Nhưng gì mày nói có bằng chứng gì không
Thế 73 viện trợ bao nhiêu
75 viện trợ bao nhiêu?
Báo Việt Nam đưa đây
Các năm 1970-1971, viện trợ quân sự của Liên Xô giảm: năm 1970, giá trị viện trợ là 240 triệu rúp; năm 1971 là 89 triệu rúp. Đến giữa năm 1971, Bộ Quốc phòng Việt Nam đề nghị một danh mục viện trợ vũ khí, khí tài lớn trị giá khoảng 300 triệu rúp cho năm 1972 để đáp ứng với tình hình và nhu cầu cuộc chiến tranh. Liên Xô đã chấp thuận giá trị viện trợ khoảng 150 triệu rúp, cung cấp những vũ khí, khí tài chủ yếu cho bộ đội phòng không, không quân, hải quân. Tính chung giai đoạn 1969-1972, tổng số viện trợ của Liên Xô giành cho Việt Nam là 143.793 tấn(14). Năm 1973, Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam trị giá 210 triệu rúp.
Không có bằng chứng gì cho thấy không có Liên Xô thì Trung Quốc viện trợ cả trăm lần cũng không đượcBằng chứng là đây nè
Giảm phòng không vì mẽo rút / thấy đã đủ
Tăng cường vũ khí cơ động dã chiến: Tập trung viện trợ mạnh vào nhóm phục vụ chiến tranh chính quy, thọc sâu dã chiến trên chiến trường miền Nam bao gồm xe tăng (T-54), xe thiết giáp, pháo mặt đất và tên lửa phòng không vác vai A-72. Do đặc tính gọn nhẹ (15 kg), A-72 là "lá chắn lửa" hoàn hảo đi kèm bộ binh để đối phó tại chỗ với không quân chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Đúng chỉ cần xe tank, tên lửa súng bộ binh máy bay là đủ
Và những thứ đó đều có mặt LX tài trợ
Nếu LX muốn ko thống nhất chỉ cần ngưng viện trợ xe tank - tên lửa - máy bay
Việc tổng tấn công sẽ rất khó khăn
Vai trò và nhiệm vụNhưng gì mày nói có bằng chứng gì không
Thế 73 viện trợ bao nhiêu
75 viện trợ bao nhiêu?
Có nhéKhông có bằng chứng gì cho thấy không có Liên Xô thì Trung Quốc viện trợ cả trăm lần cũng không được
Trong giai đoạn 1963 đến 1975, người Trung Quốc trang bị cho miền Bắc gần 2 triệu khẩu súng, gần 50.000 khẩu pháo các loại và thậm chí là gần 500 xe tăng – thứ vũ khí xa xỉ và đắt đỏ thời chiến. Và đó mới chỉ là đến những loại quân trang thiết yếu cho chiến tranh, chưa tính những khoản viện trợ khác.Nếu so vũ khí viện trợ của Liên Xô với vũ khí viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam, thì bức tranh khá rõ:
Trung Quốc mạnh về số lượng và vũ khí bộ binh
Trung Quốc viện trợ rất nhiều:
Type 56 (AK Trung Quốc)
SKS
Súng máy hạng nhẹ, hạng nặng
Đạn dược
Pháo phòng không 12,7 mm, 14,5 mm, 37 mm
Pháo dã chiến
Xe tải vận tải
Trang bị công binh
Ưu điểm:
Rẻ, đơn giản, dễ sử dụng.
Phù hợp chiến tranh du kích.
Số lượng cực lớn.
Liên Xô mạnh về công nghệ quân sự hiện đại
Liên Xô viện trợ:
MiG-17
MiG-21
T-54
PT-76
Tên lửa phòng không SA-2
Tên lửa vác vai SA-7
Radar cảnh giới
Pháo phản lực BM-21 Grad
Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại
Đây là những vũ khí mà Trung Quốc lúc đó chưa sản xuất được hoặc chất lượng còn kém hơn.
Phòng không
Đây là lĩnh vực quyết định.
Liên Xô cung cấp:
SA-2
Radar điều khiển hỏa lực
Chuyên gia huấn luyện
Mạng lưới tên lửa này đã buộc không quân Mỹ phải thay đổi chiến thuật và chịu tổn thất đáng kể.
Nhiều nhà sử học quân sự coi hệ thống phòng không Liên Xô là một trong những yếu tố quân sự quan trọng nhất giúp miền Bắc chống lại chiến dịch ném bom của Mỹ.
