Kiêu Binh làm loạn

TOÀN CẢNH NẠN KIÊU BINH THỜI LÊ TRUNG HƯNG

Nạn kiêu binh (hay Kiêu binh chi loạn) là một hiện tượng lịch sử đặc biệt diễn ra vào thời hậu kỳ Lê Trung Hưng. Đây là cụm từ dùng để chỉ sự lộng hành, tráo trở của lực lượng binh lính có gốc gác từ hai xứ Thanh Hóa và Nghệ An. Do cậy mình có công lớn trong việc phò tá triều đình, đội quân này đã sinh thói kiêu căng, coi thường luật pháp, biến kinh thành Thăng Long thành nơi quần thảo của bạo lực và trực tiếp đẩy cơ nghiệp hơn 200 năm của vua Lê - chúa Trịnh vào cảnh sụp đổ mau chóng.

Nguồn gốc của "lính tam phủ" và sự tha hóa quyền lực:

Cội nguồn của nạn kiêu binh bắt đầu từ giai đoạn Nam - Bắc triều, khi nhà Lê dấy nghĩa ở Thanh Hóa để chống lại nhà Mạc lúc bấy giờ đang làm chủ miền Bắc. Để phục vụ công cuộc trung hưng, triều đình đã tuyển mộ binh lính tại ba phủ chiến lược bao gồm Hà Trung, Thiệu Hóa và Tĩnh Gia (thuộc địa bàn hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay).

Sau khi đánh bại nhà Mạc và thu phục lại Thăng Long, đội quân này (thường gọi là lính tam phủ) được triều đình tôn vinh là thân binh, ưu binh hoặc nhất binh. Họ được tin dùng tuyệt đối trong vai trò lực lượng túc vệ, bảo vệ hoàng thành và phủ chúa. Tuy nhiên, chính sự sùng ái và nuông chiều quá mức từ các đời chúa Trịnh đã gieo mầm mống cho tai họa. Sống giữa thời bình nhưng vẫn nắm giữ vũ khí và đặc quyền, lính tam phủ dần coi thường phép nước, ngang nhiên phạm pháp mà không bị trừng trị thích đáng, khiến người dân kinh kỳ khiếp sợ gọi họ bằng cái tên: Kiêu binh.

Sự ngông cuồng của lực lượng này không phải bộc phát nhất thời mà đã âm ỉ qua nhiều đời chúa:

Năm 1674 (đời chúa Trịnh Tạc): Khi hai đại thần đầu triều là Tham tụng Phạm Công Trứ và Bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh bàn kế hoạch kìm hãm, đưa quân sĩ vào khuôn khổ luật lệ, kiêu binh đã nổi loạn, đón đường giết chết Nguyễn Quốc Trinh và kéo đến đập phá, cướp bóc nhà riêng của Phạm Công Trứ. Chúa Trịnh Tạc khi đó hoảng sợ, phải dùng tiền bạc để xoa dịu binh lính rồi mới dám bí mật bắt giết ba kẻ cầm đầu để tế vong hồn Nguyễn Quốc Trinh.
Năm 1741 (đời chúa Trịnh Doanh): Quân ưu binh tiếp tục cậy thế làm loạn, kéo đến đập phá dinh thự và suýt soát lấy mạng quan Tham tụng Nguyễn Quý Cảnh khi vị đại thần này thẳng thắn bác bỏ các yêu sách phi lý của chúng.

Đỉnh điểm quốc nạn: Tự quyết ngôi Chúa, phế lập ngôi Vua

Nạn kiêu binh chính thức biến thành một thảm họa chính trị từ tháng 10 năm Nhâm Dần (1782) sau sự kiện chúa Trịnh Sâm qua đời. Lúc bấy giờ, do sự sủng ái của Trịnh Sâm dành cho Tuyên phi Đặng Thị Huệ, vương tử nhỏ là Trịnh Cán (mới 5 tuổi) được đưa lên ngôi chúa dưới sự phò tá của Huy quận công Hoàng Đình Bảo (Quận Huy). Bất bình vì vương tử trưởng là Trịnh Khải (Trịnh Tông) bị phế truất, kiêu binh dưới sự dẫn đầu của một biện lại người Nghệ An tên là Nguyễn Bằng đã bàn mưu đảo chính.

