Bình ngô đại chiến của nhóm mồi đuốc. Viên gạch đầu tiên cho sự từ hào lịch sử dân tộc

MTLQT35

Địt xong chạy

Nếu đường link ko vào đc tụi bây có thể vào yotobe tìm là có ngay có khi ở mục gọi ý. Ko xem vì kiến thức thì củng xem ủng hộ nhóm đi tụi bây, có thể con cháu tụi mày sẻ biết ơn tui bây vì 1 lần xem, mà nó hay thật đó
 

Nếu đường link ko vào đc tụi bây có thể vào yotobe tìm là có ngay có khi ở mục gọi ý. Ko xem vì kiến thức thì củng xem ủng hộ nhóm đi tụi bây, có thể con cháu tụi mày sẻ biết ơn tui bây vì 1 lần xem, mà nó hay thật đó

Có tâm nhưng thiếu xèn...cũng hay và nên xem đó.
 
xem ủng hộ nhóm

con cháu tụi mày sẻ biết ơn tui bây vì 1 lần xem
tao cực kỳ ghét cái trò gạ gẫm theo kiểu ăn mày tinh thần dân tộc này nhá. Chưa cần biết kiến thức, tính đúng đắn hay đơn giản là tính nghệ thuật có trong video này là bao nhiêu? Nhưng riêng kiểu pr này là đã đéo thể ngửi rồi.
Mày đéo thể chỉ cần có ném cái link rồi đưa ra vài cảm nghĩ cá nhân và để đấy cho mn tự vào à?
 
Tao thấy cái này khá tốt so với mặt bằng nghệ thuật VN bây h rồi.
Cái t cần là 1 bộ phim, hay đột phá khiến cả thế giới chú ý như phim kiếm hiệp kim dung của Tàu hay Anime của Nhật vậy, đỉnh cao ko lẫn đc.
Còn hiện tại làm đc như vầy xem cũng gọi là ok. Xem như tinh thần dân tộc thôi chứ chưa cuốn.

Nếu đường link ko vào đc tụi bây có thể vào yotobe tìm là có ngay có khi ở mục gọi ý. Ko xem vì kiến thức thì củng xem ủng hộ nhóm đi tụi bây, có thể con cháu tụi mày sẻ biết ơn tui bây vì 1 lần xem, mà nó hay thật đó
 
Có tâm nhưng thiếu xèn...cũng hay và nên xem đó.
Bao nhiêu đó chỉ là 1 hạt bụi nhỏ thôi fen chưa đc gọi là hạt cát trong đại dương đâu. Con đường còn xa lắm, tao thấy còn xa và thực tế hơn là hoá độ lên XHCN nữa đó
 
Tao cũng hay xem nhưng mà kiểu trang phục rồi ngoại hình các kiểu như phim tàu,không biết bọn nó có tìm hiểu phục trang thời xưa không
 
Tao thấy cái này khá tốt so với mặt bằng nghệ thuật VN bây h rồi.
Cái t cần là 1 bộ phim, hay đột phá khiến cả thế giới chú ý như phim kiếm hiệp kim dung của Tàu vậy, đỉnh cao ko lẫn đc.
Còn hiện tại làm đc như vầy xem cũng gọi là ok.
Ko đc đâu mày ơi, mày chỉ cần thấy cánh đánh nhỏ 10’ đầu đi mày nghỉ là bao nhiêu diễn viên quần chúng, bao nhiêu bộ trang phục, rồi đạo cụ. Còn làm sơ sài quá thì chỉ có tổ ăn gạch từ chúng mày, có khi còn bị bọn tàu cươid cho nhục mặt. Phải tới đời châu thứ mấy của tao thì mới có cơ hội tự hào với thế giới về một bộ phim giả sử của Việt Nam mình
 
Tao cũng hay xem nhưng mà kiểu trang phục rồi ngoại hình các kiểu như phim tàu,không biết bọn nó có tìm hiểu phục trang thời xưa không
Ko sai một ly đâu, chỉ có là nhân vật tiểu ly và một vài tình huốn có thể thêm thắt hư hư ảo ảo để đẩy mạnh tinh thân người xem thôi
 
Đọc vài lời bình luận của tụi bây thấy mấy nhiều thằng mất gốc hẳn về lịch sử nc nhà chán quá. Tao còn mong là có màn đấu khẩu về người thanh hoá tích cách cho vui. Ai ngờ kết quả tệ quá
 
Ko sai một ly đâu, chỉ có là nhân vật tiểu ly và một vài tình huốn có thể thêm thắt hư hư ảo ảo để đẩy mạnh tinh thân người xem thôi
Mày dẫn chứng trang phục thời xưa cho tao xem nào,tao thấy lòe loẹt như phim kiếm hiệp vậy
 