Không quân
Máy bay chiến đấu chủ lực của Không quân Nhân dân Việt Nam như MiG-17 và MiG-21 đều là thiết kế Liên Xô.
Trong lĩnh vực này, Liên Xô gần như đóng vai trò quyết định.
Xe tăng và chiến tranh quy ước
Các chiến dịch lớn cuối chiến tranh như:
Chiến dịch Xuân Hè 1972
Chiến dịch Hồ Chí Minh
đều dựa nhiều vào xe tăng T-54, PT-76, pháo phản lực và pháo hạng nặng do Liên Xô cung cấp.
Đánh giá tổng thể
Nếu xếp theo trình độ công nghệ quân sự:
1. Liên Xô
2. Mỹ
3. Trung Quốc
(nhiều loại vũ khí Trung Quốc thời đó thực chất là sản xuất theo mẫu Liên Xô đời cũ).
Nếu xếp theo khối lượng viện trợ vật chất phổ thông:
1. Trung Quốc
2. Liên Xô
Nếu xếp theo tác động chiến lược đến kết quả chiến tranh:
1. Liên Xô
2. Trung Quốc
Một cách ngắn gọn:
Trung Quốc cung cấp "xương sống hậu cần và bộ binh".
Liên Xô cung cấp "công nghệ quân sự hiện đại" như tên lửa, radar, máy bay và xe tăng.
Không có viện trợ Trung Quốc, Bắc Việt sẽ khó duy trì chiến tranh lâu dài vì thiếu trang bị và hậu cần. Không có viện trợ Liên Xô, Bắc Việt sẽ rất khó đối phó với ưu thế không quân của Mỹ và tiến hành các chiến dịch quy mô lớn cuối chiến tranh.
Thì saoTrong giai đoạn 1963 đến 1975, người Trung Quốc trang bị cho miền Bắc gần 2 triệu khẩu súng, gần 50.000 khẩu pháo các loại và thậm chí là gần 500 xe tăng – thứ vũ khí xa xỉ và đắt đỏ thời chiến. Và đó mới chỉ là đến những loại quân trang thiết yếu cho chiến tranh, chưa tính những khoản viện trợ khác.
POLITICS Biden adminèstration The Fix The 202s Polling Democracy in America
Election 2024
CHINA ADMITS COMBAT IN VIETNAM WAR
By Reuter
May 17, 1989 at 1:00 am EDT
Share
Save
Theo ghi nhận của Washington Post, báo cáo của chính phủ Trung Quốc cho thấy có đến 310.000 quân Trung Quốc hiện diện tại Việt Nam trong thời kỳ đỉnh điểm của chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1960 – 1970. Tổng chi phí mà họ đài thọ cho chính quyền Bắc Việt (hay Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa) cả về kinh tế lẫn công cụ, vũ khí quân dụng là hơn 20 tỷ USD. Một đóng góp khổng lồ trong giai đoạn 1955 - 1975.
Chỉ tính viện trợ kinh tế nhéCó nhé
Thứ nhất sam2 bắn b52 máy bay mig hỗ trợ
Thứ 2 súng ak47 ko kẹt đạn
Dễ dùng dame to
Thứ 3 xe tank t54, pt76
Biết trận làng vây dùng xe tank gì ko kon
Ko đánh đc cứ điểm làng vây thì tiến công thế nào biết ko kon
Vai trò và nhiệm vụ
Vô hiệu hóa trực thăng vận: Quân đội Nhân dân Việt Nam dùng A-72 để bẻ gãy chiến thuật cơ động bằng trực thăng (UH-1, CH-47) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi di tản hoặc phản kích.Bảo vệ đội hình hành tiến: Các phân đội súng máy cao xạ và tên lửa A-72 đi cùng các mũi đột kích của xe tăng, thiết giáp để ngăn chặn máy bay cường kích ném bom ngăn chặn.
Các trận đánh và hiệu quả nổi bật
Chiến dịch Tây Nguyên (Tháng 3/1975): Khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa rút chạy trên Đường 7 (Cheo Reo - Phú Bổn), các tổ súng máy và tên lửa A-72 đã khống chế hoàn toàn bầu trời, bắn rơi nhiều máy bay vận tải và trực thăng ứng cứu, làm tê liệt ý chí kháng cự.
Trận Xuân Lộc (Tháng 4/1975): Không quân Việt Nam Cộng hòa huy động tối đa máy bay A-37 và F-5 từ Biên Hòa và Tân Sơn Nhất để oanh tạc tiệt lộ. Tên lửa A-72 của Sư đoàn phòng không 367 và các đơn vị phối thuộc đã lập lưới lửa tầm thấp, bắn hạ nhiều chiếc A-37, buộc phi công phải bay cao hơn và giảm độ chính xác khi ném bom.
Đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất (29/4/1975): Trong sáng ngày 29/4, các tổ A-72 chốt chặn vòng ngoài đã bắn rơi 1 chiếc vận tải hạng nặng C-119K Stinger và 1 chiếc trinh sát EC-47 của Không quân Mỹ/Việt Nam Cộng hòa ngay trên bầu trời Sài Gòn, cắt đứt hoàn toàn đường di tản bằng máy bay cánh cố định.
Tác động chiến thuật
Sự hiện diện của A-72 khiến các loại máy bay ném bom như A-37 và F-5 không thể bổ nhào ở độ cao thấp để yểm trợ bộ binh. Việc phải ném bom từ độ cao trên 2.000 mét khiến hiệu suất oanh tạc giảm mạnh, tạo điều kiện cho các binh đoàn thiết giáp và bộ binh thọc sâu tiến quân thần tốc vào Sài Gòn.
Viện trợ liên tục: Tên lửa A-72 bắt đầu được Liên Xô chuyển giao sang Việt Nam từ đầu năm 1972. Do tính chất tiêu hao cực kỳ nhanh của vũ khí vác vai (mỗi trận đánh thường phóng nhiều quả, tỷ lệ trúng của thế hệ đầu khoảng 20-30%), Liên Xô phải tiếp tục bổ sung đạn và bệ phóng trong giai đoạn 1974–1975 để duy trì năng lực tác chiến cho bộ đội phòng không
Còn mày hãy cminh với vũ khí trung quốc có thể bắn b52 và các trận nào mà vũ khí trung quốc chiếm ưu thế
Trên thực tế, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam giảm mạnh, từ 248 triệu rúp (1973) xuống còn 98 triệu rúp (1974) và 76 triệu rúp (1975).Nhưng gì mày nói có bằng chứng gì không
Thế 73 viện trợ bao nhiêu
75 viện trợ bao nhiêu?
Rồi cminh vũ khí trung quốc có thể bắn b52 đâuChỉ tính viện trợ kinh tế nhé
🇨🇳 viện trợ kinh tế cho 🇻🇳 1950÷1978
(Không bàn về quân sự, chỉ nói kinh tế)
Ngày 18/1/1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thiết lập quan hệ ngoại giao. Theo đề nghị ngày 15/5, Việt Nam xin Trung Quốc hỗ trợ thêm 1.500 đến 2.000 tấn gạo.
Từ năm 1950 đến năm 1954, chính phủ Trung Quốc đã viện trợ 1,67 tỷ nhân dân tệ cho chính phủ Việt Nam, cùng rất nhiều thiết bị quân sự cùng thông tin liên lạc, lương thực, thuốc men, ... cần thiết cho trận Điện Biên Phủ.
Hội nghị Geneve 1954 đã kết thúc chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục giúp Việt Nam khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân. Vào tháng 12, Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đã ký một Nghị định thư tại Bắc Kinh về việc hỗ trợ Việt Nam sửa chữa đường sắt, khôi phục bưu chính viễn thông, sửa chữa đường bộ, vận tải biển và cấp nước.
Năm 1955, một phái đoàn của Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu sang thăm Trung Quốc và đề nghị giúp đỡ xây dựng các mỏ than, nhà máy xi măng, nhà máy kéo sợi và nhà máy điện. Chính phủ Trung Quốc đã cử các chuyên gia, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề sang hỗ trợ và viện trợ 800 triệu nhân dân tệ cho Việt Nam. Trong phụ lục của "Nghị định thư về viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam năm 1955", Trung Quốc bất kể nguồn cung gạo trong nước thiếu hụt, đã viện trợ cho Việt Nam 30.000 tấn gạo, 300 tấn bột mì, 5 tấn nho khô, 1130 thùng rượu, bún, thuốc lá, thuốc bắc độc quyền, thiết bị y tế... Ngoài ra còn có bếp điện, tàu thủy, điện thoại, thước kẹp, bóng đèn.... Các dự án hỗ trợ nông nghiệp từ trồng trọt, chọn giống và chăn nuôi, phòng trừ dịch hại, đến xây dựng bệnh viện thú y, nhà máy sản xuất thuốc chống dịch gia súc, nhà máy diêm, đập gia cố, ... cũng bao gồm 10 nhà máy xay lúa, hai kho xăng dầu. Danh sách này tạo ấn tượng rằng Trung Quốc thực sự coi Việt Nam là một người anh em và sẽ cung cấp tất cả.