Nguyễn Bằng đánh ba hồi trống dõng dạc làm hiệu, thúc quân ưu binh tràn vào phủ chúa như triều dâng. Họ hung hãn hạ sát Quận Huy, triệt hạ thế lực của Đặng Thị Huệ và ép buộc triều đình lập Trịnh Khải lên ngôi chúa. Trịnh Khải sau khi tại vị liền ban thưởng hậu hĩnh và phong quan tước cho Nguyễn Bằng. Được đà lấn tới, kiêu binh từ đó xem kinh thành như đất không người. Sử gia Bùi Dương Lịch ghi nhận họ công khai trấn lột, đòi hỏi quyền lợi kinh tế ở khắp các điếm tuần, bến đò, chợ búa khiến tình nghĩa quân dân hoàn toàn tuyệt diệt.
Không dừng lại ở việc định đoạt ngôi chúa, lực lượng này tiếp tục can thiệp thô bạo vào hoàng cung nhà Lê. Sau biến cố giết Quận Huy, kiêu binh phá ngục rước cháu trưởng của vua Lê Hiển Tông là Lê Duy Khiêm (sau này là vua Lê Chiêu Thống) về cung. Khi Trịnh thái phi Nguyễn Thị (mẹ Trịnh Sâm) có ý định mưu hại Duy Khiêm để bảo vệ thế tử cũ Lê Duy Cận, kiêu binh đã phát hiện, hò hét bao vây đập phá tan nát nghi trượng của Duy Cận ngay trước cửa phủ đường. Trước sức ép nghẹt thở của binh lính, chúa Trịnh Khải phải đứng ra can thiệp, xin vua Lê truất ngôi của Duy Cận và chính thức lập Lê Duy Khiêm làm Hoàng thái tôn vào đầu năm 1783.

Sự ngạo mạn của kiêu binh đẩy mâu thuẫn triều chính lên đỉnh điểm khi họ trực tiếp tước đoạt vũ khí của chính quyền trung ương. Khi lính tam phủ kéo nhau kéo vào cung đòi ban thưởng công trạng phò tá thái tử, chúa Trịnh Khải lo sợ nguy cơ mất kiểm soát nên đã triệu các cận thần Nguyễn Khản và Dương Khuông vào bàn việc. Chúa sai Nguyễn Triêm dẫn đội quân Phong vân bắt giữ 7 kẻ cầm đầu để định tội chém đầu theo luật "lẻn vào hoàng thành".
Chỉ 6 ngày sau, kiêu binh phát động bạo loạn toàn diện. Chúng hò hét xông thẳng vào phủ chúa đòi mạng Nguyễn Khản và Dương Khuông. Nguyễn Khản phải bỏ trốn lên trấn Sơn Tây, còn Dương Khuông (cậu ruột của chúa) phải trốn biệt trong phủ khi mẹ chúa đứng ra khóc lóc van xin và triều đình phải đem lượng lớn tiền bạc ra chuộc mạng. Để hả giận, kiêu binh bắt chúa Trịnh Khải phải bức tử viên quan trung thành Nguyễn Triêm ra nộp mạng.

Tại Sơn Tây, Nguyễn Khản cùng em trai là Nguyễn Điều bí mật dâng khải xin chúa Trịnh Khải cho phép chiêu mộ nghĩa sĩ bốn trấn về kinh thành diệt trừ kiêu binh. Kế hoạch bị rò rỉ, kiêu binh lập tức lật lọng, gọi chúa là "giặc", thiết lập vòng vây ngặt nghèo biến chúa Trịnh thành con tin sống trong phủ, đồng thời cưỡng ép chúa ra chỉ dụ hoãn ngày khởi sự.

Tuy nhiên, lệnh hoãn chưa tới nơi thì hào kiệt và dân chúng các xứ quanh kinh thành – vốn căm phẫn kiêu binh đến tận xương tủy – đã đồng loạt nổi dậy hưởng ứng. Quân kiêu binh đóng ở các trấn bị đánh tan tác, phải giả dạng làm người câm, ăn mày để trốn tránh thổ âm Thanh - Nghệ, lén lút bò về Thăng Long báo nạn. Kiêu binh trong thành hoảng loạn vơ vét toàn bộ binh khí trong phủ chúa để phòng thủ, đẩy kinh đô vào cảnh chấn động, dân chúng bồng bế nhau chạy trốn. Cuộc khủng hoảng chỉ tạm lắng xuống khi Tham tụng Bùi Huy Bích đứng ra điều đình, buộc quân các trấn rút lui để bảo toàn mạng sống cho chúa Trịnh Khải.

