JoeBidenDC
Tâm hồn dẩm chúa
Hơn 9 giờ tối ngày 17/10/1969, sân bay Khai Phong, Trung Quốc (TQ) đón một chiếc máy bay có sứ mệnh đặc biệt. Trong những năm tháng rối ren lộn xộn, các nhân viên y tế hộ tống nhận “nhiệm vụ khẩn cấp”, mang một tâm trạng sợ hãi không yên, trèo lên thang máy bay, chẳng ai rõ việc gì, họ sẽ nhận một bệnh nhân như thế nào. Sau khi bước vào khoang máy bay, đập vào mắt mọi người là tình cảnh như thế này: trong khoang phía sau đặt một cái cáng cứu thương, một cụ già tóc bạc trắng nằm trên đó. Mặt cụ gầy đét, xanh xao, hai mắt nhắm nghiền, mũi cắm ống nuôi. Trên người cụ không mặc quần áo, toàn thân đắp một cái chăn. Tất cả dấu vết chứng tỏ cụ đã bị suy nhược đến cực độ, nếu không phải là thở yếu ớt thì mọi người sẽ nghĩ là cái thân hình này đã mất đi sự sống. Nhân vật bí hiểm này được máy bay chở đến rốt cuộc là ai?. Khi ánh mắt của nhân viên y tế hộ tống dừng trên nét mặt quen thuộc của cụ, trong lòng họ không giữ được nỗi kinh sợ, dù cho nét mặt đó đã thay đổi rất nhiều, nhiều nốt đồi mồi của người già đã che đi màu da cũ, nhưng họ vẫn nhận ra: Cụ chính là Phó chủ tịch BCHTƯ Đảng ******** (ĐCS) TQ, Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ (LTK).
LTK nằm bất động trên cáng cứu thương, để mặc họ khênh xuống máy bay, đưa vào xe cứu thương. Đêm tối đen như mực, chiếc xe cứu thương chạy vào thành phố trong gió rét. Nhưng chiếc xe cứu thương không theo lệ thường như đưa bệnh nhân vào bệnh viện, mà theo lệnh của bên hữu quan chạy vào đỗ trong một cái sân lớn của Ủy ban thành phố (TP) Khai Phong trước kia, tại phía tây đường phố Bắc Thủ, Khai Phong. Đó là một cái sân xung quanh có nhà cao tầng, tựa như giếng trời vậy, trước giải phóng là tòa nhà ngân hàng. Tòa nhà 3 tầng đứng đối mặt cao vút, kiến trúc rất kiên cố, bức tường cao của sân trông rất nghiêm ngặt. Hôm nay lại tăng thêm canh gác, đội quân hùng hậu trấn giữ, làm cho sân bao trùm một bầu không khí u ám. Sau khi chiếc xe cứu thương chạy vào trong sân, LTK bị khiêng vào một phòng tòa nhà lầu phía tây. Hộ lý và đồng chí Lý, nguyên vệ sĩ trưởng, tùy tùng từ Bắc Kinh, theo chiếc cáng vào phòng, thấy trong phòng chỉ có một chiếc giường đơn và một chiếc bàn gỗ nhỏ, ngoài ra chẳng có bày biện gì khác. Ở đây chỉ có thể gọi là phòng giam trong nhà tù, mà phạm nhân không phải là ai khác ngoài LTK đã nằm liệt không dậy được. Thực tế, LTK lúc đó bệnh đã nặng lắm. Vốn dĩ khi ở Bắc Kinh, vì viêm phổi nặng cộng với sự giày vò về tinh thần nên LTK đã không đứng lên được. Qua thời gian dài trở mình trằn trọc, LTK đã thở rất yếu, chốc lại thở hắt ra và kèm theo ho, hình dáng tiều tụy, da bọc xương. Ông cụ ngủ suốt ngày mê mệt, lúc tỉnh dậy chẳng nói một lời, ánh mắt không hồn, mặt không có biểu hiện gì. Do thân thể bị hủy hoại trong thời gian dài, ông cụ đã mất khả năng khống chế đại tiểu tiện, đến trở mình cũng không có sức, hoàn toàn dựa vào việc nuôi qua đường mũi để duy trì sinh mệnh... Đêm 10/11, LTK lại sốt cao, đến 5 tiếng đồng hồ sau mới rút cái đo nhiệt độ ra, nhiệt độ thân thể là 39,7oC, tuy không thể chẩn đoán là viêm phổi, nhưng theo cách chữa trị viêm phổi thì vẫn không được phép chở đến bệnh viện cứu chữa. Đến đêm 11, thì hai môi LTK đã tím ngắt, phản ứng hai con ngươi không còn nữa, nhiệt độ thân thể lên đến 40,1oC, nhưng mãi đến 6 giờ 40 phút ngày 12 mới có thông báo bệnh tình nguy kịch. 5 phút sau, trái tim của LTK ngừng đập, vị Chủ tịch nước CHND Trung Hoa đi hết lộ trình của một đời người cô độc, không có một người thân bên cạnh!
