xung phong khác của quân Bát kỳ dũng cảm tràn lên mặt thành.

Chỉ hơn một tháng sau khi bắt đầu chiến dịch, toàn bộ quân Thanh đã bị sa lầy. Dễ đoán được là rất nhiều binh lính và thủy thủ Trung Hoa bắt đầu đổ bệnh, và bắt đầu chết hàng loạt. Bản thân Phó Hằng cũng ngã bệnh. Bi đát hơn, cánh quân Miến được lệnh cắt đường tiếp tế cũng hoàn thành nhiệm vụ, và áp lại từ phía sau quân Thanh. Tới đầu tháng 12, toàn bộ đạo quân Thanh đã bị vây kín. Quân Miến tiếp đó đánh thành Shwenyaungbin, thành này thất thủ sau một trận ác chiến. Tàn quân Thanh từ đây bỏ chạy về hướng Kaungton nơi quân Thanh đang đóng. Quân Thanh bị khóa chặt trong hành lang Shwenyaungbin và Kaungton, bị quân Miến vây kín vòng trong vòng ngoài.

Thượng thư bộ binh Phó Hằng
Bộ chỉ huy quân Thanh, sau khi đã mất 20.000 quân và một số hỏa khí, giờ muốn nghị hòa. Các tướng lĩnh Miến không muốn nhân nhượng, cho rằng quân Thanh đã bị vây như thú trong chuồng, chết đói chết khát, và chỉ cần vài ngày nữa sẽ bị tiêu diệt đến kẻ cuối cùng. Nhưng Maha Thiha Thura, người chỉ huy trận Maymyo năm 1768 tiêu diệt đạo quân Thanh của tướng Minh Thụy, nhận thấy rằng việc tận diệt một đạo quân Thanh nữa sẽ chỉ làm triều đình nhà Thanh thêm quyết tâm phục hận.

Maha Thiha Thura nói:

Các binh tướng, nếu chúng ta không cho giảng hòa, chúng sẽ tiếp tục tiến hành một cuộc xâm lược nữa. Và một khi chúng ta đánh bại đạo quân đó, chúng sẽ gửi một đạo quân nữa. Nước ta không thể cứ đánh hết đạo quân Trung Hoa này đến đạo quân Trung Hoa khác, vì ta còn nhiều việc khác phải làm. Hãy ngưng cuộc tàn sát, và để dân họ và dân ta được sống trong thái bình.
Ông chỉ ra cho các tướng rằng chiến tranh với Trung Hoa đã trở thành một cái ung nhọt mà cuối cùng sẽ làm tiêu tan đất nước. So với thiệt hại của quân Thanh, tổn thất của quân Miến ít hơn nhiều, nhưng so với tỷ trọng dân số, đây là một mất mát to lớn. Các tướng không phục, nhưng Maha Thiha Thura, dùng quyền của mình, và không thông báo với nhà vua, đòi phía Thanh phải chất nhận các điều khoản:

  1. Quân Thanh phải trao lại tất cả các sawbwas (chúa mường), những kẻ phản loạn, những kẻ lẩn tránh pháp luật Miến Điện và bỏ trốn vào lãnh thổ nhà Thanh;
  2. Nhà Thanh phải công nhận chủ quyền của Miến Điện trên các tiểu quốc Shan vốn thuộc Miến Điện;
  3. Tất cả tù binh chiến tranh phải được phóng thích;
  4. Hoàng đế Trung Hoa và nhà vua Miến Điện duy trì quan hệ hữu hảo, thường xuyên trao đổi sứ thần mang quốc thư hữu nghị và tặng phẩm.
Phía Thanh chấp nhận các điều khoản. Tại Kaungton, ngày 13 tháng 12 năm 1769 dưới một ngôi chùa 7 tháp, 14 tướng Miến và 13 tướng Thanh ký hòa ước (còn gọi là Hòa ước Kaungton). Quân Thanh đốt bỏ chiến thuyền và nấu chảy hỏa pháo. Hai ngày sau, quân Miến xếp hàng, bồng vũ khí nhìn theo đoàn quân Thanh đói khát rời trại, ủ rũ rời đi dọc theo thung lũng Taiping; quân Thanh bắt đầu chết đến hàng ngàn người vì đói khát trên các ngả đường rút quân.
 
Đọc mà biết về nhà Thanh nhé @Prostar
Nếu không tin mày cứ kiểm chứng thông tin ở trên xem tao nói sai chỗ nào,
Nhà Thanh của mày bị các nước khinh như chó
 
Trung cẩu đánh đấm như Lồn, chỉ nội chiến đánh giết lẫn nhau là giỏi, lúc có ngoại xâm thì thiên tài trận pháp, chiến thần cầm quân trăm vạn biến cmn đi đâu hết, chỉ thấy cả lũ chổng đít quỳ lạy nhận giặc làm bố.
 