Sau năm 1956, với việc hoàn thành thành công “Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Ngày 18 tháng 2 năm 1959, Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đã ký 7 văn kiện, Trung Quốc cho Việt Nam vay dài hạn 300 triệu nhân dân tệ và viện trợ 100 triệu nhân dân tệ.
Tháng 5 năm 1975, miền Nam Việt Nam được giải phóng, Trung Quốc giảm dần viện trợ cho Việt Nam. Tuy nhiên việc xây dựng nhà máy sửa chữa, nhà máy sản xuất hạng nhẹ và hạng nặng... vẫn tiếp tục. Vào tháng 9, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ******** Việt Nam Lê Duẩn thăm Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định cho Việt Nam vay không tính lãi và Nghị định thư năm 1976 về việc Trung Quốc cung cấp nguyên liệu chung cho Việt Nam. Chu Ân Lai nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam: Để hỗ trợ các bạn, chúng tôi đã không ngần ngại thực hiện sự hy sinh to lớn nhất của quốc gia. Trong số các khoản viện trợ nước ngoài của Trung Quốc, khoản viện trợ cho Việt Nam có thời gian dài nhất và số lượng lớn nhất.
Tính từ 1950 đến năm 1978, tổng toàn bộ viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam có thể trang bị cho 2 triệu quân nhân, với nhiều vật chất khác nhau, trị giá hơn 20 tỷ tệ (đồng tiền cũ, quy đổi theo giá vàng sang đồng tiền hiện tại ~ 5000 tỷ tệ). Bao gồm vũ khí, đạn dược và quân nhu, 11,17 triệu bộ quân phục... Hoàn thành 450 dự án xây dựng nhà máy công nghiệp, bệnh viện và viện nghiên cứu... Tổng cộng 34,6 tỷ mét vải bông, 35.000 phương tiện, hơn 600 tàu, hơn 5 triệu tấn ngũ cốc, hơn 2 triệu tấn xăng dầu, hơn 3.000 km đường ống dẫn dầu và 635 triệu usd tiền mặt... Những hỗ trợ này không có ràng buộc nào kèm theo, phần lớn đều là miễn phí và chỉ một tỷ lệ nhỏ là các khoản cho vay nhưng không tính lãi suất...
Chưa kể Trung Quốc là con đường độc đạo trung chuyển viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa khác (chủ yếu là Liên Xô) chuyển qua đường sắt Trung Quốc lên tới 5.750 toa xe trên 179 đoàn tàu, tổng trọng lượng 630.000 tấn hàng viện trợ.
* số liệu Trung Quốc viện trợ công khai, được tổng hợp bởi NesEase và Sohu...
Nếu quy 1 rub ra 1 usd theo quy chuẩn Liên Xô thì nó còn ít hơn nhiều so với vnch nhéTrên thực tế, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam giảm mạnh, từ 248 triệu rúp (1973) xuống còn 98 triệu rúp (1974) và 76 triệu rúp (1975).
1954 liên quan gì đến chống mỹ?Rồi cminh vũ khí trung quốc có thể bắn b52 đâu
Vũ khí trung quốc có thể chiếm miền nam đâu
Vũ khí trung quốc có ưu thế dẫn đến giải phóng đâu
Năm 1965, ở Bulgaria có 245 cuộc mít-tinh của quần chúng ủng hộ Việt Nam, có cuộc lên tới 10.000 người tham dự; tổ chức “tuần lễ ba châu ủng hộ Việt Nam” tuyên bố sẵn sàng gửi quân tình nguyện sang Việt Nam nếu Việt Nam yêu cầu.
Đầu năm 1966, Chủ tịch Cuba Fidel Castro tuyên bố: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Tháng 8/1966, Cuba cử đoàn cán bộ quân sự gồm bộ đội không quân, tên lửa, cao xạ, pháo binh, quân y sang Việt Nam... Cuba nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam thiết bị xây dựng đường sá.
Tháng 1/1950, Trung Quốc và Liên Xô lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Kể từ đây, cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam có một “hậu phương” to lớn, quan trọng về tinh thần và mở đầu việc tiếp nhận sự viện trợ, giúp đỡ về vật chất của bạn bè thế giới.
