Giờ tao mới biết Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam...trước kia là của Nam Hạ tức Việt Nam

Nếu mày không thể cung cấp bằng chứng đầy đủ rõ ràng về việc bách Việt có thể tính lịch pháp thiên văn trước văn minh bắc Trung Quốc thì tốt nhất đừng quote bài tao nửa.

Trung Quốc phát hiện đài thiên văn cổ nhất thế giới​

Thứ năm, 03/11/2005 - 08:30

(Dân trí) - Ngày 1/11 vừa qua, các nhà khảo cổ Trung Quốc thông báo đã tìm thấy đài thiên văn cổ nhất thế giới, có niên đại cách đây gần 4.100 năm.​

Đài thiên văn cổ này nằm trong khu di tích Taosi thuộc tỉnh Sơn Tây. Những dấu vết còn lại bao gồm một vòng hình bán nguyệt có đường kính 40 m trong khuôn viên chính và 60 m ở vòng ngoài. Điều này cho thấy đài đã từng có 3 vòng tròn và được đắp bằng đất.
Cái này của mày gọi là "lấy qui mô công trình để áp đặt tri thức" nè. Ngày xưa tao chân ướt chân ráo là rơi vào bẫy của mày liền. Nhưng mà giờ khác rồi.
Thứ nhất là cái danh tháp thiên văn cổ nhất TG nó chỉ dùng để so sánh giữa các tháp thiên văn với nhau thôi chứ chẳng hề chứng minh là dân Hoa Hạ biết xem lịch trước dân Bách Việt. Thêm nữa là Đào Tự sau Hà Mẫu Độ tới 3 ngàn năm lận nên việc Hoa Hạ có thể xây dựng được công trình đồ sộ không có gì lạ hết.
Thứ nhì là mục đích xem lịch của 2 dân tộc khác nhau. Hoa Hạ phải xây đài cao nhằm tính đúng ngày lập mùa nhằm tránh sương giá hủy hoại mùa màng khô. Còn dân Bách Việt trồng lúa nước thì chủ yếu nắm chu kỳ mưa, chim di cư với thủy triều lên xuống nên đâu có nhu cầu phải lập đài thiên văn.
 
Cái này của mày gọi là "lấy qui mô công trình để áp đặt tri thức" nè. Ngày xưa tao chân ướt chân ráo là rơi vào bẫy của mày liền. Nhưng mà giờ khác rồi.
Thứ nhất là cái danh tháp thiên văn cổ nhất TG nó chỉ dùng để so sánh giữa các tháp thiên văn với nhau thôi chứ chẳng hề chứng minh là dân Hoa Hạ biết xem lịch trước dân Bách Việt. Thêm nữa là Đào Tự sau Hà Mẫu Độ tới 3 ngàn năm lận nên việc Hoa Hạ có thể xây dựng được công trình đồ sộ không có gì lạ hết.
Thứ nhì là mục đích xem lịch của 2 dân tộc khác nhau. Hoa Hạ phải xây đài cao nhằm tính đúng ngày lập mùa nhằm tránh sương giá hủy hoại mùa màng khô. Còn dân Bách Việt trồng lúa nước thì chủ yếu nắm chu kỳ mưa, chim di cư với thủy triều lên xuống nên đâu có nhu cầu phải lập đài thiên văn.
Mày có bằng chứng gì không?
 
Mày có bằng chứng gì không?
Có chứ. Tao đã tra AI và check lại bản tiếng Anh của sách Hoài Nam Tử miêu tả về Bách Việt rồi.

