tapcanbinh
Đẹp trai mà lại có tài
Nhắc lại câu chuyện xuất nhập dầu gắn với trường hợp Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng trong trường hợp này thì “cả doanh nghiệp xuất khẩu dầu thô và doanh nghiệp nhập khẩu dầu thô đều được lời”.
“Xuất khẩu dầu thô có lời là đương nhiên vì giá dầu tăng cao, doanh nghiệp nhập khẩu dầu thô để lọc, sản xuất rồi bán giá cao cũng có lời vì chính sách định mức lợi nhuận và các kiểu ưu đãi khác đã cam kết. Duy chỉ có người dân và nền kinh tế thiệt hại bởi phần lợi thì chia cho nước ngoài trong khi người dân và doanh nghiệp sản xuất trong nước hưởng trọn phần thiệt khi phải mua xăng dầu với giá rất cao”, ông Trinh phân tích đồng thời nhấn mạnh nếu ở đó có vấn đề về cơ chế, chính sách thì “phải sửa ngay và luôn” chứ không để điều lạ kỳ này kéo dài. Nhất là khi đối tượng hưởng lợi không phải là các doanh nghiệp Việt mà chủ yếu các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, do chính sách thu hút đầu tư của một giai đoạn trong quá khứ.
Nhìn sang câu chuyện của ngành than, TS Ngô Đức Lâm, nguyên Phó viện trưởng Viện Năng lượng VN, đồng tình rằng việc các đơn vị xuất - nhập có thể là do tính kỹ thuật, thiết kế từng nhà máy từ đầu. “Nhưng ở tầm cao hơn, vấn đề là tại sao chúng ta không thiết kế những nhà máy nhiệt điện có buồng đốt được loại than tốt mà VN có sẵn? Có thể ban đầu chi phí cao, song, phải đặt ra hết các yếu tố rủi ro từ việc phụ thuộc nguồn nhiên liệu quốc tế bởi nó ảnh hưởng lớn tới an ninh năng lượng quốc gia… Phải tính hết những yếu tố này vào để nhà nước và doanh nghiệp cùng nhau cân đối, làm sao tìm ra lời giải hợp lý nhất trong quá trình xây dựng các nhà máy điện hay lọc dầu trong tương lai”, TS Ngô Đức Lâm nhấn mạnh.
Câu chuyện này cũng có nhiều điểm tương đồng với tồn tại của dự án thép Việt Trung - một trong 12 dự án thua lỗ của ngành công thương. Trong phương án ban đầu, dự án được cấp quyền khai thác quặng Quý Xa để dùng cho nhà máy. Thế nhưng, do không tìm được sự đồng thuận với đối tác liên danh nước ngoài khiến việc đầu tư dây chuyền cán thép bị chậm trễ. Đó cũng là lý do quan trọng để dự án này xin xuất khẩu quặng vì “trong nước không có nhu cầu”.
Dẫu vậy, điểm khác biệt là ở dự án này, hiện nay Chính phủ đã rất quyết liệu yêu cầu các bên tái cơ cấu, mà trọng tâm là thực hiện tiếp các hạng mục chế biến sâu theo phương án đã có để sử dụng hiệu quả nguồn quặng trong nước, không được phép xuất khẩu.
Bình luận về vấn đề này, chuyên gia Bùi Trinh nhấn mạnh: Tài nguyên là sở hữu của toàn dân, không thể để một vài doanh nghiệp hưởng lợi, lũng đoạn mà chỉ giải thích bằng “tồn tại lịch sử” là xong.
thanhnien.vn
Việt Nam là quốc gia chủ động về nhiên liệu trong đó xăng, dầu có tới 70% mà người Dân đang sử dụng là được sản xuất bởi các nhà máy lọc hoá dầu trong nước, 30% là nhập khẩu. Việt Nam cũng là quốc gia xuất khẩu dầu thô mỗi năm hàng triệu tấn.