Trước yêu cầu giúp đỡ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, các nhà lãnh đạo Liên Xô khẳng định: “Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần. Những thứ gì Trung Quốc chưa có, thì hãy lấy trong số hàng Liên Xô đã viện trợ cho Trung Quốc chuyển cho Việt Nam và sẽ được Liên Xô hoàn trả” (1); đồng thời, nhiều đơn vị của Quân đội nhân dân Việt Nam được đưa sang Trung Quốc học tập, huấn luyện và tiếp nhận các loại vũ khí, khí tài do Liên Xô viện trợ.
ngày 26/2/1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ******** Liên Xô gửi điện cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ******** Trung Quốc, bày tỏ lập trường về Hội nghị Genève và những vấn đề khác liên quan đến Việt Nam: “…trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta cũng phải làm cho Hội nghị trở nên có lợi nhất cho nhân dân Việt Nam” (3). Tiếp đó, ngày 27/2/1954, trong cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô V.M. Molotov khẳng định, không chấp nhận sự hiện diện của các phái đoàn quốc gia liên kết trong Hội nghị Genève nếu như Việt Nam Dân chủ cộng hòa không có mặt.
Phát huy đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, từ năm 1950 đến 1954, Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của nhiều lực lượng tiến bộ trên thế giới và nhận được 32.311 tấn hàng viện trợ cùng 1.640 xe các loại (4). Trong tổng số viện trợ nêu trên, viện trợ của Liên Xô chiếm giữ một khối lượng quan trọng, gồm: 128 khẩu súng máy cao xạ 12,7 mm, 112 khẩu pháo cao xạ 37 mm (5), 1.489 xe các loại (6).
Trong lúc các đơn vị quân Pháp đang bị vây hãm tại lòng chảo Điện Biên Phủ, ngày 2/5/1954, Chính phủ Mỹ buộc phải chấp nhận lập trường kiên định của Chính phủ Liên Xô về việc Việt Nam Dân chủ cộng hòa là một bên trong Hội nghị Genève
Chỉ tính viện trợ kinh tế nhé
🇨🇳 viện trợ kinh tế cho 🇻🇳 1950÷1978
(Không bàn về quân sự, chỉ nói kinh tế)
Ngày 18/1/1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thiết lập quan hệ ngoại giao. Theo đề nghị ngày 15/5, Việt Nam xin Trung Quốc hỗ trợ thêm 1.500 đến 2.000 tấn gạo.
Từ năm 1950 đến năm 1954, chính phủ Trung Quốc đã viện trợ 1,67 tỷ nhân dân tệ cho chính phủ Việt Nam, cùng rất nhiều thiết bị quân sự cùng thông tin liên lạc, lương thực, thuốc men, ... cần thiết cho trận Điện Biên Phủ.
Hội nghị Geneve 1954 đã kết thúc chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục giúp Việt Nam khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân. Vào tháng 12, Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đã ký một Nghị định thư tại Bắc Kinh về việc hỗ trợ Việt Nam sửa chữa đường sắt, khôi phục bưu chính viễn thông, sửa chữa đường bộ, vận tải biển và cấp nước.
Năm 1955, một phái đoàn của Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu sang thăm Trung Quốc và đề nghị giúp đỡ xây dựng các mỏ than, nhà máy xi măng, nhà máy kéo sợi và nhà máy điện. Chính phủ Trung Quốc đã cử các chuyên gia, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề sang hỗ trợ và viện trợ 800 triệu nhân dân tệ cho Việt Nam. Trong phụ lục của "Nghị định thư về viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam năm 1955", Trung Quốc bất kể nguồn cung gạo trong nước thiếu hụt, đã viện trợ cho Việt Nam 30.000 tấn gạo, 300 tấn bột mì, 5 tấn nho khô, 1130 thùng rượu, bún, thuốc lá, thuốc bắc độc quyền, thiết bị y tế... Ngoài ra còn có bếp điện, tàu thủy, điện thoại, thước kẹp, bóng đèn.... Các dự án hỗ trợ nông nghiệp từ trồng trọt, chọn giống và chăn nuôi, phòng trừ dịch hại, đến xây dựng bệnh viện thú y, nhà máy sản xuất thuốc chống dịch gia súc, nhà máy diêm, đập gia cố, ... cũng bao gồm 10 nhà máy xay lúa, hai kho xăng dầu. Danh sách này tạo ấn tượng rằng Trung Quốc thực sự coi Việt Nam là một người anh em và sẽ cung cấp tất cả.
Sau năm 1956, với việc hoàn thành thành công “Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Ngày 18 tháng 2 năm 1959, Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam đã ký 7 văn kiện, Trung Quốc cho Việt Nam vay dài hạn 300 triệu nhân dân tệ và viện trợ 100 triệu nhân dân tệ.