Sau khi LTK từ trần, nguyên vệ sĩ trưởng, lão Lý đã về Bắc Kinh nay được cử quay trở lại, cắt tóc trắng dài hơn một thước của ông cụ, mặc cho ông cụ bộ quần áo hết sức bình thường. Tiếp đó, thi hài của ông cụ bị khiêng đến ngôi nhà một tầng mái cong tòa nhà lầu phía tây để chụp ảnh, sau đó khiêng đến đặt trong một phòng nhỏ hơn cũng ở trong sân đó. 0 giờ đêm 14, có 6, 7 người đưa thi thể của LTK lên một chiếc xe Gaz 69 kiểu xe Jeep được coi là chiếc xe tang, thùng xe hơi ngắn so với chiều dài thân thể ông cụ thành thử hai chân thò cả ra ngoài. Chiếc xe ấy chở thi hài của LTK đến nơi hỏa táng nằm ở ngoại ô phía tây TP Khai Phong. Trước đó, nơi hỏa táng đã sớm nhận được thông báo, nói là có một “người chết mắc bệnh truyền nhiễm nặng” phải hỏa táng vào ban đêm, yêu cầu nơi hỏa táng chỉ để lại 2 công nhân. Sau khi chiếc xe chở thi thể đến nơi hỏa táng, hơn 20 quân nhân đặt nơi hỏa táng nho nhỏ này trong tình trạng giới nghiêm. Còn thủ tục hỏa táng do nhân viên trong tổ chuyên án đến từ Bắc Kinh lo liệu. Trong đơn xin hỏa táng tại nơi hỏa táng TP Khai Phong, họ điền vào nội dung như sau:
Tên chữ: Số 316.
Tên, họ người chết: Lưu Vệ Hoàng.
Giới tính: Nam.
Tuổi: 71.
Dân tộc: Hán.
Trú quán: Hồ Nam.
Nghề nghiệp của người chết: Không nghề nghiệp.
Nguyên nhân chết: Chết vì bệnh.
Ngày hỏa táng: 0 giờ ngày 14/11/1969.
Xử lý tro cốt: Để nơi hỏa táng.
Tên họ người xin: Lưu Nguyên.
Quan hệ với người chết: Bố con.
Địa chỉ người xin: Bộ đội 8122.
Ngày đăng ký: 0 giờ ngày 14/11/1969.
Người xin đóng dấu hoặc ký tên: Lưu Nguyên.
Số hộp tro cốt: 123.
Hai công nhân hỏa táng dùng vải trắng quấn chặt đầu và mặt người chết bị coi là mắc bệnh truyền nhiễm nặng rồi đẩy vào lò thiêu, khi đó họ không tài nào biết được đó chính là vị Chủ tịch nước hết lòng tận tụy nhưng lại bị oan khuất lớn lao. Là một người vô sản, người hiến dâng tất cả cho nhân dân mà người yêu quý. Người đem tất cả hiến dâng cho ĐCS lãnh đạo nước Trung Hoa mới. Song Người đã bị chụp cho 3 cái mũ: “Kẻ phản bội, nội gian (gián điệp), công tặc”, bị khai trừ Đảng vĩnh viễn. Người bị mang tội danh “Phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất toàn quốc” để rồi chết oan uổng. Từng làn khói trắng đã cuốn đi thân thể của Người. Tro cốt của LTK được đựng trong một chiếc hộp gỗ bình thường mua từ cửa hàng bán hộp đựng tro cốt, đồng thời được đặt trong phòng chứa hộp tro cốt của nơi hỏa táng Khai Phong. Nơi hỏa táng không ai biết được hộp tro số 123 là tro cốt của ai, mà những người thân của LTK càng không thể biết được LTK sống chết thế nào. Không những thế, chính ngay những người dân của TQ cũng không biết LTK đã đi hết con đường nhân sinh gập ghềnh của Người, bởi lẽ Đại Cách mạng văn hóa (CMVH) “chưa hề có trong lịch sử” vẫn tiến hành đấu tranh phê phán LTK.