Tuy nhiên, các nhà máy lọc dầu ở Việt Nam có cổ phần bởi các tập đoàn nhà nước, nghĩa là lấy ngân sách quốc gia, tiền đó từ thuế của Dân.
Như nhà máy Nghi Sơn mới đây đòi doạ đóng cửa vì thiếu tiền. Nhà máy này có 25% cổ phần bởi doanh nghiệp nhà nước, Ngân sách quốc gia những năm qua rót hàng tỷ đô la vào đó để bù lỗ. Đương nhiên, nhà máy Dung Quất cũng được ngân sách bù lỗ những năm qua khó ai biết được tiền thuế bao nhiêu chảy vào đó. Chưa kể ưu đãi về thuế và các khoản khác.
Thế nhưng có một nghịch lý khó hiểu là, với sản lượng xăng dầu được đào lên từ tài nguyên quốc gia thậm chí xuất khẩu dầu thô thu về hàng tỷ đô mỗi năm, nhưng người Dân Việt Nam chúng ta lại chịu giá xăng trong top cao nhất thế giới. Đúng ra, với tài nguyên trời phú cho Việt Nam, thì người Dân phải được hưởng ưu đãi, như giá xăng dầu phải thấp nhất thế giới mới đúng chứ?
Như thằng Lào không có mỏ dầu, gần như toàn bộ xăng dầu đều nhập khẩu, thế nhưng giá xăng hiện tại vẫn thấp hơn Việt Nam? Theo tỉ giá khoảng ~24k xăng trên 1/lít ở Viên.
Vì sao vậy?
Tài nguyên quốc gia bị khai thác tận kiệt, nhưng người Dân chẳng có một chút hưởng lợi nào từ đó thì các ông đào lên làm gì?
Đã không có một chút lợi ích nào từ phần tài nguyên bị khai tác tận kiệt, vậy mà trích ngân sách hàng tỷ đô la để bù lỗ, rồi cuối cùng cũng đè Dân mà róc rỉa, thì khác nào Dân nuôi một chính phủ toàn bọn nghiện không?
Vì sao có nghịch lý ấy, câu hỏi chẳng cần câu trả lời. Đơn giản là người Việt Nam chúng ta đang nuôi một đám con nghiện để quản trị quốc gia. Chúng có thừa sự lưu manh, tàn ác nhưng bộ não thì không.
Vĩ đại, ngạo nghễ ở đâu tôi không biết nữa, chỉ biết đám lãnh đạo toàn ở biệt phủ, con cái toàn gửi đi du học trời Tây, còn Dân ta ngày ngày phải đi làm culi khắp thế giới, lao động sang cả bên Lào thì... Ngạo nghễ ở đâu vậy?
(c)
“Xuất khẩu dầu thô có lời là đương nhiên vì giá dầu tăng cao, doanh nghiệp nhập khẩu dầu thô để lọc, sản xuất rồi bán giá cao cũng có lời vì chính sách định mức lợi nhuận và các kiểu ưu đãi khác đã cam kết. Duy chỉ có người dân và nền kinh tế thiệt hại bởi phần lợi thì chia cho nước ngoài trong khi người dân và doanh nghiệp sản xuất trong nước hưởng trọn phần thiệt khi phải mua xăng dầu với giá rất cao”, ông Trinh phân tích đồng thời nhấn mạnh nếu ở đó có vấn đề về cơ chế, chính sách thì “phải sửa ngay và luôn” chứ không để điều lạ kỳ này kéo dài. Nhất là khi đối tượng hưởng lợi không phải là các doanh nghiệp Việt mà chủ yếu các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, do chính sách thu hút đầu tư của một giai đoạn trong quá khứ.