Tháng 5 năm 1975, miền Nam Việt Nam được giải phóng, Trung Quốc giảm dần viện trợ cho Việt Nam. Tuy nhiên việc xây dựng nhà máy sửa chữa, nhà máy sản xuất hạng nhẹ và hạng nặng... vẫn tiếp tục. Vào tháng 9, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ******** Việt Nam Lê Duẩn thăm Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định cho Việt Nam vay không tính lãi và Nghị định thư năm 1976 về việc Trung Quốc cung cấp nguyên liệu chung cho Việt Nam. Chu Ân Lai nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam: Để hỗ trợ các bạn, chúng tôi đã không ngần ngại thực hiện sự hy sinh to lớn nhất của quốc gia. Trong số các khoản viện trợ nước ngoài của Trung Quốc, khoản viện trợ cho Việt Nam có thời gian dài nhất và số lượng lớn nhất.
Tính từ 1950 đến năm 1978, tổng toàn bộ viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam có thể trang bị cho 2 triệu quân nhân, với nhiều vật chất khác nhau, trị giá hơn 20 tỷ tệ (đồng tiền cũ, quy đổi theo giá vàng sang đồng tiền hiện tại ~ 5000 tỷ tệ). Bao gồm vũ khí, đạn dược và quân nhu, 11,17 triệu bộ quân phục... Hoàn thành 450 dự án xây dựng nhà máy công nghiệp, bệnh viện và viện nghiên cứu... Tổng cộng 34,6 tỷ mét vải bông, 35.000 phương tiện, hơn 600 tàu, hơn 5 triệu tấn ngũ cốc, hơn 2 triệu tấn xăng dầu, hơn 3.000 km đường ống dẫn dầu và 635 triệu usd tiền mặt... Những hỗ trợ này không có ràng buộc nào kèm theo, phần lớn đều là miễn phí và chỉ một tỷ lệ nhỏ là các khoản cho vay nhưng không tính lãi suất...
Chưa kể Trung Quốc là con đường độc đạo trung chuyển viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa khác (chủ yếu là Liên Xô) chuyển qua đường sắt Trung Quốc lên tới 5.750 toa xe trên 179 đoàn tàu, tổng trọng lượng 630.000 tấn hàng viện trợ.
* số liệu Trung Quốc viện trợ công khai, được tổng hợp bởi NesEase và Sohu...
Mày hỏi Ạ.I đéo đúng nên nó lấy số liệu kiểu rất thiên vị theo ý kiến của mày. Khi TQ và LX thập niên 60s công khai chia rẽ thì ngoài con đường TQ thì LX cũng đã viện trợ bằng đường biển rồi chứ ko phải chỉ có con đường TQ không trước năm 55. Còn số lượng vũ khí bộ binh TQ viện trợ cho VN ngang với LX mày có đặt câu hỏi súng AK-47 của VN là ai sản xuất và cấp không thế và làm gì TQ thời đó cung cấp được súng AK-47 trừ khi LX chuyển giao dây chuyền sản xuất cho họ.Còn đây là tài liệu Việt Nam
Cùng với sự ủng hộ về chính trị, kinh tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc là một trong hai nước tích cực viện trợ cho Việt Nam vũ khí, kỹ thuật, phương tiện chiến tranh, quân trang, quân dụng. Trong tổng số viện trợ quốc tế cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, ước tính khoảng 2.362.682 tấn, trị giá khoảng 7 tỷ rúp thì phần lớn là từ Trung Quốc và Liên Xô, riêng viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng 50% tổng số nói trên.
Trong tất cả các nước viện trợ cho Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc là nước duy nhất viện trợ cho nước ta trực tiếp bằng ngoại tệ, từ năm 1964 đến 1975 là 626.042,653,52 USD/ tổng số 678.701.874,36 USD viện trợ của Chính phủ, nhân dân và các tổ chức quốc tế cho Việt Nam.
Tau vs mày đang nói chống mỹNếu quy 1 rub ra 1 usd theo quy chuẩn Liên Xô thì nó còn ít hơn nhiều so với vnch nhé
Còn thắc mắc gì nửa không?
Thằng Liên Xô nó cắt viện trợ rất nhiều giai đoạn quyết định nhé
1954 liên quan gì đến chống mỹ?
Viện trợ sau hiệp định Paris 1973Trên thực tế, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam giảm mạnh, từ 248 triệu rúp (1973) xuống còn 98 triệu rúp (1974) và 76 triệu rúp (1975).
