Năm 1948 ở Huế có một nhóm anh em tổ chức cầu cơ. Đêm 8 tháng 5, Hàn Mặc Tử nhập cơ và tặng cho anh em bài "Tiêu sầu".
Đến đêm 16 Phi Yến lại ứng vào cơ và cải chính dùm cho Hàn Mặc Tử mấy chữ sai:
- Trong câu 19, sửa chữ BƯỚC thay chữ ĐI (nhịp nhàng nường bước theo nhịp đàn).
- Trong câu 25 và 27, sửa chữ CHOÀNG thay vào chữ CHẦM (Hoảng hốt tôi ôm choàng lấy nường. Tôi ôm choàng phải..)
- Trong câu 26, sửa chữ TRỜI ƠI thay vào chữ Than ôi (Trời ơi! Nường đã biến ra sương).
Phi Yến còn nói thêm rằng đó là "Khối tình mang xuống thuyền dài chưa tan" của Hàn Mặc Tử.
Nhiều người tin sự linh ứng của việc cầu cơ. Nhưng cũng lắm người không tin.
Lúc các bạn cầu cơ đó thì lão tản cư ở Liên Khu V. Năm 1955, nghe tin lão hồi cư về Nha Trang, một bạn thanh niên viết thư kể cho lão nghe sự việc, chép cho lão xem bài thơ, và hỏi lão đã từng nghe hoặc thấy bài Tiêu Sầu chưa.
Nhưng di cảo của Hàn Mặc Tử đã bị thất lạc lúc lão tản cư. Tất cả thơ Tử lão đã đọc trên một lần. Cho nên mặc dầu không có thi tập ở trước mắt, những bài nào đưa đến lão cũng có thể " nhận diện" được ngay. Đọc bài TIÊU SẦU, lão nghĩ mãi.. nghĩ mãi... Khẩu khí thì là khẩu khí Hàn Mặc Tử còn cách điệu lại là cách điệu Bích Khê nhưng văn chương không sánh kịp những bài bình thanh trong Tinh Huyết. Lão không nhớ 1 bài bình thanh nào của Tử! Lão cũng không tin rằng Tử hiện về làm thơ để gởi gấm tâm sự. Nhưng ai dư công đi làm việc giả mạo vô ích.. Cho nên lão không dám quả quyết rằng là thơ Tử hay không phải thơ Tử.
Năm 1960, hưởng ứng lời kêu gọi của lão, nhiều bạn gởi đến giúp lão những thơ của Tử mà quí bạn sưu tầm được. Trong số này có bài TIÊU SẦU do ông bạn Yên Giang ở Phan Rang gởi tặng. Bài này giống y bài thượng dẫn. Ông bạn cho biết rằng đã trích trong một tập thi tuyển chép tay của 1 người quen. Gần đây nhà thơ Vũ Phan Long ở Qui Nhơn bảo rằng đã thấy bài này rồi song không nhớ là thấy trong sách hay trên báo nào, vì đọc đã lâu.
Như vậy thì bài TIÊU SẦU đã được nhiều người biết, chớ không phải chỉ phổ biến trong nhóm anh em cầu cơ ở cựu Thần Kinh.
Có người ngờ rằng:
- Bài TIÊU SẦU đã được sáng tác lúc Tử còn tại thế. Một trong những người cầu cơ thuộc được, bèn giả bộ hồn Tử nhập cơ, để mua vui.
- Nếu lời ức đoán kia đúng thì bài đó phải có trong tập Cẩm Châu Duyên mà nguồn cảm hứng là Thương Thương, bỡi trong bài có tên của Nguồn Cảm Hứng.
Tôi lại gần bên, ồ! lạ thường!
Nường Trăng, ồ! Chính là Thương Thương!
Khi nào tìm lại được tập Cẩm Châu Duyên mới dám quả quyết bài TIÊU SẦU là của Hàn Mặc Tử hay không phải của Tử. Bây giờ tạm gởi vào chỗ tồn nghi. Nói vậy chắc có người mắng:
- Của mình bị thất lạc, người ta lượm được đem đến cho lại, lại ấm ớ rằng không biết có phải của mình hay không! Thật là phường ngớ ngẩn!
Kể cũng ngớ ngẩn thật. Song đâu phải một trường hợp duy nhất. Bài thơ CON MUỖI tương truyền là của Chí Sỹ Phan Tây Hồ, song cụ Lê Ấm rể Phan Chí sỹ vẫn tuyên bố rằng không biết có phải của nhà hay không.
Cổ nhân dạy: Chưa chắc thì đừng (Dans le doute abstiens toi).
Quách Tấn
(Trích từ tập thi thoại TRONG VƯỜN HOA THƠ)
Cái tên Hàn Mặc Tử vốn không có nghĩa gì. Mới đầu khi làm thơ Đường Luật, người lấy tên Phong Trần, Lệ Thanh. Sau chuyển về Quy Hòa mới dùng bút danh Hàn Mạc Tử.
Giai thoại kể rằng: bạn bè của ông là nhóm Bàn Thành tứ hữu ngày ấy hỏi Hàn sao không lấy vầng trăng làm bút hiệu? Hàn liền thêm 1 nét ngoặc như mảnh trăng khuyết trên chữ Mạc.
Vì thế cái tên Hàn Mặc tử ra đời.
"Nhớ khi xưa ta là chim Phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất...
Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương...
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chận đường,
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ...
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ:
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hoá đài điện đã rất nên tráng lệ.
Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi.
Ta mê man như tới chốn Phượng Trì
Ở mãi đấy không về Thiên Cung nữa.
Nhưng phép lạ! có một vì tiên nữ
Hao hao như nường nguyệt cõi Đào Nguyên.
Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên
Và van lạy xin cô nường kết ngãi;
Mỉa mai thay cho Phượng hoàng si dại
Là ta đây đương ở kiếp muông chim...
Trở lại Trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.
Ta trở nên như Ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa, rất phong vận: Người Thơ...
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng,
Rồi ngây dại nhờ Thất tinh chỉ hướng,
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu trang
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết...
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi!
Ta đến nơi - Nường ấy vắng lâu rồi.
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ;
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng.
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu,
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư " !!!