ham Học Hỏi..
Gió lạnh đầu buồi

Nếu cho rằng ham muốn tình dục là nguyên nhân gây ra các vụ cưỡng hiếp, phải chăng điều đó cũng đồng nghĩa với việc nguyên nhân của “lỗi lầm” này là tại bản năng và rằng chúng ta sẽ không thể tìm được biện pháp nào để giải quyết vấn đề này? Cách nhìn nhận này càng chỉ khiến vấn đề thêm tồn tại dai dẳng. Bài viết đi ngược dòng lịch sử để tìm kiếm những nghiên cứu và nhận định khoa học về nguyên nhân của cưỡng hiếp: từ mô hình thủy lực đến cách lí giải của phân tâm học, đến những cách nhìn mới mẻ đầu tiên của những nhà nữ quyền; sau đó, bài viết tiếp tục phân tích thực trạng hiếp dâm vào thời hiện đại và lí do vì sao nó vẫn còn phổ biến.
Bấy lâu nay, người ta vẫn truyền tai nhau một niềm tin hoang đường về nguyên nhân đàn ông cưỡng bức phụ nữ. Họ nói thế này: nếu một người đàn ông trở nên quá hưng phấn, từ việc thiếu thốn tình dục hoặc từ tình dục quá độ, anh ta sẽ mất đi sự kiểm soát khi nhìn thấy một người phụ nữ không được bảo vệ. Qua những ngày đầu của khoa học tâm lý học, giả thiết cơ bản này đã vẫn được giữ nguyên. Khi Richard von Krafft-Ebing viết cuốn Psychopathia Sexualis năm 1886 (tạm dịch là Lệch lạc tình dục), ông giả thiết rằng những kẻ đi cưỡng bức chịu ảnh hưởng tồi tệ hoặc từ “chứng cương dương và các tình trạng dẫn đến chứng cuồng dâm” (1) hoặc từ “sự yếu đuối tinh thần” thôi thúc ham muốn tình dục mạnh mẽ nhằm giải thoát sự kiểm soát. Nó là vấn đề đơn giản về thủy lực học (2). Nếu áp lực quá lớn hoặc con tàu quá yếu, một tội ác kinh khủng sẽ nổ ra.
Từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, ngay cả khi tính dục (3) của con người trở thành trọng tâm của mối quan tâm khoa học sâu sắc, mô hình ngây ngô về tấn công tình dục này vẫn không bị các nhà nghiên cứu truy vấn. Havelock Ellis tin rằng tính dục của tất cả đàn ông đều là bạo lực và bóc lột, và vì thế đương nhiên rằng hiếp dâm là cuộc thị uy thông thường của sự ham muốn giống đực. Alfred Kinsey thì lại thích lờ đi hoàn toàn vấn đề này hơn. Ông bác bỏ phần lớn những vụ hiếp dâm, cho rằng đây là những vụ kết tội sai lầm, và tỏ ý nghi ngờ liệu hiếp dâm có thực sự gây hại không. Kết quả là, mô hình thủy lực học của sự cưỡng bức vẫn tiếp tục tồn tại bền bỉ cho đến tận nửa sau thế kỷ 20, khi nó đột ngột bị phá hủy bởi sự kết hợp chí mạng của thuyết nam nữ bình quyền và nghiên cứu thực nghiệm. Những nghiên cứu này mang chúng ta gần hơn đến việc thấu hiểu vì sao đàn ông lại có hành vi hiếp dâm. Nhưng nó cũng dạy chúng ta một điều hữu ích hơn thế mà hầu như đã bị mọi người bỏ sót, đó là: Làm thế nào để ngăn chặn cưỡng hiếp?
Trở lại với học thuyết thủy lực, thứ lẽ ra còn có thể tồn tại dai dẳng hơn thế nếu không vì hậu quả mà luận điểm xảo trá của nó gây ra: nó mở ra cánh cửa về việc đổ lỗi cho nạn nhân (victim-blaming). Nếu ham muốn tình dục gây ra cưỡng bức, thì sau đó một người phụ nữ khêu gợi có thể sẽ gây nhiều cảm hứng đến mức một người đàn ông hiền lành cũng cảm thấy choáng ngợp. Nạn nhân trở thành thủ phạm thực sự: người đàn ông đó trở nên vô vọng, “đành” đấm cô ta, vật với cô ta trên sàn và buộc cô ta quan hệ tình dục.