Liên Xô chuyển giao hay không là việc của nó và Trung QuốcMày hỏi Ạ.I đéo đúng nên nó lấy số liệu kiểu rất thiên vị theo ý kiến của mày. Khi TQ và LX thập niên 60s công khai chia rẽ thì ngoài con đường TQ thì LX cũng đã viện trợ bằng đường biển rồi chứ ko phải chỉ có con đường TQ không trước năm 55. Còn số lượng vũ khí bộ binh TQ viện trợ cho VN ngang với LX mày có đặt câu hỏi súng AK-47 của VN là ai sản xuất và cấp không thế và làm gì TQ thời đó cung cấp được súng AK-47 trừ khi LX chuyển giao dây chuyền sản xuất cho họ.
Mày tính cầm súng là đi giải phóng đc quân đội vnch hả thằng nguLiên Xô chuyển giao hay không là việc của nó và Trung Quốc
Trong khi Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 2 triệu khẩu súng bộ binh gấp 3 lần Liên Xô
Yếu tố quyết định cho cuộc chiến này
Thêm đạn và quân nhu quân trang hậu cần lương thực
nó là thằng có trí tuệ.
nó rất nổi tiếng ở mấy diễn đàn, đi đâu nhắc tên là người ta đều biết, nhờ nó mà nhiều người cũng khôn lên.
nó lại rất lành tính, có vẻ là người điềm đạm, ai chửi nó nhiều nó cũng chửi lại nhưng nhẹ hơn chứ không thấy nó leo thang ai bao giờ. Chứng nó tinh thần nó cũng mạnh mẽ, bản lĩnh.
thằng này có học hỏi và chịu khó tìm tòi, viết văn cũng tốt, nếu chịu khó trau dồi mà viết chuyện dần dần là khá. Ở Hàn Quốc có thằng gì viết chuyện hoạt hình trên web, có thằng thấy hay, dựa theo truyện mà vẽ manga, manga thành anime rồi cả 2 đều thành triệu phú tiền đô, mỗi năm thu vài triệu tiền bản quyền (Solo leveling)
thằng này tao chỉ khó chịu nó mấy lần bới móc tiền nhân rồi nói xấu họ, toàn anh hùng ta ngưỡng mộ như cụ Trãi, cụ Tuấn.
nhưng cũng phải công nhận nó khai dân trí cho nhiều nghìn người chứ không phải ít. Cũng giỏi đấy!
Không có bằng chứng Liên Xô muốn bắc Việt Nam thống nhất vì họ đã cắt phần lớn viện trợ cho bắc Việt Nam sau 1973Mày tính cầm súng là đi giải phóng đc quân đội vnch hả thằng ngu
Nếu so vũ khí viện trợ của Liên Xô với vũ khí viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam, thì bức tranh khá rõ:
Trung Quốc mạnh về số lượng và vũ khí bộ binh
Trung Quốc viện trợ rất nhiều:
Type 56 (AK Trung Quốc)
SKS
Súng máy hạng nhẹ, hạng nặng
Đạn dược
Pháo phòng không 12,7 mm, 14,5 mm, 37 mm
Pháo dã chiến
Xe tải vận tải
Trang bị công binh
Ưu điểm:
Rẻ, đơn giản, dễ sử dụng.
Phù hợp chiến tranh du kích.
Số lượng cực lớn.
Liên Xô mạnh về công nghệ quân sự hiện đại
Liên Xô viện trợ:
MiG-17
MiG-21
T-54
PT-76
Tên lửa phòng không SA-2
Tên lửa vác vai SA-7
Radar cảnh giới
Pháo phản lực BM-21 Grad
Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại
Đây là những vũ khí mà Trung Quốc lúc đó chưa sản xuất được hoặc chất lượng còn kém hơn.
Phòng không
Đây là lĩnh vực quyết định.
Liên Xô cung cấp:
SA-2
Radar điều khiển hỏa lực
Chuyên gia huấn luyện
Mạng lưới tên lửa này đã buộc không quân Mỹ phải thay đổi chiến thuật và chịu tổn thất đáng kể.
Nhiều nhà sử học quân sự coi hệ thống phòng không Liên Xô là một trong những yếu tố quân sự quan trọng nhất giúp miền Bắc chống lại chiến dịch ném bom của Mỹ.
Không quân
Máy bay chiến đấu chủ lực của Không quân Nhân dân Việt Nam như MiG-17 và MiG-21 đều là thiết kế Liên Xô.
Trong lĩnh vực này, Liên Xô gần như đóng vai trò quyết định.
Xe tăng và chiến tranh quy ước
Các chiến dịch lớn cuối chiến tranh như:
Chiến dịch Xuân Hè 1972
Chiến dịch Hồ Chí Minh
đều dựa nhiều vào xe tăng T-54, PT-76, pháo phản lực và pháo hạng nặng do Liên Xô cung cấp.