Trong những năm tháng sau ngày LTK mất, sự thực đanh thép đã bào đi từng lớp da vẽ cách mạng của một số tập đoàn phản cách mạng. Tháng 9/1971, tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu diệt vong. Tháng 10/1976, tập đoàn phản cách mạng do Giang Thanh cầm đầu bị tiêu diệt. Cuộc nổi loạn 10 năm của Đại CMVH đến đây kết thúc. Tháng 12/1978, ĐCS TQ triệu tập Hội nghị toàn thể BCHTƯ lần thứ 3 khóa XI, bắt đầu nghiêm túc sửa chữa toàn diện sai lầm “tả” khuynh trong Đại CMVH, thẩm tra và giải quyết một số vụ án sai, án oan quan trọng và một số vấn đề công tội phải trái của những nhà lãnh đạo chủ chốt. Cuối cùng, ĐCS TQ đã thoát khỏi sự trói buộc lâu dài của tư tưởng “tả” khuynh, bắt đầu thanh toán triệt để sai lầm của Đại CMVH từng mang lại cho Đảng và nhân dân tai họa quá lớn, để thực hiện bước ngoặt vĩ đại mang tính lịch sử. Muốn giải quyết sai lầm của Đại CMVH, bước đột phá quan trọng nhất là phải giải quyết vấn đề án oan của LTK, bởi vì cái án oan đó không những là vấn đề cá nhân của LTK, mà ở trên thì liên quan đến lịch sử của ĐCS TQ, lịch sử của nước CHND Trung Hoa, còn ở dưới thì liên quan đến hàng ngàn, hàng vạn cán bộ và quần chúng bị liên lụy. Không giải quyết cái khâu mấu chốt đó, thì rất nhiều khâu khác không thể làm rõ được. Huống hồ rất nhiều cán bộ quần chúng trong và ngoài Đảng từ lâu đã hoài nghi và bất mãn với vụ án LTK, tới tấp viết thư gửi ĐCS TQ, yêu cầu sửa sai cho LTK.
Tháng 2/1979, BCHTƯ ĐCS TQ quyết định, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật TƯ và Ban Tổ chức TƯ phối hợp phúc tra vụ án LTK. Tháng 11, qua kiểm tra đối chiếu nghiêm túc, tỉ mỉ, chặt chẽ, chứng minh trong Đại CMVH đưa ra bản “Báo cáo thẩm tra hành vi phạm tội của kẻ phản bội, nội gián, công tặc LTK” là do Giang Thanh, Tạ Phú Trị dùng chứng cứ giả mà viết ra, nhiều tội danh trong báo cáo gán cho LTK không có một tội nào đúng sự thật. Khi Lâm Bưu, Giang Thanh tạo ra vụ án đại oan cho LTK, đã thề thốt thành khẩn, nói đó là “chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử” và coi là một “vụ án điển hình” để làm gương. Những kẻ mưu toan đó dùng tra tấn để bức cung, làm dối làm trá, góp nhặt lung tung, gò ép khiên cưỡng tạo ra những tài liệu chứng cứ giả, những tài liệu giả này không chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử. Sau 11 năm nỗi oan ức khó bề giãi tỏ của LTK, cuối cùng mới được rửa sạch. Ngày 23/2/1980, ĐCS TQ triệu tập Hội nghị toàn thể BCHTƯ lần thứ 5 khóa XI. Ngày 29/2/1980, Hội nghị thông qua Quyết nghị "về việc sửa sai cho đồng chí LTK”. Quyết nghị chỉ rõ: “Đồng chí LTK, sinh năm 1898, người huyện Ninh Hương, tỉnh Hồ Bắc. Năm 1920, gia nhập Đoàn Thanh niên XHCN TQ; năm 1921, gia nhập ĐCS TQ. Đã từng giữ chức vụ lãnh đạo quan trọng trong Đảng. Trước Đại CMVH, giữ chức Phó chủ tịch TƯ Đảng, Chủ tịch nước. Đêm hôm trước và thời kỳ đầu Đại CMVH, do lúc đó đánh giá tình hình trong Đảng và trong nước trái với thực tế, nhận định trong Đảng tồn tại một đường lối xét lại phản cách mạng đối lập với đường lối của TƯ, tồn tại một Bộ Tư lệnh giai cấp tư sản, người ta đã coi đồng chí LTK là trùm tập đoàn xét lại phản cách mạng ở trong Đảng và phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất toàn quốc; đồng thời tách rời nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng phương pháp và phương châm sai lầm, trong phạm vi toàn quốc, tiến hành cuộc đấu tranh và phê phán công khai, xóa bỏ chức vụ Phó chủ tịch TƯ Đảng và thực tế đã xóa bỏ chức vụ Chủ tịch nước của LTK. Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, lộ rõ ý đồ cướp quyền lãnh đạo cao nhất Đảng và Nhà nước, lộ rõ mục đích phản cách mạng lật đổ chuyên chính của giai cấp vô sản, không những hình thành nhận thức sai lầm và xử lý sai lầm đối với LTK, gây tác dụng lửa cháy thêm dầu cực kỳ tồi tệ, mà còn lợi dụng sai lầm đó, dựa vào đó để đánh cắp quyền lực, rắp tâm tiến hành hãm hại về chính trị và bức hại thân thể đối với LTK, đồng thời vu cáo cho một số lớn cán bộ lãnh đạo của Đảng, chính quyền, quân đội là "người đại diện của LTK”, mà đánh đổ tất cả".
“Ngày 18/12/1966, thành lập Tổ chuyên án, dưới sự trực tiếp khống chế và chỉ huy của Giang Thanh, Khang Sinh, Tạ Phú Trị, một mặt dùng tài liệu dối trá, cắt xén lời văn, bức cung và những thủ đoạn tồi tệ, báo lên TƯ; mặt khác, lại khấu bớt lời chứng của những người hiểu rõ chân tướng và những tài liệu nhiều lần bị xào xáo do những người bị cưỡng bức đưa ra chứng cứ giả, vào tháng 9/1968, về hành vi phạm tội kẻ phản bội, nội gian, công tặc của LTK. Bản “báo cáo” và “tội chứng kèm theo” là do toàn thể Hội nghị lần thứ 12 khóa VIII của Đảng thông qua, nhưng khi đó công tác của TƯ Đảng và sinh hoạt trong Đảng ở trong tình trạng hoàn toàn bất bình thường. Thông báo của Hội nghị toàn thể lần thứ 12 khóa VIII còn công bố Quyết nghị TƯ khai trừ vĩnh viễn LTK ra khỏi Đảng, xóa bỏ tất cả chức vụ trong và ngoài Đảng, đồng thời tiếp tục xem xét hành vi phạm tội của LTK và đồng bọn phản Đảng, phản quốc. Hạ tuần tháng 11, thông báo, báo cáo thẩm tra và tài liệu kèm theo nói trên do TƯ phân phát những văn kiện số 152 (năm 1968) và số 155 (năm 1968) trong toàn Đảng và truyền miệng đến quần chúng. Điều đó tạo thành vụ án oan lớn nhất toàn quốc”. Hội nghị toàn thể phúc tra tập đoàn Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh đã gán bừa cho LTK tội danh “kẻ phản bội, nội gian, công tặc” và rất nhiều hành vi phạm tội khác, Hội nghị nêu ra rất nhiều sự thật xác thực, khẳng định rõ: Mùa đông năm 1925, LTK đã bị bắt, nhưng căn bản không hề có vấn đề “một mình từ Thượng Hải chạy trốn đến Trường Sa và đầu hàng địch, phản bội”; tội danh tiến hành cái gọi là “hoạt động nội gian” tại Vũ Hán và Lư Sơn năm 1927 không phù hợp với sự thật, hoặc là vu cáo hãm hại, hoặc là hư cấu, đều không thể đứng vững được, về vấn đề gọi là “bị bắt phản bội” tại Thẩm Dương năm 1929, “qua phúc tra, những hành vi phạm tội đó đều là ngụy tạo, bịa đặt hoàn toàn”; vấn đề gọi là “kiên trì đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” và “hành vi phạm tội phản cách mạng khác” qua phúc tra “cũng đều không thể đứng vững được”, “là sự xuyên tạc lịch sử nghiêm trọng”.