Đầu tiên là nói người Bách Việt có lối sống, phong tục khác biệt so với các tộc khác.
Trong chương Tề tục huấn (齐俗训 - Bàn về phong tục các miền), sách Hoài Nam Tử ghi nhận một thực tế mang tính bản sắc tộc người:
Nguyên văn Hán tự: "胡人便于马, 越人便于舟. 异形殊俗, 极其所长... 百川异源而皆归于海, 百家异业而皆就于治."
Dịch nghĩa: "Người Hồ (phương Bắc) thạo cưỡi ngựa, người Việt (phương Nam) thạo đi thuyền. Thể chất khác nhau, phong tục khác nhau, đều phát huy sở trường của mình... Trăm sông tuy khác nguồn nhưng đều đổ về biển, bách gia ngành nghề khác nhau nhưng đều hướng đến việc trị lý."
Tiếp theo là miêu tả người Bách Việt dùng Lịch Sinh Học (Lịch vật hậu): Đo thời gian bằng tiếng sấm, gió mùa, và tập tính của chim, côn trùng để xuống giống lúa nước.
Trong chương Thiên văn huấn (天文训), Hoài Nam Tử là cuốn sách đầu tiên hệ thống hóa 24 tiết khí và ghi chép rất rõ cách con người (đặc biệt là cư dân lúa nước miền Nam) nhận biết thời gian dựa vào thiên nhiên:
Nguyên văn mô tả các mốc thời gian:
"凉风至... 雷始收声, 蛰虫培户." (Gió mát đến... sấm bắt đầu tắt, côn trùng rúc vào tổ đắp cửa hầm).
"东风解冻, 蛰虫始振, 鱼上冰, 獭祭鱼." (Gió đông làm tan băng, côn trùng trong đất tỉnh giấc, cá bơi lên mặt nước, con rái cá bắt cá tế trời)
Lịch thủy triều (Âm lịch sơ khai): Đo tuần trăng bằng độ đầy vơi của thịt ốc nghêu.
Cư dân lúa nước Bách Việt ở vùng cửa sông, đầm lầy (như Hà Mậu Độ) phải đối mặt với bài toán thủy triều. Trong chương Thiên văn huấn, sách viết:
Nguyên văn: "月者, 阴之宗也... 故月晦而蛤蚌消, 月望而螺蠃实."
Dịch nghĩa: "Mặt Trăng là gốc của phần Âm... Thế nên khi trăng mờ (cuối tháng) thì thịt ngao sò tiêu giảm, khi trăng tròn (giữa tháng) thì ruột ốc nghêu đầy đặn."
 
Có chứ. Tao đã tra AI và check lại bản tiếng Anh của sách Hoài Nam Tử miêu tả về Bách Việt rồi.

Đầu tiên là nói người Bách Việt có lối sống, phong tục khác biệt so với các tộc khác.

Tiếp theo là miêu tả người Bách Việt dùng Lịch Sinh Học (Lịch vật hậu): Đo thời gian bằng tiếng sấm, gió mùa, và tập tính của chim, côn trùng để xuống giống lúa nước.

Lịch thủy triều (Âm lịch sơ khai): Đo tuần trăng bằng độ đầy vơi của thịt ốc nghêu.
AI cái mả bố nhà mày
 
Tiên sinh nói như thế là sai, vì căn cứ theo lịch sử thì người dân phía Nam sông Trường Giang văn minh hơn người dân phía Bắc sông Trường Giang. Bởi vì kết cấu của xã hội trồng trọt bao giờ cũng đi trước kết cấu của xã hội săn bắn. Người bắt vịt tới đó có 1 nền nông nghiệp đỉnh cao của nhân loại lúc bấy giờ, kết quả khảo cổ cho thấy nông nghiệp phát triển ở phía Nam sông Trường Giang từ 7 đến 10.000 năm trước.

Căn cứ theo thư từ giữa Triệu đà và Tần Thủy hoàng thì các nước 100 Việt cũng xưng vương các thứ chứ không phải là bộ lạc.
Người Hán ko phải người du mục hay trăn thả mà họ làm cả nuôi lẫn trồng.
 