Đánh giá tổng thể
Nếu xếp theo trình độ công nghệ quân sự:
1. Liên Xô
2. Mỹ
3. Trung Quốc
(nhiều loại vũ khí Trung Quốc thời đó thực chất là sản xuất theo mẫu Liên Xô đời cũ).
Nếu xếp theo khối lượng viện trợ vật chất phổ thông:
1. Trung Quốc
2. Liên Xô
Nếu xếp theo tác động chiến lược đến kết quả chiến tranh:
1. Liên Xô
2. Trung Quốc
Một cách ngắn gọn:
Trung Quốc cung cấp "xương sống hậu cần và bộ binh".
Liên Xô cung cấp "công nghệ quân sự hiện đại" như tên lửa, radar, máy bay và xe tăng.
Không có viện trợ Trung Quốc, Bắc Việt sẽ khó duy trì chiến tranh lâu dài vì thiếu trang bị và hậu cần. Không có viện trợ Liên Xô, Bắc Việt sẽ rất khó đối phó với ưu thế không quân của Mỹ và tiến hành các chiến dịch quy mô lớn cuối chiến tranh.
nếu trung quốc ko cung cấp súng thì liên xô vẫn cung cấp ak47 đc
Có bằng chứng nhéKhông có bằng chứng Liên Xô muốn bắc Việt Nam thống nhất vì họ đã cắt phần lớn viện trợ cho bắc Việt Nam sau 1973
Một điều @NoWorries073 rất ngại nói ra trong lòngĐịt chưa?
Thái Dương tại tỵ tuy sáng nhưng lại chả có cách cục jMệnh Thái Dương tại Tỵ thì đương nhiên nhân cách, phẩm giá đáng để nhiều xamer ghen tỵ, cũng nhiều xamer muốn buscu rồi.Biết Độ Mixi ko? Cũng có chút tương tự đấy

Mày đọc hiểu không thế TQ gom cả viện trợ kinh tế+ quân sự trong khi ở đây đang bàn viện trợ quân sự thôi nhé con bòViện trợ sau hiệp định Paris 1973
Năm 1974, viện trợ Trung Quốc cho Hà Nội ở khoảng 2,5 tỉ nhân dân tệ, ngoài ra là 2 tỉ tệ cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Lúc này, Trung Quốc cho rằng Hà Nội “cần nghỉ ngơi”, trong lúc Nam Việt Nam, Lào và Campuchia “dựng xây hòa bình, trung lập” trong 5 tới 10 năm nữa.
Bắc Kinh lúc này xem Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một thực thể riêng.
Trước 1973, viện trợ của Bắc Kinh cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn do Hà Nội xử lý. Nhưng từ 1973, Bắc Kinh xem viện trợ này là riêng biệt, không để Hà Nội kiểm soát.
Nhưng Hà Nội phản đối điều này, buộc Bắc Kinh sau đó phải thay đổi trở lại, để Hà Nội kiểm soát.
Sau khi có hiệp định Paris 1973, Trung Quốc xem chiến tranh Việt Nam thế là hết, và vì vậy cần giảm viện trợ vũ khí cho Hà Nội.
Ngày 26/10/1974, Trung Quốc và Việt Nam ký thỏa thuận lần chót, cung cấp cho Hà Nội 850 triệu tệ cho kinh tế và vũ khí, cùng 50 triệu đôla tiền mặt cho năm 1975.
Sau khi Sài Gòn sụp đổ, vào ngày 31/5/1975, Bắc Kinh lại đồng ý gửi cho Hà Nội 21 triệu tệ.
Nhưng tháng Tám 1975, Bắc Kinh bác yêu cầu xin thêm của Hà Nội.
Ngày 25/9/1975, Bắc Kinh hứa gửi 100 triệu tệ trong năm 1976, nhưng lần này là cho vay, yêu cầu Việt Nam trả lại sau 10 năm.
Theo hai tác giả, không thấy có bằng chứng nào trong hồ sơ Trung Quốc rằng kể từ đó, có thêm thỏa thuận viện trợ nào giữa hai nước.
Tác giả Shao Xiao công tác ở khoa lịch sử, Đại học Tế Nam, Quảng Châu, còn ông Xiaoming Zhang làm việc ở Air War College, Alabama, Hoa Kỳ.

Cách của tao là âm dương lương nhéThái Dương tại tỵ tuy sáng nhưng lại chả có cách cục j![]()