Quan điểm này thu hút sự chú ý của những nhà phân tâm học theo trường phái Freud vào giữa thế kỷ 20. Họ không chỉ cảm thấy hợp lý khi cho rằng nạn nhân là chủ mưu của cưỡng bức, họ suy đoán rằng tất cả phụ nữ đều có mong muốn thầm kín này. Tính dục của nữ giới vốn đã là khổ dâm, từ đó, như nhà phân tích tâm lý Karen Horney đã nói đến trong cuốn The Problem of Feminine Masochism năm 1935 (tạm dịch là Vấn đề về sự khổ dâm của phái nữ) rằng: “Sự toại nguyện của mong muốn và tưởng tượng về tình dục từ sớm liên quan đến người cha là ham muốn bị cắt âm hộ, nghĩa là mong muốn bị thiến bởi chính cha mình”. Trong bài đọc này, những nạn nhân nữ có ham muốn vô thức, nếu không muốn nói là xảo trá sắp đặt những cuộc tấn công về tình dục xảy ra với mình. Đôi lúc việc đổ lỗi còn vượt quá phạm vi của cá nhân người nạn nhân đó mà ảnh hưởng đến mọi phụ nữ, như khi nhà tâm thần học pháp y David Abrahamsen đã chỉ rõ trong The Psychology of Crime năm 1960 (tạm dịch là Tâm lý học của tội ác) rằng kẻ đi cưỡng bức được định hình bởi người mẹ “quyến rũ nhưng thờ ơ”, được kích thích bởi “thiên hướng nam tính và cạnh tranh của vợ anh ta” và cuối cùng “bằng cách này hay cách khác đã dẫn lối anh ta vào con đường phạm tội.”
Đó là tình trạng thảm thương xảy ra khi nhà hoạt động nữ quyền Susan Brownmiller giới thiệu công trình nữ quyền đột phá về vấn đề cưỡng bức của bà trong cuốn Against Our Will năm 1975 (tạm dịch là Chống lại ý chí của chúng ta) với lời tuyên bố: “Cưỡng bức chẳng là gì ngoài một quá trình đe dọa có ý thức mà bằng cách này tất cả đàn ông sẽ giam giữ tất cả phụ nữ trong trạng thái sợ hãi”. Brownmiller đã gạt bỏ dấu vết của việc đổ lỗi cho nạn nhân, và bác bỏ tư tưởng rằng cưỡng bức là kết quả của ham muốn tình dục. Cưỡng bức thay vào đó là tội ác chính trị, được gây ra “phần nhiều cũng bởi các lý do tương tự vì sao người da đen sẽ bị hành quyết bởi đám đông da trắng”. Nó không phải một tội ác của ham muốn, mà là của mưu tính lạnh lùng, thường được điều phối trong một nhóm. Dù bằng cách nào và ở đâu xảy ra cưỡng bức, động cơ không phải là tình dục, mà là quyền lực.
Học thuyết này nhận được sự phổ biến ngay tức thì của những người đọc đồng cảm, và chia những ý kiến cộng đồng thành những phe đối đầu nhau. Đối với những người phản đối chủ nghĩa nữ quyền, hiển nhiên cho điều đó là ngu ngốc, chẳng khác nào nói rằng kẻ trộm thực ra không có động cơ ăn cắp tiền, mà là có một ham muốn lạ kì đối với việc áp bức chủ nhà. Đối với các nhà nữ quyền, bằng trực giác họ cho rằng thuyết này đúng đắn và khéo thay, rất hữu ích trong việc ủng hộ các luận điểm rộng hơn về bất bình đẳng giới.
Năm 1975, nguồn tài trợ nghiên cứu trở nên phong phú, và lĩnh vực tâm lý học đang được hưởng một sự trân trọng mới, bởi vậy giai đoạn này ngập tràn các bài nghiên cứu về động cơ của những kẻ hiếp dâm.