LTK nằm bất động trên cáng cứu thương, để mặc họ khênh xuống máy bay, đưa vào xe cứu thương. Đêm tối đen như mực, chiếc xe cứu thương chạy vào thành phố trong gió rét. Nhưng chiếc xe cứu thương không theo lệ thường như đưa bệnh nhân vào bệnh viện, mà theo lệnh của bên hữu quan chạy vào đỗ trong một cái sân lớn của Ủy ban thành phố (TP) Khai Phong trước kia, tại phía tây đường phố Bắc Thủ, Khai Phong. Đó là một cái sân xung quanh có nhà cao tầng, tựa như giếng trời vậy, trước giải phóng là tòa nhà ngân hàng. Tòa nhà 3 tầng đứng đối mặt cao vút, kiến trúc rất kiên cố, bức tường cao của sân trông rất nghiêm ngặt. Hôm nay lại tăng thêm canh gác, đội quân hùng hậu trấn giữ, làm cho sân bao trùm một bầu không khí u ám. Sau khi chiếc xe cứu thương chạy vào trong sân, LTK bị khiêng vào một phòng tòa nhà lầu phía tây. Hộ lý và đồng chí Lý, nguyên vệ sĩ trưởng, tùy tùng từ Bắc Kinh, theo chiếc cáng vào phòng, thấy trong phòng chỉ có một chiếc giường đơn và một chiếc bàn gỗ nhỏ, ngoài ra chẳng có bày biện gì khác. Ở đây chỉ có thể gọi là phòng giam trong nhà tù, mà phạm nhân không phải là ai khác ngoài LTK đã nằm liệt không dậy được. Thực tế, LTK lúc đó bệnh đã nặng lắm. Vốn dĩ khi ở Bắc Kinh, vì viêm phổi nặng cộng với sự giày vò về tinh thần nên LTK đã không đứng lên được. Qua thời gian dài trở mình trằn trọc, LTK đã thở rất yếu, chốc lại thở hắt ra và kèm theo ho, hình dáng tiều tụy, da bọc xương. Ông cụ ngủ suốt ngày mê mệt, lúc tỉnh dậy chẳng nói một lời, ánh mắt không hồn, mặt không có biểu hiện gì. Do thân thể bị hủy hoại trong thời gian dài, ông cụ đã mất khả năng khống chế đại tiểu tiện, đến trở mình cũng không có sức, hoàn toàn dựa vào việc nuôi qua đường mũi để duy trì sinh mệnh... Đêm 10/11, LTK lại sốt cao, đến 5 tiếng đồng hồ sau mới rút cái đo nhiệt độ ra, nhiệt độ thân thể là 39,7oC, tuy không thể chẩn đoán là viêm phổi, nhưng theo cách chữa trị viêm phổi thì vẫn không được phép chở đến bệnh viện cứu chữa. Đến đêm 11, thì hai môi LTK đã tím ngắt, phản ứng hai con ngươi không còn nữa, nhiệt độ thân thể lên đến 40,1oC, nhưng mãi đến 6 giờ 40 phút ngày 12 mới có thông báo bệnh tình nguy kịch. 5 phút sau, trái tim của LTK ngừng đập, vị Chủ tịch nước CHND Trung Hoa đi hết lộ trình của một đời người cô độc, không có một người thân bên cạnh!
