Nguyễn Bá Trác, sinh năm một ngàn tám trăm tám mươi mốt, từng là quan dưới thời nhà Nguyễn, từng theo đuổi phong trào Đông Du, từng phụ trách Bộ Học rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định dưới thời thuộc Pháp.
Tháng tám năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị xử bắn tại Quy Nhơn.
Ông giỏi Hán văn. Trong sự nghiệp văn chương của mình, đã xuất bản hơn mười đầu sách thuộc thể biên khảo, sử và ký.
Trong hơn mười đầu sách ấy, đặc biệt hơn cả là quyển Hạn Mạn Du Ký, dịch nghĩa là, phiếm về chuyện đi đây đi đó được viết bằng chữ Hán.
Sau đó, ông dịch qua Việt văn rồi đăng trên Nam Phong tạp chí (do Phạm Quỳnh sáng lập)
Khúc Ca Phương Nam nằm trong tập sách này. Và kể từ khi nó ra đời đến nay, một trăm năm có lẻ
******
Thiên ký sự Hạn Mạn Du Ký có mười bốn chương cả thảy, và bài Khúc Ca Phương Nam này nằm ở chương mười.
Nguyễn Bá Trác cho biết thêm: khi phong trào Đông du thất bại,vào năm một ngàn chín trăm mười hai, lưu lạc đến Thượng Hải, gặp một người đồng hương. Người này có giọng hát rất hay. Một đêm nọ, hai người đi uống rượu. Khi đã ngà ngà say, Nguyên Quân đứng dậy hát. Bàn bên cạnh, có một vị quan họ Lưu sang hỏi bạn ông Trác, chớ bài hát, hát theo điệu gì mà hay quá vậy?
Bạn ông Trác bèn trả lời, điệu này là một bài rất đặc biệt ở phương Nam. Vị quan bèn lấy giấy bút ra, xin ghi lại lời.
******
"Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường
hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha phương?
trời Nam nghìn dặm thẳm
non nước một màu sương
chí chưa thành
danh chưa đạt
trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi:
trời đất mang mang
ai người tri kỷ ?
lại đây cùng ta cạn một hồ trường
hồ trường!
hồ trường!
ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể đông chảy xiết sinh cuồng loạn
rót về Tây phương, mưa phương tây từng trận chứa chan
rót về Bắc phương, ngọn bắc phong vi vút, cát chạy đá giương
rót về Nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say?
chí ta ta biết, lòng ta ta hay
nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
hà tất cùng sầu đối cỏ cây."
(Bản dịch này do bà Tôn Nữ Lệ Ba, con gái của danh sĩ Nguyễn Bá Trác, cung cấp.)
******
Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, “hồ trường”, là từ được Nguyễn Bá Trác dùng thay cho từ “thương”. “Thương” ở đây có 3 nghĩa:
Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng. “Thương” là chén đã rót đầy rượu. Khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”.
Mời rượu người khác một cách kính trọng, người ta cũng dùng từ “thương”.
Tự uống rượu một mình, cũng là “thương”.
Theo ông Vương Trùng Dương, thì “hồ trường” là nậm rượu, bầu rượu, hình dáng như trái bầu.
Chỉ ai từng sinh ra trong thời loạn, thì mới hiểu được phần nào, phận người ta, khi ấy. Không bỏ xác, không phơi thây, thì cũng lưu vong, biệt xứ. Quê hương còn đó nhưng khó thể về thăm. Nỗi cô đơn, nỗi hiu quạnh, biết tìm đâu, người thấu.
Thành thử, mới: ”hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?”
Tháng tám năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị xử bắn tại Quy Nhơn.
Ông giỏi Hán văn. Trong sự nghiệp văn chương của mình, đã xuất bản hơn mười đầu sách thuộc thể biên khảo, sử và ký.
Trong hơn mười đầu sách ấy, đặc biệt hơn cả là quyển Hạn Mạn Du Ký, dịch nghĩa là, phiếm về chuyện đi đây đi đó được viết bằng chữ Hán.
Sau đó, ông dịch qua Việt văn rồi đăng trên Nam Phong tạp chí (do Phạm Quỳnh sáng lập)
Khúc Ca Phương Nam nằm trong tập sách này. Và kể từ khi nó ra đời đến nay, một trăm năm có lẻ
******
Thiên ký sự Hạn Mạn Du Ký có mười bốn chương cả thảy, và bài Khúc Ca Phương Nam này nằm ở chương mười.
Nguyễn Bá Trác cho biết thêm: khi phong trào Đông du thất bại,vào năm một ngàn chín trăm mười hai, lưu lạc đến Thượng Hải, gặp một người đồng hương. Người này có giọng hát rất hay. Một đêm nọ, hai người đi uống rượu. Khi đã ngà ngà say, Nguyên Quân đứng dậy hát. Bàn bên cạnh, có một vị quan họ Lưu sang hỏi bạn ông Trác, chớ bài hát, hát theo điệu gì mà hay quá vậy?
Bạn ông Trác bèn trả lời, điệu này là một bài rất đặc biệt ở phương Nam. Vị quan bèn lấy giấy bút ra, xin ghi lại lời.
******
"Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường
hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha phương?
trời Nam nghìn dặm thẳm
non nước một màu sương
chí chưa thành
danh chưa đạt
trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi:
trời đất mang mang
ai người tri kỷ ?
lại đây cùng ta cạn một hồ trường
hồ trường!
hồ trường!
ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể đông chảy xiết sinh cuồng loạn
rót về Tây phương, mưa phương tây từng trận chứa chan
rót về Bắc phương, ngọn bắc phong vi vút, cát chạy đá giương
rót về Nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say?
chí ta ta biết, lòng ta ta hay
nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
hà tất cùng sầu đối cỏ cây."
(Bản dịch này do bà Tôn Nữ Lệ Ba, con gái của danh sĩ Nguyễn Bá Trác, cung cấp.)
******
Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, “hồ trường”, là từ được Nguyễn Bá Trác dùng thay cho từ “thương”. “Thương” ở đây có 3 nghĩa:
Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng. “Thương” là chén đã rót đầy rượu. Khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”.
Mời rượu người khác một cách kính trọng, người ta cũng dùng từ “thương”.
Tự uống rượu một mình, cũng là “thương”.
Theo ông Vương Trùng Dương, thì “hồ trường” là nậm rượu, bầu rượu, hình dáng như trái bầu.
Chỉ ai từng sinh ra trong thời loạn, thì mới hiểu được phần nào, phận người ta, khi ấy. Không bỏ xác, không phơi thây, thì cũng lưu vong, biệt xứ. Quê hương còn đó nhưng khó thể về thăm. Nỗi cô đơn, nỗi hiu quạnh, biết tìm đâu, người thấu.
Thành thử, mới: ”hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?”
Sửa lần cuối:
thôi ớn quá bớt bớt đi thằng ngu