Mày dẫn chứng trang phục thời xưa cho tao xem nào,tao thấy lòe loẹt như phim kiếm hiệp vậy
Nếu mày có tâm cầu thị thì tao chia sẻ cho mày biết
Tượng quan hầu lăng Hiến Tông Hiếu Hoàng đế nhà Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh.
Tượng ngày xưa vốn bị chặt đầu, sau này được gắn lại vào thân bằng xi măng, nhưng người ta đã tiện tay bồi thêm cái cổ áo đứng thời Nguyễn vào tượng, thành ra diện mạo trang phục bị sai lệch đi so với lịch sử.
(Ảnh tư liệu điền dã cung cấp bởi bạn ̶n̶̶ặ̶̶n̶̶g̶ đồng nghiệp)
 

Attachments

  • EDF85271-9E34-4C9D-81E2-0340D731421B.webp
    EDF85271-9E34-4C9D-81E2-0340D731421B.webp
    309.3 KB · Lượt xem: 16
Binh lính nhà Nguyễn (giả định) với đầy đủ trang bị, áo giáp và võ khí. Phỏng theo các hiện vật, hình ảnh và tranh vẽ tư liệu để lại.
Cảm hứng từ lính Rattan archer (cung mây đan?) của quân đội Đại Việt trong bản mở rộng game AOE 2. Có một nhầm lẫn của nhà thiết kế game này rằng quân đội Đại Việt không có đơn vị lính súng... đây là một sai sót lớn và nhầm lẫn như "mặt trời mọc ở đằng tây".

Thực tế quân đội Đại Việt sớm sử dụng hỏa khí cá nhân với quy mô lớn ngay từ cuối thời Trần. Các sách võ bị của Tàu đánh giá rất cao các loại hỏa khí từ An Nam, nổi tiếng nhất là Thần Cơ thương của Hồ Nguyên Trừng. Loại súng được miêu tả bắn mũi tên dài có thể xuyên thủng 1 đến 2 người bằng một phát bắn.

Thời Lê Sơ sau khi đánh đuổi quân Minh thì thu được rất nhiều súng đạn, nhà Minh sợ nên nhiều lần phải sai sứ giả sang đòi nhưng Lê Lợi nhất quyết không trả.
Đến thời hậu Lê, Đại Việt là cửa ngõ giao thương từ Châu Âu đến nước Minh, Thanh. Triều đình Đại Việt tiếp xúc rất sớm với các loại súng điểu thương mồi thừng và đá lửa nhập từ Bồ Đào Nha, Hà Lan và Pháp.v.v. Súng nhập vào Đại Việt lại bán cho Tàu được đánh giá rất cao. Một số sách võ bị chép hẳn là súng An Nam, cho rằng những súng này có thể bắn xuyên qua 3,4 người xếp thẳng hàng từ khoảng cách xa ( nghe như súng bắn tỉa <(") ).

Ngoài súng thì Đại Việt còn nhập và chế nhiều loại hỏa pháo, hỏa cầu, và một món không thể không kể đến là súng hỏa hổ của quân Tây Sơn. Súng được cho là loại ống phun lửa, dùng khi cận chiến, lửa tống ra trúng đâu cháy đó, rất là đáng sợ.

Súng trang bị cá nhân trong chiến tranh Trịnh vs Nguyễn và Nguyễn vs Tây Sơn rất nhiều và đa dạng. Trong sách Hổ Trướng Khu Cơ, có chép phép chế súng gỗ để bắn. Đại Nam Thực Lục thì chép có lúc đánh nhau nhiều quá thiếu thốn súng đạn, quân Nguyễn chế súng gỗ với đạn kết bằng hạt cau khô, bắn cũng rất hiệu quả.
Có nhiều tài liệu cho rằng cả quân chúa Nguyễn và Tây Sơn đều chạy đua vũ trang, họ đã nhập đến vài vạn khẩu súng từ châu âu để trang bị cho quân đội. Nếu nói không ngoa, thì Đại Việt là ông trùm hỏa khí ở đất Đông Nam Á, và sự thật các cụ không khoái xài cung. (Theo Phạm Đình Hổ thì cuối thời hậu Lê đã bỏ môn cưỡi ngựa bắn cung thay bằng cưỡi ngựa bắn súng)
 

Attachments

  • BEEB3F80-BBF8-4083-B2F6-D2485535F4A3.webp
    BEEB3F80-BBF8-4083-B2F6-D2485535F4A3.webp
    186.6 KB · Lượt xem: 22
Thổ binh nước Nam Việt, vẽ phỏng theo giả thuyết Triệu Vũ Vương, tức Triệu Đà không áp lực hoặc không đồng hóa được các bộ tộc Việt, ngược lại ông ta còn chịu học theo thói tục của người Việt.

Các sách sử chép rằng Triệu Đà vốn là một viên quan của nhà Tần, nhân lúc nhà Tần suy yếu chiếm một vùng lãnh thổ thuộc Quảng Đông và một phần miền bắc Việt Nam ngày nay, lập ra nước Nam Việt.
Năm 196 TCN , Hán Cao Đế thay nhà Tần lập nhà Hán, thì nghe Triệu Đà đã xưng vương ở phía nam, mới sai Lục Giả “…sang phong Đà làm Nam Việt Vương, trao cho ấn thao (tỉ thụ) và con so bổ đôi (phẫu phù), thông sứ với nhau, bảo Đà giữ yên đất Bách Việt, chớ cướp phá. Khi sứ đến, vua ngồi xổm mà tiếp Lục Giả…” (ĐVSK)

Hành động “ngồi xổm” của Đà tất nhiên không phải phong tục người Hán, chi tiết này được chép lại dù với mục đích gì cũng cho thấy triều đình người Hán do Đà thành lập ở phương nam đã bị nhiễm thói tục của người Việt bản địa.