Đọc mà biết về nhà Thanh nhé @Prostar
Nếu không tin mày cứ kiểm chứng thông tin ở trên xem tao nói sai chỗ nào,
Nhà Thanh của mày bị các nước khinh như chó
Địt mịa mày có đọc cái comment cuối mày đăng không là Miến Điện muốn hòa với nhà Thanh khi họ thấy nếu hết lượt này đến lượt khác nhà Thanh gây chiến thì quờ gia lụn bại đấy khi nhà Thanh lúc đó có dân số lớn nhất thế giới nhé mày
 
Ava giờ phải chuẩn bị cho một cuộc xâm lăng toàn diện. Hsinbyushin cho gọi gần hết binh tướng từ Xiêm về nước để đương đầu với quân Thanh. Lợi dụng quân Miến bận rộn đối phó với hiểm họa từ phía nhà Thanh, quân kháng chiến Xiêm tái chiếm Ayutthaya năm 1768, rồi tiếp tục tái chiếm tất cả các lãnh thổ trước đó mất vào tay người Miến trong các năm 1768 và 1769. Với người Miến, tất cả các thành quả mà họ phải khó nhọc mới giành được trong 3 năm trước đó (1765–1767) ở Xiêm tan thành bọt nước, mà họ không có cách nào cứu vãn được, vì bản thân họ phải chuẩn bị cho một cuộc chiến có tính chất sống còn.

Chiến thuyền Miến trên sông Irrawaddy

Phó Hằng tới Vân Nam tháng 4 năm 1769 để chỉ huy đạo quân gồm 60 ngàn binh lính. Ông nghiêm cứu các cuộc viễn chinh trước đó của nhà Minh và quân Mông Cổ để lên kế hoạch tác chiến, theo đó quân Thanh sẽ tiến đánh theo ba mũi, qua ngả Bhamo và sông Irrawaddy. Cánh quân thứ nhất sẽ tiến đánh trực diện vào Bhamo và Kaungton, tức sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên hai cánh quân còn lại lớn hơn sẽ bỏ qua Kaungton và tiến dọc sông, mỗi cánh trên một bờ sông, tiến về Ava. Hai cánh quân này sẽ được hỗ trợ bởi các thuyền chiến dùng thủy thủ từ hạm đội Triết Giang. Để không lặp lại sai lầm của Minh Thụy, ông cho bảo vệ tuyến tiếp tế và liên lạc của mình, cũng như cho tiến quân với tốc độ phù hợp. Ông không cho tiến quân xuyên rừng qua miền đồi núi xứ Shan để tránh bị quân du kích Miến phục kích cắt đường tiếp tế. Ông cũng mang theo một đội quân đông đảo thợ mộc để xây dựng đồn lũy và chiến thuyền dọc đường tiến quân.

Mục tiêu chính của quân Miến là chặn quân địch tại biên giới, ngăn cản quân Trung Hoa thọc sâu vào lãnh thổ của họ. Maha Thiha Thura là tổng chỉ huy, tiếp tục vai trò mà ông đã nắm trong nửa cuối chiến dịch trước. Vẫn như thường lệ, Balamindin chỉ huy đồn Kaungton. Tuần cuối tháng 9, ba đạo quân Miến được điều động đánh chặn ba cánh quân Thanh. Một đạo quân thứ tư được tổ chức với mục đích cắt đường tiếp tế của quân địch. Vua Hsinbyushin cũng tổ chức một hạm đội thủy quân để đánh chiến thuyền Thanh. Quân Miến giờ còn gồm cả lính hỏa mai Pháp dưới quyền chỉ huy của Pierre de Milard, tổng trấn thành Tabe ở Miến Điện, vừa quay trở về từ chiến trường Xiêm. Dựa vào hướng di chuyển quân địch, phía Miến Điện biết được đường tiến công của đạo quân xâm lược. Maha Thiha Thura cho quân ngược sông bằng thuyền về Bhamo.

Khi quân Miến bắc tiến, Phó Hằng bất chấp lời khuyên của các tướng dưới quyền, quyết định không chờ tới hết mùa mưa. Đây là một hành động liều lĩnh có tính toán; ông muốn đánh nhanh trước khi quân Miến tới, đồng thời hy vọng "chướng khí sẽ không lan tràn khắp nơi." Tháng 10 năm 1768, tới cuối mùa mưa, Phó Hằng mở màn chiến dịch xâm lược lớn nhất cho tới lúc đó. Cả ba đạo quân Trung Hoa đồng loạt đánh và hạ thành Bhamo. Tiếp đó họ nam tiến, xây dựng một tòa thành lớn gần làng Shwenyaungbin, cách thành Kaungton của quân Miến 12 dặm về phía đông. Theo kế hoạch, thợ mộc Trung Hoa đóng hàng trăm thuyền chiến để đi xuôi dòng Irrawaddy.