Tao thấy mấy nhiều thằng mặt lol không hiểu từ Bách Việt nghĩa là gì nên nhận vơ là tổ tiên của Kinh tộc. Chữ Bách bọn Hán dùng chỉ số nhiều. Như Bách Tính, Bách Gia... Còn chữ Vạn để chỉ rất nhiều. Bách Việt không phải tên một dân tộc mà chỉ nhiều bộ tộc sống bán hoang dã phía Nam sông Trường Giang, chả có văn hoá hay nhà nước chung gì hết. Tao kinh tởm
bọn Kinh Tộc cứ hay nhận vơ Bách Việt là của mình
 
Tao thấy mấy nhiều thằng mặt lol không hiểu từ Bách Việt nghĩa là gì nên nhận vơ là tổ tiên của Kinh tộc. Chữ Bách bọn Hán dùng chỉ số nhiều. Như Bách Tính, Bách Gia... Còn chữ Vạn để chỉ rất nhiều. Bách Việt không phải tên một dân tộc mà chỉ nhiều bộ tộc sống bán hoang dã phía Nam sông Trường Giang, chả có văn hoá hay nhà nước chung gì hết. Tao kinh tởm
bọn Kinh Tộc cứ hay nhận vơ Bách Việt là của mình
Lưỡng Quảng là thuộc Bách Việt ngày xưa (có 5 bộ tộc nhỏ trong đó có miền Bắc Việt Nam bây giờ). Bọn ngu cứ tưởng Bách Việt là Việt Nam
 
Có chứ. Tao đã tra AI và check lại bản tiếng Anh của sách Hoài Nam Tử miêu tả về Bách Việt rồi.

Đầu tiên là nói người Bách Việt có lối sống, phong tục khác biệt so với các tộc khác.

Tiếp theo là miêu tả người Bách Việt dùng Lịch Sinh Học (Lịch vật hậu): Đo thời gian bằng tiếng sấm, gió mùa, và tập tính của chim, côn trùng để xuống giống lúa nước.

Lịch thủy triều (Âm lịch sơ khai): Đo tuần trăng bằng độ đầy vơi của thịt ốc nghêu.
Tao không thấy đoạn nào mô tả bách Việt có lịch pháp thiên văn trước người bắc Trung Quốc khu vực sông hoàng hà cả.
Vãi lol đo tuần trăng bằng độ dày thịt ốc
Bằng tiếng sấm gió mùa tập tính chim côn trùng là có lịch pháp thiên văn tính được vạn năm.
Mày có bị khùng không?
 
Tao không thấy đoạn nào mô tả bách Việt có lịch pháp thiên văn trước người bắc Trung Quốc khu vực sông hoàng hà cả.
Vãi lol đo tuần trăng bằng độ dày thịt ốc
Lại quay trở lại cái trò gài chữ nữa à? Còn trò gì mới hơn không? Xem thịt nghêu ốc là lời trong sách Hoài Nam Tử biên soạn từ thời Tây Hán ra và nó là bản lề cho toàn bộ hệ thống lịch Âm sau này. Nếu mày không tin vào nó thì có nghĩa là bản chất mày đéo tin vào toàn bộ Âm Lịch luôn.
 
Lưỡng Quảng là thuộc Bách Việt ngày xưa (có 5 bộ tộc nhỏ trong đó có miền Bắc Việt Nam bây giờ). Bọn ngu cứ tưởng Bách Việt là Việt Nam
mày nói tao mới biết mày mù chữ, chứ ở đây đ có ai k biết chữ Bách là 100 và Bách Việt là để chỉ chung các nhóm dân tộc phương Nam chứ k chỉ các tộc có chữ Việt.