Cần phải nhớ rằng triều đình mới do Đà lập ra ở Nam Việt chưa bén rễ sâu, lại đồng thời xung đột lợi ích với nhà Hán ở phương bắc. Đà vì vậy có thể đã không có đủ điều kiện và thời gian để thực hiện hiệu quả chính sách đồng hóa, hoặc xem nhẹ vấn đề này. Ngược lại tất nhiên văn hóa Hán của triều đình Nam Việt cũng ít nhiều ảnh hưởng đến dân cư bản địa, ví như văn minh đồ sắt được người Hán du nhập vào sẽ dần dần thay thế những sản vật đồ đồng trước đó.
“ Năm thứ 24 [184 TCN], (Hán Cao Hậu năm thứ 4). Nhà Hán cấm nước Nam Việt mua đồ sắt ở cửa quan…” (ĐVSK), đồ sắt cải thiện đáng kể sức mạnh quân sự và phát triển kinh tế của nước Nam Việt, nên Triệu Đà mới nhân đó: “…lên ngôi hoàng đế, đem quân đánh Trường Sa, đánh bại mấy quận rồi về…). Nhà Hán sai Lâm Lư hầu Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù việc đánh Trường Sa. Gặp khi nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi quân. Vua nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việc ( tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc) và Âu Lạc ở phía tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân), các nơi ấy đều theo về, từ đông sang tây rộng hơn vạn dặm. Vua ngồi xe mui vàng, dùng cờ tả đạo, cho là nghi vệ ngang với nhà Hán.”(ĐVSK)

Không thể đánh bại Nam Việt ngược lại còn bị thiệt hại nặng, nên liền sau khi Hán Cao Hậu mất thì Hán Văn Đế lên thay đã lập tức tìm cách hòa hoãn, lại cử Lục Giả đi sứ.
Khi Giả đến, Triệu Đà đổ lỗi cho Cao Hậu: “…Lão phu vốn là lại cũ ở đất Việt, Cao Đế ban cho ấn thao làm Nam Việt Vương. Hiếu Huệ Hoàng Đế lên ngôi, vì nghĩa không nỡ tuyệt nên ban cho lão phu rất hậu. Cao Hậu lên coi việc nước lại phân biệt Hoa –Di, ra lệnh không cho Nam Việt những khí cụ làm ruộng bằng sắt và đồng; ngựa, trâu, dê nếu cho thì cũng chỉ cho con đực, không cho con cái.… Lại nghe đồn rằng, phần mộ của cha mẹ lão phu bị đập phá, anh em họ hàng đều bị giết…Lão phu trộm ngờ là vì Trường Sa Vương gièm pha, cho nên mới đem quân đến đánh biên giới.” (ĐVSK) đến khi Lục Giả dùng lời an ủi, cho biết: “mồ mả tổ tiên của vua đều ở Chân Định… (được vua Hán) đặt người thủ ấp để trông coi, tuế thời cúng tế, gọi các anh em của vua cho làm quan to, ban cho hậu.”.
Đà khi đó mới giả lả bỏ xưng đế lại xưng vương với nhà Hán như cũ, nhưng ấn tỉ dùng trong nước vẫn dùng tôn hiệu Đế. Thời sau các vua Đại Việt đều thi hành chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương” là học theo Triệu Đà. Tính từ thời điểm này họ Triệu ở nước Nam Việt mới rảnh tay hơn một chút để có thể thi hành một chính đồng hóa (nếu muốn).

Nhưng có thể thấy các tộc Việt phương nam cho đến ngày nay vẫn duy trì những nét khác biệt với văn hóa chung của người Hán. Họ hoặc chủ động tiếp thu (có chọn lọc) văn hóa Hán, hoặc tiếp thu thụ động, chứ không bị đồng hóa hoàn toàn. Cho nên có thể nói ảnh hưởng văn hóa Hán của nhà nước Nam Việt với các tộc Việt là tương đối nhỏ, không đáng kể. Ta thấy người Miêu, người Choang, người Dao, người Mường.v.v. có hệ thống phong tục tập quán và văn hóa đặc thù không giống cả người Kinh và người Hoa ngày nay cũng như các triều đại trước đó.

Đương thời những nhận định của Hán về Nam Việt cũng không xem dân Nam Việt là dân Hán, hoặc ít nhất là một nước đồng văn. Trong sự kiện năm 135 TCN, vua nước Mân Việt đem quân xâm lấn nước Nam Việt.Con của Đà là Triệu Văn Vương giữ ước với nhà Hán, không tự tiện dấy quân (xâm lấn vào đất Hán và chư hầu), sai người đem thư nói việc đó với nhà Hán.Vua Hán cho là nghĩa nên phát quân đánh Mân Việt giúp Nam Việt.