Tuy nhiên không có kế hoạch nào thực hiện được như dự định. Một đạo quân vượt qua bờ tây sông Irrawaddy như kế hoạch, tuy nhiên chỉ huy đạo quân này không muốn tiến quá xa khỏi căn cứ của mình. Khi quân Miến bên bờ tây áp sát, quân Thanh rút về bờ đông. Tương tự như vậy, đạo quân được chỉ định tiến theo bờ đông cũng không dịch chuyển, khiến cho thủy quân Thanh bị hở sườn. Hạm đội Miến Điện ngược dòng tấn công và đánh chìm tất cả chiến thuyền Thanh. Các đạo quân Thanh giờ hợp sức đánh thành Kaungton. Nhưng sau bốn tuần liên tiếp, quân Miến Điện chống cự dũng mãnh phi thường, đánh lui hết đợt xung phong này đến đợt xung phong khác của quân Bát kỳ dũng cảm tràn lên mặt thành.

Chỉ hơn một tháng sau khi bắt đầu chiến dịch, toàn bộ quân Thanh đã bị sa lầy. Dễ đoán được là rất nhiều binh lính và thủy thủ Trung Hoa bắt đầu đổ bệnh, và bắt đầu chết hàng loạt. Bản thân Phó Hằng cũng ngã bệnh. Bi đát hơn, cánh quân Miến được lệnh cắt đường tiếp tế cũng hoàn thành nhiệm vụ, và áp lại từ phía sau quân Thanh. Tới đầu tháng 12, toàn bộ đạo quân Thanh đã bị vây kín. Quân Miến tiếp đó đánh thành Shwenyaungbin, thành này thất thủ sau một trận ác chiến. Tàn quân Thanh từ đây bỏ chạy về hướng Kaungton nơi quân Thanh đang đóng. Quân Thanh bị khóa chặt trong hành lang Shwenyaungbin và Kaungton, bị quân Miến vây kín vòng trong vòng ngoài.

Thượng thư bộ binh Phó Hằng
Bộ chỉ huy quân Thanh, sau khi đã mất 20.000 quân và một số hỏa khí, giờ muốn nghị hòa. Các tướng lĩnh Miến không muốn nhân nhượng, cho rằng quân Thanh đã bị vây như thú trong chuồng, chết đói chết khát, và chỉ cần vài ngày nữa sẽ bị tiêu diệt đến kẻ cuối cùng. Nhưng Maha Thiha Thura, người chỉ huy trận Maymyo năm 1768 tiêu diệt đạo quân Thanh của tướng Minh Thụy, nhận thấy rằng việc tận diệt một đạo quân Thanh nữa sẽ chỉ làm triều đình nhà Thanh thêm quyết tâm phục hận.

Maha Thiha Thura nói:

Các binh tướng, nếu chúng ta không cho giảng hòa, chúng sẽ tiếp tục tiến hành một cuộc xâm lược nữa. Và một khi chúng ta đánh bại đạo quân đó, chúng sẽ gửi một đạo quân nữa. Nước ta không thể cứ đánh hết đạo quân Trung Hoa này đến đạo quân Trung Hoa khác, vì ta còn nhiều việc khác phải làm. Hãy ngưng cuộc tàn sát, và để dân họ và dân ta được sống trong thái bình.
Ông chỉ ra cho các tướng rằng chiến tranh với Trung Hoa đã trở thành một cái ung nhọt mà cuối cùng sẽ làm tiêu tan đất nước. So với thiệt hại của quân Thanh, tổn thất của quân Miến ít hơn nhiều, nhưng so với tỷ trọng dân số, đây là một mất mát to lớn. Các tướng không phục, nhưng Maha Thiha Thura, dùng quyền của mình, và không thông báo với nhà vua, đòi phía Thanh phải chất nhận các điều khoản:

  1. Quân Thanh phải trao lại tất cả các sawbwas (chúa mường), những kẻ phản loạn, những kẻ lẩn tránh pháp luật Miến Điện và bỏ trốn vào lãnh thổ nhà Thanh;
  2. Nhà Thanh phải công nhận chủ quyền của Miến Điện trên các tiểu quốc Shan vốn thuộc Miến Điện;
  3. Tất cả tù binh chiến tranh phải được phóng thích;
  4. Hoàng đế Trung Hoa và nhà vua Miến Điện duy trì quan hệ hữu hảo, thường xuyên trao đổi sứ thần mang quốc thư hữu nghị và tặng phẩm.
Phía Thanh chấp nhận các điều khoản. Tại Kaungton, ngày 13 tháng 12 năm 1769 dưới một ngôi chùa 7 tháp, 14 tướng Miến và 13 tướng Thanh ký hòa ước (còn gọi là Hòa ước Kaungton). Quân Thanh đốt bỏ chiến thuyền và nấu chảy hỏa pháo. Hai ngày sau, quân Miến xếp hàng, bồng vũ khí nhìn theo đoàn quân Thanh đói khát rời trại, ủ rũ rời đi dọc theo thung lũng Taiping; quân Thanh bắt đầu chết đến hàng ngàn người vì đói khát trên các ngả đường rút quân.
nhà thanh có phim về cuộc khởi nghĩa thái bình thiên quốc có thằng kim thành vũ đẹp trai phết
 

Có thể bạn quan tâm

Top