Sau khi LTK từ trần, nguyên vệ sĩ trưởng, lão Lý đã về Bắc Kinh nay được cử quay trở lại, cắt tóc trắng dài hơn một thước của ông cụ, mặc cho ông cụ bộ quần áo hết sức bình thường. Tiếp đó, thi hài của ông cụ bị khiêng đến ngôi nhà một tầng mái cong tòa nhà lầu phía tây để chụp ảnh, sau đó khiêng đến đặt trong một phòng nhỏ hơn cũng ở trong sân đó. 0 giờ đêm 14, có 6, 7 người đưa thi thể của LTK lên một chiếc xe Gaz 69 kiểu xe Jeep được coi là chiếc xe tang, thùng xe hơi ngắn so với chiều dài thân thể ông cụ thành thử hai chân thò cả ra ngoài. Chiếc xe ấy chở thi hài của LTK đến nơi hỏa táng nằm ở ngoại ô phía tây TP Khai Phong. Trước đó, nơi hỏa táng đã sớm nhận được thông báo, nói là có một “người chết mắc bệnh truyền nhiễm nặng” phải hỏa táng vào ban đêm, yêu cầu nơi hỏa táng chỉ để lại 2 công nhân. Sau khi chiếc xe chở thi thể đến nơi hỏa táng, hơn 20 quân nhân đặt nơi hỏa táng nho nhỏ này trong tình trạng giới nghiêm. Còn thủ tục hỏa táng do nhân viên trong tổ chuyên án đến từ Bắc Kinh lo liệu. Trong đơn xin hỏa táng tại nơi hỏa táng TP Khai Phong, họ điền vào nội dung như sau:
Tên chữ: Số 316.
Tên, họ người chết: Lưu Vệ Hoàng.
Giới tính: Nam.
Tuổi: 71.
Dân tộc: Hán.
Trú quán: Hồ Nam.
Nghề nghiệp của người chết: Không nghề nghiệp.
Nguyên nhân chết: Chết vì bệnh.
Ngày hỏa táng: 0 giờ ngày 14/11/1969.
Xử lý tro cốt: Để nơi hỏa táng.
Tên họ người xin: Lưu Nguyên.
Quan hệ với người chết: Bố con.
Địa chỉ người xin: Bộ đội 8122.
Ngày đăng ký: 0 giờ ngày 14/11/1969.
Người xin đóng dấu hoặc ký tên: Lưu Nguyên.
Số hộp tro cốt: 123.
Hai công nhân hỏa táng dùng vải trắng quấn chặt đầu và mặt người chết bị coi là mắc bệnh truyền nhiễm nặng rồi đẩy vào lò thiêu, khi đó họ không tài nào biết được đó chính là vị Chủ tịch nước hết lòng tận tụy nhưng lại bị oan khuất lớn lao. Là một người vô sản, người hiến dâng tất cả cho nhân dân mà người yêu quý. Người đem tất cả hiến dâng cho ĐCS lãnh đạo nước Trung Hoa mới. Song Người đã bị chụp cho 3 cái mũ: “Kẻ phản bội, nội gian (gián điệp), công tặc”, bị khai trừ Đảng vĩnh viễn. Người bị mang tội danh “Phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất toàn quốc” để rồi chết oan uổng. Từng làn khói trắng đã cuốn đi thân thể của Người. Tro cốt của LTK được đựng trong một chiếc hộp gỗ bình thường mua từ cửa hàng bán hộp đựng tro cốt, đồng thời được đặt trong phòng chứa hộp tro cốt của nơi hỏa táng Khai Phong. Nơi hỏa táng không ai biết được hộp tro số 123 là tro cốt của ai, mà những người thân của LTK càng không thể biết được LTK sống chết thế nào. Không những thế, chính ngay những người dân của TQ cũng không biết LTK đã đi hết con đường nhân sinh gập ghềnh của Người, bởi lẽ Đại Cách mạng văn hóa (CMVH) “chưa hề có trong lịch sử” vẫn tiến hành đấu tranh phê phán LTK.