Lưu An dâng thư can vua Hán rằng: “Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được… Nay họ đánh lẫn nhau mà bệ hạ phát quân đến cứu, thế là trái lại đem Trung Quốc mà phục dịch di địch vậy….”(ĐVSK). Nhưng lúc đó quân Hán đã lỡ lên đường rồi, lệnh không thu hồi được.

Cùng với văn hóa, nền chinh trị của nước Nam Việt là độc lập và không chịu phụ thuộc vào nước Hán. Hay nói cách khác triều đình người Hán nước Nam Việt đã thỏa hiệp với các thủ lĩnh địa phương để được ở lại đất này, tự không coi họ thuộc Hán nữa.
Điều này được minh chứng năm 112TCN, thái hậu Cù Thị là người Hán chuyên quyền, nhân lúc: “vua (Triệu Ai Vương) còn ít tuổi, Cù hậu là người Hán, Thiếu Quý(sứ nhà Hán) đến, lại tư thông. Người nước biết, phần nhiều không theo thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội phụ nhà Hán. Bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 3 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới.”
Nhưng thừa tướng nước Nam Việt là Lữ Gia không chịu, liền nổi loạn, cớ rằng: "Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên Vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời. Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán…” (ĐVSK)
 

Attachments

  • 33AC660B-72F7-4BAB-BA9E-69E0FBF471AB.webp
    33AC660B-72F7-4BAB-BA9E-69E0FBF471AB.webp
    209.7 KB · Lượt xem: 21
Nhà Tây Sơn là sau nhà Hậu Lê nha mạy tao sợ mày ko biết nên nghi thêm cho chắc
Trang bị và trang phục quân Tây Sơn giai đoạn đầu khởi nghĩa. Mô Phỏng dựa theo tranh vẽ của nhà Thanh, những nhà du hành tây phương, và các ảnh tượng còn để lại.

Nhà Tây Sơn nguyên khởi tại ấp Tây Sơn, cuối thời Trịnh Nguyễn phân tranh, phía tây nam tỉnh Bình Định ngày nay. Khởi nghĩa do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Nhạc vốn có một chức quan nhỏ chuyên lo việc thu thuế trong vùng, sử nhà Nguyễn cho rằng Nhạc vì thiếu một khoản thuế nộp cho triều đình mà cùng quẫn nổi dậy, thực tế thì cuối thời chúa Nguyễn Phúc Khoát chính sự nhà Nguyễn rối ren, quyền thần Trương Phúc Loan đặt nhiều thứ thuế vô lý khiến nhân dân oán hận mà nổi loạn.
Đại Nam Thực Lục chép:
"Tả tướng Trương Phước Loan khí cục nhỏ hẹp như cái thưng cái đấu, tâm địa gian tà như quỷ như ma. Vin bán khuê khổn tình thân, trộm lấy triều đình trọng chức. Tin dùng kẻ gian nịnh, hãm hại người trung lương. Ly gián người cũ người thân, chuyên kế gây bè lập đảng. Chiêu nạp thêm vây thêm cánh, tự tính mưu lợi riêng mình. Giết người nọ lập người kia, nguy hiểm như lang sói bên cạnh nách ; thẳng tay làm khổ trăm họ, vẻ mũ xiêm mà hóa giống chim muông. Nặng thuế khóa nặn máu mủ dân; bớt lương quân để cắt nanh vuốt. Chính sự cấp bách như lông mày bị đốt; hình phạt nặng nề nhường con mắt bị đâm. Chuốc oán với dân, gây ra mối loạn. Đến nỗi Tây Sơn là bọn dân hèn, tụ tập như đàn ong lũ kiến, chiếm đất Quảng Nam màu mỡ, nhanh chóng như lợn sổ lang rông"

Nguyễn Nhạc tự hiệu là Tây Sơn Vương, tụ tập quân dân địa phương khởi nghĩa, tiếng là tôn phò hoàng tôn Dương, chống quyền thần Trương Phúc Loan.

Việc tuyển binh của quân Tây Sơn mới đầu là tình nguyện, về sau khi họ chiếm được đất đai thành trì thì bắt dân làm lính "Đổi ấp làm đội, gọi dân là binh"..."(Tây Sơn) Đến đây đem đồ đảng đánh úp phủ Quy Nhơn. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên bỏ chạy. Nhạc bèn chiếm giữ lấy thành, thả tù ra, lùa dân làm binh..."

Tiêu chí tuyển chọn và đào tạo binh lính không rõ ràng, thường lấy quân số làm thanh thế, khi có việc binh thì bắt dân rất gắt. Đại Nam thực lục chép: "Trước kia giặc Tây Sơn kén lính, cứ chiếu theo số đinh, 7 người lấy 1. Mỗi khi có việc trưng phát lại lùa hết dân làm lính, ...từ khi Tây Sơn trộm chiếm cứ, lấy binh không có quy chế..."