Người đầu tiên và có lẽ là ảnh hưởng sớm nhất bởi những điều này được chịu trách nhiệm bởi nhà tâm lý học lâm sàng Nicholas Groth, người nghiên cứu hàng trăm kẻ cưỡng bức tình dục trong nhà tù và những phòng bệnh tâm thần an ninh trên khắp hệ thống hình sự Massachusetts, xuất bản những kết luận của ông trong Men Who Rape năm 1979 (tạm dịch là Những người đàn ông cưỡng bức). Theo Groth, tất cả những kẻ cưỡng bức có thể có một trong ba động cơ sau: tính bạo dâm, sự giận dữ hoặc ham muốn về quyền lực. Ông đã miêu tả về tâm lý của ba loại này, khẳng định rằng cưỡng bức không bao giờ là hành động của một người có tinh thần khỏe mạnh, nhưng “luôn luôn là triệu chứng của một số rối loạn tâm lý, hoặc tạm thời và thoáng qua hoặc mãn tính, kinh niên”. Ông cũng tuyên bố dứt khoát rằng cưỡng bức là “một hành động giả tình dục”, sử dụng tính dục để biểu hiện cho “những vấn đề của quyền lực và sự giận dữ” và “Nó là hành vi tình dục của những nhu cầu không liên quan đến tình dục.”
Thật không may, Groth đã không đưa ra bằng chứng cho những niềm tin này. Ông không giải thích rằng ông đã thực hiện nghiên cứu của mình như thế nào, hoặc tiết lộ về việc ông đã hỏi chủ thể nghiên cứu của ông những câu hỏi gì. Ông không nói làm thế nào ông đi đến được cách phân nhóm động cơ của kẻ cưỡng bức, hay vì sao ông tin rằng tất cả những kẻ cưỡng bức đều mắc bệnh tâm thần. Công trình của ông chỉ đáng đề cập đến bởi vì ông vẫn thường được trích dẫn vì đã chứng minh rằng cưỡng bức không được thúc đẩy bởi tình dục. Nếu ông tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào tương tự, ông đã không để lại dấu vết nào trong những bài viết của mình.
Trong khi đó, những nhà nghiên cứu khác đang cố gắng chứng minh mô hình truyền thống về thủy lực học và thất bại ngoạn mục. Nhiều nghiên cứu khác nhau tìm thấy mức độ testosterone không hề cao ở những kẻ đi cưỡng bức. Sự thiếu dục cũng không tương quan với cưỡng bức: những khảo sát được tiến hành cho thấy, nếu có thì là những kẻ đi cưỡng bức có nhiều bạn tình đồng thuận hơn những người đàn ông khác. Và cho đến cuối cùng, Paul Gebhard và đồng nghiệp, thuộc Viện Nghiên cứu Tình dục bây giờ là Viện Kinsey đã chỉ ra trong cuốn Sex Offenders : An Analysis of Types năm 1965 (tạm dịch là Những tội phạm tình dục: Một phân tích về các thể loại) rằng những kẻ hiếp dâm đã kết hôn cũng có xu hướng hoạt động tình dục tích cực với vợ mình. Những kết quả này thống nhất với nhau đến mức mà bất chấp tư tưởng chính trị của những nhà nghiên cứu, niềm tin rằng cưỡng bức là kết quả đến từ chứng cương dương hoặc sự thiếu dục bị nhiều bên bác bỏ.
Đồng thời, nguyên bản của thuyết phi tình dục cũng không còn hợp thời. Điều này là kết quả gián tiếp của sự thay đổi trong định hướng nghiên cứu. Những nhà tâm lý học ban đầu đã nghiên cứu về những kẻ cưỡng hiếp bị giam giữ trong tù, bởi lẽ các đối tượng này rất dễ tiếp cận được. Nhưng trong tất cả những tội phạm tình dục, chỉ có một phần nhỏ từng bị tống giam và họ không thể đại diện cho tất cả đàn ông gây ra bạo lực tình dục. Những tội phạm tình dục bị kết án có xu hướng tấn công những người lạ, sử dụng vũ khí, gây ra bạo lực không cần thiết và có có hồ sơ hình sự từ trước đó. Những người đàn ông này gần như không bao giờ là những người có bằng đại học hay là những công dân được xã hội coi trọng – nhưng ngày nay chúng ta biết rằng hai đặc tính tốt đẹp này cũng không ngăn ngừa đàn ông khỏi việc gây ra hành vi cưỡng hiếp.
Bởi vậy cho đến giữa những năm 1980s, một làn sóng nghiên cứu mới tập trung gần hơn vào cái gọi là những kẻ cưỡng bức “không bị phát hiện”- những người chưa bao giờ bị bắt giữ hay thậm chí bị khai báo vì những tội ác của họ. Những người này có ít khả năng sử dụng bạo lực hay vũ lực hơn. Thay vào đó, phần đông trong số họ tấn công những người phụ nữ mất ý thức do ảnh hưởng của rượu. Họ chỉ dùng bạo lực, phần lớn là sau khi không được sự đồng ý quan hệ tình dục, thực trạng này được gọi là “cưỡng bức khi hẹn hò”. Có vẻ không có gì đáng ngờ khi cho rằng động cơ cưỡng bức của những người đàn ông này ít nhất cũng có một phần là bởi tình dục.