Trong những năm tháng sau ngày LTK mất, sự thực đanh thép đã bào đi từng lớp da vẽ cách mạng của một số tập đoàn phản cách mạng. Tháng 9/1971, tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu diệt vong. Tháng 10/1976, tập đoàn phản cách mạng do Giang Thanh cầm đầu bị tiêu diệt. Cuộc nổi loạn 10 năm của Đại CMVH đến đây kết thúc. Tháng 12/1978, ĐCS TQ triệu tập Hội nghị toàn thể BCHTƯ lần thứ 3 khóa XI, bắt đầu nghiêm túc sửa chữa toàn diện sai lầm “tả” khuynh trong Đại CMVH, thẩm tra và giải quyết một số vụ án sai, án oan quan trọng và một số vấn đề công tội phải trái của những nhà lãnh đạo chủ chốt. Cuối cùng, ĐCS TQ đã thoát khỏi sự trói buộc lâu dài của tư tưởng “tả” khuynh, bắt đầu thanh toán triệt để sai lầm của Đại CMVH từng mang lại cho Đảng và nhân dân tai họa quá lớn, để thực hiện bước ngoặt vĩ đại mang tính lịch sử. Muốn giải quyết sai lầm của Đại CMVH, bước đột phá quan trọng nhất là phải giải quyết vấn đề án oan của LTK, bởi vì cái án oan đó không những là vấn đề cá nhân của LTK, mà ở trên thì liên quan đến lịch sử của ĐCS TQ, lịch sử của nước CHND Trung Hoa, còn ở dưới thì liên quan đến hàng ngàn, hàng vạn cán bộ và quần chúng bị liên lụy. Không giải quyết cái khâu mấu chốt đó, thì rất nhiều khâu khác không thể làm rõ được. Huống hồ rất nhiều cán bộ quần chúng trong và ngoài Đảng từ lâu đã hoài nghi và bất mãn với vụ án LTK, tới tấp viết thư gửi ĐCS TQ, yêu cầu sửa sai cho LTK.
Tháng 2/1979, BCHTƯ ĐCS TQ quyết định, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật TƯ và Ban Tổ chức TƯ phối hợp phúc tra vụ án LTK. Tháng 11, qua kiểm tra đối chiếu nghiêm túc, tỉ mỉ, chặt chẽ, chứng minh trong Đại CMVH đưa ra bản “Báo cáo thẩm tra hành vi phạm tội của kẻ phản bội, nội gián, công tặc LTK” là do Giang Thanh, Tạ Phú Trị dùng chứng cứ giả mà viết ra, nhiều tội danh trong báo cáo gán cho LTK không có một tội nào đúng sự thật. Khi Lâm Bưu, Giang Thanh tạo ra vụ án đại oan cho LTK, đã thề thốt thành khẩn, nói đó là “chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử” và coi là một “vụ án điển hình” để làm gương. Những kẻ mưu toan đó dùng tra tấn để bức cung, làm dối làm trá, góp nhặt lung tung, gò ép khiên cưỡng tạo ra những tài liệu chứng cứ giả, những tài liệu giả này không chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử. Sau 11 năm nỗi oan ức khó bề giãi tỏ của LTK, cuối cùng mới được rửa sạch. Ngày 23/2/1980, ĐCS TQ triệu tập Hội nghị toàn thể BCHTƯ lần thứ 5 khóa XI. Ngày 29/2/1980, Hội nghị thông qua Quyết nghị "về việc sửa sai cho đồng chí LTK”. Quyết nghị chỉ rõ: “Đồng chí LTK, sinh năm 1898, người huyện Ninh Hương, tỉnh Hồ Bắc. Năm 1920, gia nhập Đoàn Thanh niên XHCN TQ; năm 1921, gia nhập ĐCS TQ. Đã từng giữ chức vụ lãnh đạo quan trọng trong Đảng. Trước Đại CMVH, giữ chức Phó chủ tịch TƯ Đảng, Chủ tịch nước. Đêm hôm trước và thời kỳ đầu Đại CMVH, do lúc đó đánh giá tình hình trong Đảng và trong nước trái với thực tế, nhận định trong Đảng tồn tại một đường lối xét lại phản cách mạng đối lập với đường lối của TƯ, tồn tại một Bộ Tư lệnh giai cấp tư sản, người ta đã coi đồng chí LTK là trùm tập đoàn xét lại phản cách mạng ở trong Đảng và phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn nhất toàn quốc; đồng thời tách rời nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng phương pháp và phương châm sai lầm, trong phạm vi toàn quốc, tiến hành cuộc đấu tranh và phê phán công khai, xóa bỏ chức vụ Phó chủ tịch TƯ Đảng và thực tế đã xóa bỏ chức vụ Chủ tịch nước của LTK. Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, lộ rõ ý đồ cướp quyền lãnh đạo cao nhất Đảng và Nhà nước, lộ rõ mục đích phản cách mạng lật đổ chuyên chính của giai cấp vô sản, không những hình thành nhận thức sai lầm và xử lý sai lầm đối với LTK, gây tác dụng lửa cháy thêm dầu cực kỳ tồi tệ, mà còn lợi dụng sai lầm đó, dựa vào đó để đánh cắp quyền lực, rắp tâm tiến hành hãm hại về chính trị và bức hại thân thể đối với LTK, đồng thời vu cáo cho một số lớn cán bộ lãnh đạo của Đảng, chính quyền, quân đội là "người đại diện của LTK”, mà đánh đổ tất cả".
“Ngày 18/12/1966, thành lập Tổ chuyên án, dưới sự trực tiếp khống chế và chỉ huy của Giang Thanh, Khang Sinh, Tạ Phú Trị, một mặt dùng tài liệu dối trá, cắt xén lời văn, bức cung và những thủ đoạn tồi tệ, báo lên TƯ; mặt khác, lại khấu bớt lời chứng của những người hiểu rõ chân tướng và những tài liệu nhiều lần bị xào xáo do những người bị cưỡng bức đưa ra chứng cứ giả, vào tháng 9/1968, về hành vi phạm tội kẻ phản bội, nội gian, công tặc của LTK. Bản “báo cáo” và “tội chứng kèm theo” là do toàn thể Hội nghị lần thứ 12 khóa VIII của Đảng thông qua, nhưng khi đó công tác của TƯ Đảng và sinh hoạt trong Đảng ở trong tình trạng hoàn toàn bất bình thường. Thông báo của Hội nghị toàn thể lần thứ 12 khóa VIII còn công bố Quyết nghị TƯ khai trừ vĩnh viễn LTK ra khỏi Đảng, xóa bỏ tất cả chức vụ trong và ngoài Đảng, đồng thời tiếp tục xem xét hành vi phạm tội của LTK và đồng bọn phản Đảng, phản quốc. Hạ tuần tháng 11, thông báo, báo cáo thẩm tra và tài liệu kèm theo nói trên do TƯ phân phát những văn kiện số 152 (năm 1968) và số 155 (năm 1968) trong toàn Đảng và truyền miệng đến quần chúng. Điều đó tạo thành vụ án oan lớn nhất toàn quốc”. Hội nghị toàn thể phúc tra tập đoàn Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh đã gán bừa cho LTK tội danh “kẻ phản bội, nội gian, công tặc” và rất nhiều hành vi phạm tội khác, Hội nghị nêu ra rất nhiều sự thật xác thực, khẳng định rõ: Mùa đông năm 1925, LTK đã bị bắt, nhưng căn bản không hề có vấn đề “một mình từ Thượng Hải chạy trốn đến Trường Sa và đầu hàng địch, phản bội”; tội danh tiến hành cái gọi là “hoạt động nội gian” tại Vũ Hán và Lư Sơn năm 1927 không phù hợp với sự thật, hoặc là vu cáo hãm hại, hoặc là hư cấu, đều không thể đứng vững được, về vấn đề gọi là “bị bắt phản bội” tại Thẩm Dương năm 1929, “qua phúc tra, những hành vi phạm tội đó đều là ngụy tạo, bịa đặt hoàn toàn”; vấn đề gọi là “kiên trì đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” và “hành vi phạm tội phản cách mạng khác” qua phúc tra “cũng đều không thể đứng vững được”, “là sự xuyên tạc lịch sử nghiêm trọng”.