Thành phần quân Tây Sơn vì vậy mới đầu và về sau khá ô hợp, khi ra trận thường la ó nên dân gian có câu:
"Binh triều là binh quốc phó (Trương Phúc Loan)
Binh ó là binh hoàng tôn (Nguyễn Phúc Dương)"

Quân lực Tây Sơn đáng kể nhất là quân người thượng, tức những sắc dân miền núi Tây Nguyên, tục vẫn gọi là Tây Sơn Thượng. Có thuyết cho rằng Nguyễn Lữ em trai của Nguyễn Nhạc theo Ma Ni giáo, dùng thuật phù thủy chữa bệnh mê hoặc dân thượng, dạy dân thượng tôn gọi Nguyễn Nhạc là vua trời.
Các chiến binh người Thượng rất thiện chiến, thông thạo rừng núi, khi xuống đồng bằng đánh cướp, binh triều đến thì họ rút đi, lựa lúc sơ hở thì lại đánh úp. Nhà Nguyễn xem người Thượng là khó đánh, về sau dù dẹp yên dư đảng nhà Tây Sơn rồi, vẫn phải chống đỡ họ: "Buổi quốc sơ bọn mọi ác Đá Vách ở Quảng Ngãi (vì ven núi trông lên những vách đá đứng thẳng là nhà ở của bọn mọi ác này, cho nên gọi tên là mọi Đá Vách) thường gây nạn cho dân..."

Khi tiến được về nam thì quân Tây Sơn lại thu dụng dân Chăm làm lính:
" Tháng 2, vua (chúa Nguyễn Ánh) trở về Sài Gòn, lưu Lê Văn Quân và Võ Tánh ở lại chiêu vỗ dân Man. Bộ tướng của Quân là Cai cơ Nguyễn Văn Phong tìm bắt được Ốc Nha Ốc ở Cần Thơ, giết đi. (Ốc mới nghe tin Tham hàng thì trốn chạy đến Cần Thơ). Người Man (người Chăm) ra hàng có hơn 1.500 người, sai ghi vào sổ, mỗi người phải nộp 10 hộc thóc để cấp lương quân." (Đại Nam Thực Lục)

Không chỉ lấy sức dân trong nước, họ còn mượn sức của bọn giặc biển Tàu Ô - vốn là quân "phản Thanh phục Minh" bị nhà Thanh săn đuổi, không chiếm được đất thì dạt ra biển làm hải tặc: "Trước là giặc biển Tề Ngôi là Trương á Lộc ngụy xưng là thống binh, tụ đảng ở ngoài khơi, cướp bóc thuyền buôn, giặc Tây Sơn từng mượn sức để chống cự quan quân. " (Đại Nam Thực Lục).

Ngoài ra còn có bọn lái buôn người Tàu từng phụng sự nhà Tây Sơn đáng kể nhất là bọn Lý Tài, Tập Đình: "Bọn lái buôn người Thanh là Tập Đình và Lý Tài (không rõ họ) đều hưởng ứng (khởi nghĩa), Nhạc kết nạp họ để giúp mình. Tập Đình xưng là Trung nghĩa quân, Lý Tài xưng là Hòa nghĩa quân." Bọn này khi đánh trận thường cởi trần, đeo giấy vàng mã tỏ ý liều chết, thanh thế bọn này rất lớn nên: "(Nguyễn Nhạc) lại lấy những người thổ dân cao lớn, cho cạo đầu bím tóc, cải trang làm người Thanh, khi đánh thì uống rượu say, cởi trần, mình đeo giấy vàng bạc mà xông trận để tỏ ra là liều chết, quân ta không ai đương được." (Đại Nam thực lục)

Khi dùng vào việc quân nhà Tây Sơn cũng không có sự phân biệt nam, nữ. Bởi vậy mà trong tổ chức của họ có rất nhiều nữ tướng, tiêu biểu là Ngũ Phụng Thư, mà trong năm người đó người nổi bật nhất thường được kể đến là bà Bùi Thị Xuân. Không chỉ lo việc hậu cần, có nhiều ghi chép cho thấy các nữ tướng Tây Sơn còn nắm quân lực riêng:
"Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản cử đại binh thủy bộ 30.000 người vào cướp...Vợ Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem đồ đảng 5.000 người đi theo."

Vai trò của những nữ tướng này với vận mệnh nhà Tây Sơn buổi đầu và về sau đều rất quan trọng, nếu nói nhà Tây Sơn "mạt vận tại Trấn Ninh" thì tiếc rằng “Nếu có một nữ tướng như ta nữa (Bùi Thị Xuân) thì cửa Nhật Lệ không để lạnh."
 