Một kết quả khác cũng rất gây ngạc nhiên đó là có bao nhiêu những người đàn ông như vậy. Trong 10 nghiên cứu khác nhau được thực hiện từ giữa năm 1985 đến 1988, có từ 6 đến 14,9% sinh viên nam các trường đại học (đối tượng chiếm phần lớn đối tượng nghiên cứu) thừa nhận đã thực hiện cưỡng bức hoặc cố gắng thực hiện cưỡng bức. Khoảng một nửa số người này đã nhiều lần gây ra hành vi này. Những nghiên cứu này dựa trên bộ câu hỏi chuẩn có tên là Sexual Experiences Survey (tạm dịch là Khảo sát về trải nghiệm tình dục), trong đó cụm từ “mà không được sự đồng ý của họ” (hoặc những từ tương đương) xuất hiện trong mỗi câu hỏi được sử dụng nhằm xác định xem một người đàn ông có phải là kẻ cưỡng bức tình dục hay không. Tất cả những câu hỏi như vậy đề cập đến âm đạo, hậu môn hoặc quan hệ tình dục bằng miệng. Hơn thế nữa, trong các cuộc phỏng vấn cá nhân, những người đàn ông thừa nhận đã thực hiện quan hệ tình dục không đồng thuận cũng không hề cố đính chính rằng đã có hiểu lầm trong tình huống đó. Họ biết nạn nhân của mình từ chối quan hệ. Chỉ là, họ không thể liên kết được mối quan hệ giữa “tình dục không đồng thuận” và “cưỡng bức”.
Những nghiên cứu đã khám phá ra tính cách của những người đàn ông này không gây ngạc nhiên lắm. Liệu có phải kẻ cưỡng bức thiếu sự đồng cảm hơn so với những người đàn ông khác? Không lấy làm lạ nhưng điều này đúng. Liệu có phải những kẻ cưỡng bức thích lấy bản thân làm trung tâm và thích dùng vũ lực để ép buộc hơn? Chẳng ngạc nhiên gì, tất nhiên điều này cũng là đúng. Có phải những người này có những nhận thức tiêu cực đối với phụ nữ. Điều này cũng đúng nốt. Trên tất cả những thông số này, sự khác nhau giữa người cưỡng bức và không cưỡng bức chỉ là nhỏ nhưng rất có ý nghĩa. Kết luận là những kẻ cưỡng bức không phải là quái vật hay hoàn toàn khác với những người đàn ông bình thường nhưng họ có xu hướng trở thành (theo ngôn ngữ dân dã) là những tên khốn mang tư tưởng thù ghét phụ nữ. Một lần nữa, đây không phải là thông tin chấn động gì.
Nhưng nó cũng chẳng phải là tin tốt. Nếu tính phổ biến của sự nhẫn tâm, tính ích kỷ và tư tưởng trọng nam khinh nữ có thể biến đàn ông trở thành kẻ cưỡng bức, vấn đề dường như không thể giải quyết nổi. Chúng ta có thể chấm dứt tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhưng con người vẫn đang cố gắng loại bỏ sự nhẫn tâm và tính ích kỷ hàng ngàn năm nay nhưng chưa thể thành công.
Nghiên cứu về Understanding Sexual Violence năm 1990 (tạm dịch là Hiểu biết về bạo lực tình dục) được viết bởi Diana Scully, US National Institute of Mental Health giúp đưa ra những luận điểm về cách thoát khỏi vũng lầy này. Scully đã so sánh những tội phạm hiếp dâm bị giam giữ với nhóm kiểm soát những tên tội phạm khác, sử dụng một bài phỏng vấn 89 trang để đo lường trên những nét đặc trưng của đàn ông như sự thù địch với phụ nữ, bạo lực giữa cá nhân với nhau và ”tính nam cưỡng ép”. Trên tất cả những thước đo này, tội phạm hiếp dâm và tội phạm khác không thể phân biệt được. Cũng không có sự khác biệt giữa đời sống tình dục của họ trước khi vào tù, thái độ với phái nữ hay lịch sử về lạm dụng tình dục thời thơ ấu.