Cái kết tất yếu và bài học xương máu cho hậu thế:


Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của Long Nhượng tướng quân Nguyễn Huệ tiến quân thần tốc ra Bắc Hà. Trước họa ngoại xâm, triều đình Lê - Trịnh một lần nữa phải dựa vào lực lượng túc vệ tam phủ. Thế nhưng, đội quân "chỉ giỏi nội chiến, dốt ngoại xâm" này lúc bấy giờ đã rệu rã, sợ hãi chiến tranh. Họ mượn cớ đòi tiền lương để chần chừ không chịu xuất quân, khiến lòng dân trong thành Thăng Long hoàn toàn sụp đổ.
Ngày 1 tháng 7 năm 1786, khi quân Tây Sơn tiến đánh Thăng Long, quân Trịnh tan vỡ nhanh chóng trong chớp mắt. Nạn kiêu binh kéo dài hàng thập kỷ chính thức kết thúc, kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của vương triều họ Trịnh.
Sự sụp đổ này còn để lại một hệ quả dây chuyền nghiêm trọng: việc kiêu binh giết hại Quận Huy năm 1782 đã khiến người đầy tớ thân tín của ông là Nguyễn Hữu Chỉnh lo sợ bị thanh trừng, liền bỏ trốn vào Quy Nhơn đầu hàng nhà Tây Sơn. Chính Nguyễn Hữu Chỉnh sau đó đã hiến kế và dẫn đường cho Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc diệt Trịnh.

Sách Việt sử tân biên đưa ra lời luận bàn về sự việc này:

“Gia chính cũng như quốc chính, một khi có lũ con cưng đó, tất nhiên phải đưa thiên hạ đến chỗ đại loạn. Lịch sử không chỉ trách kiêu binh, mà còn phải quy trách nhiệm cho những người cầm đầu dân tộc đã vụng suy dại nghĩ. Đội quân này như một cơn lốc làm ngã ngay cái cây đã bị sâu mọt đục nát..."

Nạn kiêu binh thời Lê mạt đã trở thành một vết cắt nhức nhối trong lịch sử, là đề tài mang đậm giá trị hiện thực cho các tác phẩm văn học lớn như Hoàng Lê nhất thống chí, các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật (Loạn kiêu binh, Bà chúa Chè, Chúa Trịnh Khải), và sau này là tác phẩm điện ảnh Long thành cầm giả ca. Đó là bài học muôn đời về việc buông lỏng kỷ cương quân đội và sự nguy hiểm của một lực lượng vũ trang khi bị tha hóa bởi các đặc quyền ích kỷ.

#lichsuvietnam
#vanhoacoinguon
#aigenerated
#coinguonlichsuvavanhoa
#trendingpost
 
Thời này thì loạn cào cào, khác gì thời mạt Đường với mạt Hán đâu :)) Trách thì trách bọn sĩ phu Bắc Cầy quá yếu đuối !! đéo lo đánh đấm toàn lo văn vở, học thơ nói nho suốt ngày nên phải trọng dụng đám kiêu binh trọ trẹ thôi nên bọn nó có lộng hành thì cũng phải chịu chứ thu binh quyền bọn nó rồi thì lấy ai đánh trận ? :))

Mà tụi này không mỗi tỉnh lập một quốc là may nhưng cũng khó trách được vì chiến công quá hiển hách. Lập công lớn trong việc khôi phục nhà Lê, diệt nhà Mạc ở Cao Bằng, cứng cựa với chúa Bầu ở vùng rừng núi Tuyên Quang, phân tranh với chúa Nguyễn cũng đám này, tử thủ với Nguyễn Huệ cũng bọn này nốt. Hơn 200 năm tồn tại của tập đoàn phong kiến Vua Lê - Chúa Trịnh đéo có đám này xung trận, đánh dẹp thiên hạ cho thì nát.
 

Có thể bạn quan tâm

Top