Attachments

  • 004BD1D9-786B-44ED-8E1D-55B30999411F.webp
    004BD1D9-786B-44ED-8E1D-55B30999411F.webp
    182.9 KB · Lượt xem: 17
Ak! Tao cho thêm bài này để cho chắc ko mày lại bảo sao trong tranh toàn chử tàu, rồi nói tao lụm ảnh tàu đưa vào chém
TỆ SÙNG BÁI CHỮ HÁN LÀ SAO??
----
Nhơn có đọc một bài báo viết với đề bài là "Tệ sùng bái chữ Hán: Không đọc được, không hiểu được thì viết làm gì?!" [nguồn Tệ sùng bái chữ Hán: Không đọc được, không hiểu được thì viết làm gì?!]. Theo đó tác gia đã đưa ra ý kiến cá nhơn là "Đến nay vẫn còn rơi rớt sự sùng kính thái quá chữ Hán, thậm chí là sợ hãi... tiếp nối mấy bác “hay chữ lỏng” mang chữ Hán ra dọa, hù nhau như ở làng xưa!" còn ai muốn hiểu thêm thời cứ đọc bài viết có dẫn theo.

Nhưng tui không đề cặp đến việc phản bác ý kiến tác gia đúng hay sai, nhưng chỉ nói đến vài việc Sùng chữ Hán của chúng ta thôi.

Vậy định sao gọi là "sùng bái chữ Hán" bởi vì các học giả cho rằng chữ Hán chỉ dùng cho học trò khi xưa học mà thi khoa cử, đời nay người Việt dùng mẫu tự la tin nên viết lên cũng không ai hiểu việc này có thể đúng với hiện trạng nước ta khi chữ Hán không còn được phổ cập, mà theo đó các học trò học Ngôn ngữ Trung cũng chỉ học tiếng giản thể mà thôi, còn phần các chữ ở Việt Nam được trang trí trên các đình, chùa, miếu mạo,.. điều dùng chữ Phồn thể.

Đứng ở góc nhìn về chủ nghĩa dân tộc, việc có lòng tự tôn dân tộc muốn thoát Hán quả cũng là một lời giải thích, hoặc những chữ Hán đã lỗi thời khi dùng vào các công trình,... nhưng chúng ta cần phải chú ý đến các điểm chánh sau:

- về phần xưa

Trong lịch sử nước ta là nước Nho học nên các tài liệu ghi chép về văn hóa, lịch sử, địa lý,... đều dùng bằng chữ Hán hoặc Nôm, do đó muốn khai thác được các tài liệu này cần phải có một số lượng kiến thức về chữ Hán, tới đây có người sẽ nói là "đã có các nhà chuyên môn lo về dịch thuật, mình chỉ cần coi sách đã dịch rồi thôi" nói vậy mình có khác gì vẹt không, nếu nói về phần đọc sách như kiểu "cưỡi ngựa coi bông" hay "coi cho có" thì việc dịch thuật trúng trật mặc lòng, nhưng những sách được dịch thuật mà không "đúng" thì sao sẽ làm cho giới học thuật, những người nghiên cứu không biết chữ Hán dễ truyền lại những thông tin rất sai khi phân tích về những nghiên cứu xưa, việc những sách dịch thuật ở Việt Nam hiện đang gặp rất nhiều lỗi về Hán văn này như: dịch bỏ đi các thuật ngữ chuyên dụng trong sách ví dụ như chữ Vương, Đế, Công có ý chỉ người quân chủ một nước nhưng mức độ khác nhau rồi được dịch lại thành Vua, ông thiên tử cũng vua, ông chư hầu cũng vua vậy là dẫn lạc đường cho người đọc rồi, bên cạnh đó việc dịch thuật không quan tâm đến việc sử dụng chữ đương thời như các tên người ở vùng Nam Kỳ như Trương Tấn Bửu mà dịch thành Trương Tiến Bảo, Nguyễn văn Nhơn dịch thành Nguyễn văn Nhân thời những người mới nghiên cứu sẽ tưởng 1 thành 2 chớ chẳng chơi,... đó là cái tệ hại của việc dùng chữ Hán với một tinh thần dân tộc mà phó thác cho các tay dịch thuật.

- về phần nay

Chưa kể hiện nay những chữ Hán đa phần dùng trong các công trình mang hơi hướng lịch sử, văn hóa đó cũng thể hiện sự Tông xẹt Tông, còn như công trình xưa với đầu đao, lợp ngói,... mà chơi loại chữ Quốc ngữ chế kiểu vuông vuông vô coi rất dị hợm, đọc cũng chưa chắc ra được chữ chi vậy, về đường thẩm mỹ đã xấu, về đường học thuật lại lạc lỏng còn về kiến trúc là sự pha tạp xà bần.

--> Chữ Quốc ngữ có thể là phương tiện truyền tải khá dễ dàng, nhưng khi biến nó vào thành một dạng trang trí trong các công trình hiện tại xây theo kiểu truyền thống vẫn thấy nó kỳ kỳ về bố cục cũng như hình thức và nhứt là cách tạo hình phải cho vuông vuông kiểu như chữ Hán hay dạng thơ pháp này nọ.