Trong ghi chép của Trang tử có ghi chép phong tục tập quán, trong An Nam Chí Lược cũng có chép tương đối. Đây là 1 đoạn:

"
Nước An-nam xưa là đất Giao-Chỉ. Đời nhà Đường, nhà Ngu và đời Tam-Đại, sự giáo-hoá của Trung-Quốc đã nhuần-thấm đến. Đến hai đời nhà Hán đặt làm quận huyện. Đàn ông lo làm ruộng, đi buôn, đàn bà lo nuôi tằm, dệt vải, cách nói phô hiền hoà, ít lòng ham muốn. Người ở xứ xa trôi nổi tới nước họ, họ hay hỏi thăm, ấy là tình thường của họ. Người sinh ra ở Giao-Châu và Ái-Châu thì rộng-rãi, có mưu-trí; người ở Châu-Hoan, Châu-Diễn thì thuần tú, ham học. Dư nữa, thì khờ dại thiệt thà. Dân hay
vẽ mình, bắt chước tục lệ của 2 nước Ngô, Việt. Vì thế, Liễu-Tư-Hậu có câu thơ rằng: "Cộng lai Bách-Việt văn-thân địa", nghĩa là cùng đi tới đất Bách-Việt là xứ người vẽ mình. Vì trời nóng sốt, dân ưa tắm ở sông, nên họ chèo đò và lội nước rất giỏi; ngày thường không đội mũ, đứng thì vòng hai tay, ngồi thì xếp bằng hai chân."

Còn xét nghiệm lập bản đồ Gene thì nó cho thấy con đường di chuyển của các tộc người. Các thuyết phổ biến hiện nay cho rằng cư dân Nam Đảo là di cư theo tuyến Đài Loan đi xuống, theo các đợt khác nhau, rồi sau đó di chuyển ngược lên bán đảo Đông Dương. Còn làn sóng từ Ấn Độ đi sang thì thể hiện rõ ở người Mã, ng Thái bản địa với da sẫm, môi dày, v.v.
 
mày nói tao mới biết mày mù chữ, chứ ở đây đ có ai k biết chữ Bách là 100 và Bách Việt là để chỉ chung các nhóm dân tộc phương Nam chứ k chỉ các tộc có chữ Việt.

Trong ghi chép của Trang tử có ghi chép phong tục tập quán, trong An Nam Chí Lược cũng có chép tương đối. Đây là 1 đoạn:

"
Nước An-nam xưa là đất Giao-Chỉ. Đời nhà Đường, nhà Ngu và đời Tam-Đại, sự giáo-hoá của Trung-Quốc đã nhuần-thấm đến. Đến hai đời nhà Hán đặt làm quận huyện. Đàn ông lo làm ruộng, đi buôn, đàn bà lo nuôi tằm, dệt vải, cách nói phô hiền hoà, ít lòng ham muốn. Người ở xứ xa trôi nổi tới nước họ, họ hay hỏi thăm, ấy là tình thường của họ. Người sinh ra ở Giao-Châu và Ái-Châu thì rộng-rãi, có mưu-trí; người ở Châu-Hoan, Châu-Diễn thì thuần tú, ham học. Dư nữa, thì khờ dại thiệt thà. Dân hay
vẽ mình, bắt chước tục lệ của 2 nước Ngô, Việt. Vì thế, Liễu-Tư-Hậu có câu thơ rằng: "Cộng lai Bách-Việt văn-thân địa", nghĩa là cùng đi tới đất Bách-Việt là xứ người vẽ mình. Vì trời nóng sốt, dân ưa tắm ở sông, nên họ chèo đò và lội nước rất giỏi; ngày thường không đội mũ, đứng thì vòng hai tay, ngồi thì xếp bằng hai chân."

Còn xét nghiệm lập bản đồ Gene thì nó cho thấy con đường di chuyển của các tộc người. Các thuyết phổ biến hiện nay cho rằng cư dân Nam Đảo là di cư theo tuyến Đài Loan đi xuống, theo các đợt khác nhau, rồi sau đó di chuyển ngược lên bán đảo Đông Dương. Còn làn sóng từ Ấn Độ đi sang thì thể hiện rõ ở người Mã, ng Thái bản địa với da sẫm, môi dày, v.v.
Đường nào trước Hán vậy
 

Có thể bạn quan tâm

Top