Vậy thực ra việc dùng chữ Hán có bị coi là Sùng chữ Hán không, theo đó mình phải coi nhận lại vấn đề là việc dùng chữ Hán theo một mục đích nào như Nghiên cứu chuyên sâu, kiến trúc,... chúng ta có thể bỏ chữ Hán vì nó đã "lỗi thời" theo một số ý kiến, nhưng nếu bỏ chữ Hán đồng thời chúng ta có thể sẽ vứt đi văn hóa và lịch sử dân tộc cũng như phó thác vào tay những dịch giả chưa chắc đã am tường chuyên sâu về vấn đề họ đang dịch, chưa kể quan điểm thẩm mỹ khi phối chữ Quốc ngữ với các công Trình truyền thống hoặc xây theo dạng Truyền thống tạo nên một phong cách hơi tạp chưa kể đế sự hòa hiệp thẩm mỹ nữa.

Việc dùng chữ Hán cũng không đụng địa tới ai "tui thích thì tui dùng", còn như ai muốn dùng chữ "Quốc ngữ" là cũng do họ thích thôi, xét rộng ra đời nay dùng chữ này hay chữ nọ cũng do sở thích và gu thẩm mỹ riêng, chớ chi mà cứ bài xích quá thấy cũng tội chữ Hán lắm, bới đi chùa hiếm ai dừng lại đọc mấy câu đối hay cái tiểu sử bên ngoài đâu. Chưa kể phong trào bỏ chữ Hán nhiều lên là ngành học thuật về văn hóa và lịch sử của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nhiều lắm,........
------
#Đại_Nam_Hội_Quán
 

Attachments

  • 8A1CD6B4-8249-4276-B987-3A9F8D558525.webp
    8A1CD6B4-8249-4276-B987-3A9F8D558525.webp
    25 KB · Lượt xem: 15
Thánh Dực quân được tuyển từ lộ Hồng châu, Khoái châu, Trường Yên và Kiến Xương:
"(chọn người khỏe mạnh) lộ Hồng và lộ Khoái sung quân tả hữu Thánh dực; lộ Trường Yên và lộ Kiến Xương sung vào Thánh dực..." (DVSK)

Đội quân này là một trong những lực lượng xương sống của quân đội nhà Trần. Bởi nó từng đánh đông dẹp bắc, dưới sự chỉ huy của nhiều danh tướng như Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật, Nguyễn Đa Phương.v.v.:

"(1290), lấy Hạ phẩm phụng ngự Phạm Ngũ Lão chỉ huy Hữu vệ Thánh dực quân."

"(Năm 1312, Vua Trần Anh Tông ngự giá xuất chinh sang Chiêm Thành) Bấy giờ Hoàng thái tử giám quốc, Chiêu Văn Đại Vương Nhật Duật và Nghi Võ hầu Quốc Tú chỉ huy quân tả hữu Thánh dực ở lại giữ nước."

"(Năm 1389)Nguyễn Đa Phương tạm chỉ huy quân Thánh Dực."

Nhà Trần còn lấy việc chỉ huy quân Thánh Dực làm vinh dự để ban thưởng cho người tin cậy:
"Bấy giờ, người Nghệ An vốn ở hai lòng, còn Tân Bình, Thuận Hóc thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành, cho nên người địa phương phân tán đánh lén khắp nơi, không ai ngăn được. Triều đình tuy đã lấy Lê Khả Chú làm An phủ sứ lộ hai lộ ấy, nhưng chỉ ở kinh sư mà trấn trị từ xa, chứ chưa bao giờ tới quận. Chỉ có thổ hào Phan Mã và Phạm Căng đem dân chúng quy thuận. Mãnh là người can đảm mưu lược, dò biết được nhiều tình hình của giặc, lại có công đón đánh quân giặc bại trận chạy qua. Thượng hoàng thưởng cho rất hậu, cho làm tới Dực vệ quân, lại thăng làm Uy Minh tướng quân, chỉ huy quân Thánh Dực ở Tân Bình và Thuận Hóa, đeo vân phù vàng."

Trong kháng chiến chống Mông Nguyên đội quân này đã góp công không nhỏ:
"Tháng 12, ngày 16, (1287), chiếu sai minh tự Nguyễn Thức đem quân Thánh dực dũng nghĩa đến chỗ
Hưng Đạo Vương để giữ cửa Đại Than.
Ngày 26, [quân ta] gặp giặc, đánh bại chúng."

"Tháng 3, ngày mồng 8, (1288), quân Nguyên hội ở sông Bạch Đằng để đón thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ nhưng không gặp.
Hưng Đạo Vương đánh bại chúng.
Trước đó, Vương đã đóng cọc ở sông Bạch Đằng, phủ cỏ lên trên. Hôm ấy, nhân lúc nước triều lên, Vương cho quân khiêu chiến rối giả cách thua chạy, bọn giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc hết. Nguyễn Khoái chỉ huy quân Thánh dực dũng nghĩa đánh nhau với giặc, bắt sống Bình chương Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh lớn, quân Nguyên chết đuối nhiều không kể xiết, nước sông do vậy đỏ ngầu cả." (DVSK)

Đến cuối thời Trần đầu thời Hồ vẫn còn biên chế quân Thánh Dực, nhưng thế và lực đã suy yếu. Như việc đánh dẹp giặc ở Nông Cống:
"Ngày 20, (tháng 9, năm 1389) giặc phục sẵn quân và voi, rồi giả vờ bỏ doanh trại rút về. Quý Ly lựa lấy quân tinh nhuệ, dũng cảm, làm quân cảm tử, truy kích giặc. Thủy quân mở hàng cọc xông ra đánh. Giặc liền phá đập chắn nước, tung voi trận xông ra. Lúc ấy, quân tinh nhuệ dũng cảm đã đi xa rồi, quân thủy khó tiến ngược dòng, tiến lên rất khó khăn, vì thế bị thua. Tướng chỉ huy quân Hữu Thánh Dực là Nguyễn Chí(có sách chép là Trần Đình Quý) bị giặc bắt sống, 70 tướng còn lại đều bị chết trận."(DVSK)

Đội quân này vẫn lập được không ít công trạng, như việc đánh dẹp Phạm Sư Ôn:
"(tháng 12,1389) Hai vua sang châu Bắc Giang. Sư Ôn ở kinh sư ba ngày rồi ra đóng quân ở Nộn Châu. Thượng hoàng sai tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Hoàng Phụng Thế đi đánh, dẹp được." (DVSK)

Thanh thế của đội quân này vẫn lớn, có thể nói là bộ mặt thiên binh, nên những thất bại của họ thường khó được dung thứ:
"Tháng 3, (1391), Quý Ly sai viên tướng coi quân Tả Thánh Dực Hoàng Phụng Thế đem quân đi tuần đất Chiêm Thành. Người Chiêm Thành đặt mai phục. Quân Phụng Thế tan vỡ, [Phụng Thế] bị giặc bắt. Quý Ly sai chém 30 viên đại đội phó dưới quyền của Phụng Thế. Phụng Thế dùng mưu kế thoát về, được phục chức như cũ." (DVSK)

Vì là chính binh, nên từ vua đến kẻ quyền thần đều muốn nắm họ trong tay:
"Quý Dậu, [Quang Thái] năm thứ 6 [ 1693], (Minh Hồng Vũ năm thứ 26). Mùa xuân, tháng giêng, lấy Hồ Cương coi quân Tả Thánh Dực (Cương người Diễn Châu). Quý Ly ngầm tìm được dòng dõi họ Hồ, muốn đổi theo họ cũ, đưa Cương ra làm người tâm phúc."

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi, vẫn giữ đội quân này dùng việc đánh dẹp Chiêm Thành và cả chống quân Minh:
"Quý Ly lấy Hành khiển Đỗ Mân làm Thủy quân đô tướng; tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Trần Vấn (được ban họ Hồ) làm Đồng đô tướng; tướng chỉ huy quân Long Tiệp Trần Tùng (được ban họ Hồ) làm Bộ quân đô tướng; tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Đỗ Nguyên Thác làm Đồng đô tướng;đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm Thành." (DVSK)

Trong kháng chiến chống Minh họ tỏ rõ là đội quân đáng tin cậy:
"(Năm 1406) Sáng hôm đó, các quân thủy bộ giao chiến, nhị vệ đại tướng Phạm Nguyên Khôi, tướng chỉ huy quân Chấn Cương là Chu Bỉnh Trung, tướng chỉ huy quân Tam Phụ là Trần Huyên Huyên, Tả Thần Dực quân Trần Thái Bộc đều thua chết. Tả tướng quốc Trừng bỏ thuyền lên bờ, suýt bị vây, có người vội dìu xuống thuyền thoát được. Đó là vì thấy bên kia quân ít, coi thường chúng.
Duy có Tả Thánh Dựcquân Hồ Vấn từ Vũ Cao dẫn quân tới đánh úp, giặc bị thua. Trung liệu thế không địch nổi, đến trống canh hai nửa đêm trốn về. Tướng chỉ huy quân Hữu Thánh Dực Hồ Xạ, tướng chỉ huy quân Thánh Dực Bắc Giang Trần Đĩnh đã được lệnh chặn đánh ở cửa ải
Chi Lăng từ trước. Quân Minh bèn đưa giải Thiêm Bình cho ta và sai quân y Cao Cảnh Chiếu gửi thư hàng..." (DVSK)

Tuy nhiên đó chỉ là tia sáng lé loi sau cùng:
"Tháng 12, ngày mồng 2, người Minh chiếm được Việt Trì, bờ sông Mộc Hoan và chổ đóng cọc ở sông Bạch Hạc. Tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực Hồ Xạ không giữ nổi, phải dời hàng trận sang phía nam sông Cái."

Từ đó quân nhà Hồ thua luôn luôn, nước ta mất vào tay giặc Minh. Đội quân Thánh Dực theo đó mà mất.
-----
Ảnh minh họa, mô phỏng theo tượng giáp chùa Long Đọi và hình tượng chiến binh trên bình gốm nâu Lý - Trần.
 

Attachments

  • 09642434-3DA9-4C9E-9BAB-1D9079942E01.webp
    09642434-3DA9-4C9E-9BAB-1D9079942E01.webp
    251 KB · Lượt xem: 14

Có thể bạn quan tâm

Top