Tương tự, TS Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế, cũng nhận xét mấu chốt của vấn đề là làm sao sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên quốc gia, nhất là nguồn tài nguyên khoáng sản, năng lượng. “Để hạn chế bán thô thì chính Chính phủ phải có những chính sách tầm cao, ví dụ khuyến khích cho lọc hóa dầu phát triển, hay chí ít là ưu tiên cho nhà máy nội (ý nói lọc dầu Dung Quất) được mua. Và lời giải sự nghịch lý nếu có thì ở thượng tầng chính sách, chứ không chỉ riêng Tập đoàn dầu khí VN (PVN) hay Tổng công ty khai thác thăm dò dầu khí”, ông Thành nói.
Nhìn sang câu chuyện của ngành than, TS Ngô Đức Lâm, nguyên Phó viện trưởng Viện Năng lượng VN, đồng tình rằng việc các đơn vị xuất - nhập có thể là do tính kỹ thuật, thiết kế từng nhà máy từ đầu. “Nhưng ở tầm cao hơn, vấn đề là tại sao chúng ta không thiết kế những nhà máy nhiệt điện có buồng đốt được loại than tốt mà VN có sẵn? Có thể ban đầu chi phí cao, song, phải đặt ra hết các yếu tố rủi ro từ việc phụ thuộc nguồn nhiên liệu quốc tế bởi nó ảnh hưởng lớn tới an ninh năng lượng quốc gia… Phải tính hết những yếu tố này vào để nhà nước và doanh nghiệp cùng nhau cân đối, làm sao tìm ra lời giải hợp lý nhất trong quá trình xây dựng các nhà máy điện hay lọc dầu trong tương lai”, TS Ngô Đức Lâm nhấn mạnh.
Câu chuyện này cũng có nhiều điểm tương đồng với tồn tại của dự án thép Việt Trung - một trong 12 dự án thua lỗ của ngành công thương. Trong phương án ban đầu, dự án được cấp quyền khai thác quặng Quý Xa để dùng cho nhà máy. Thế nhưng, do không tìm được sự đồng thuận với đối tác liên danh nước ngoài khiến việc đầu tư dây chuyền cán thép bị chậm trễ. Đó cũng là lý do quan trọng để dự án này xin xuất khẩu quặng vì “trong nước không có nhu cầu”.
Dẫu vậy, điểm khác biệt là ở dự án này, hiện nay Chính phủ đã rất quyết liệu yêu cầu các bên tái cơ cấu, mà trọng tâm là thực hiện tiếp các hạng mục chế biến sâu theo phương án đã có để sử dụng hiệu quả nguồn quặng trong nước, không được phép xuất khẩu.
Bình luận về vấn đề này, chuyên gia Bùi Trinh nhấn mạnh: Tài nguyên là sở hữu của toàn dân, không thể để một vài doanh nghiệp hưởng lợi, lũng đoạn mà chỉ giải thích bằng “tồn tại lịch sử” là xong.
Bán tài nguyên mà dân không được lợi!?
Nhắc lại câu chuyện xuất nhập dầu gắn với trường hợp Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn , chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng trong trường hợp này thì “cả doanh nghiệp xuất khẩu dầu thô và doanh nghiệp nhập khẩu dầu thô đều được lời”.
Tuy nhiên, các nhà máy lọc dầu ở Việt Nam có cổ phần bởi các tập đoàn nhà nước, nghĩa là lấy ngân sách quốc gia, tiền đó từ thuế của Dân.
Như nhà máy Nghi Sơn mới đây đòi doạ đóng cửa vì thiếu tiền. Nhà máy này có 25% cổ phần bởi doanh nghiệp nhà nước, Ngân sách quốc gia những năm qua rót hàng tỷ đô la vào đó để bù lỗ. Đương nhiên, nhà máy Dung Quất cũng được ngân sách bù lỗ những năm qua khó ai biết được tiền thuế bao nhiêu chảy vào đó. Chưa kể ưu đãi về thuế và các khoản khác.
Thế nhưng có một nghịch lý khó hiểu là, với sản lượng xăng dầu được đào lên từ tài nguyên quốc gia thậm chí xuất khẩu dầu thô thu về hàng tỷ đô mỗi năm, nhưng người Dân Việt Nam chúng ta lại chịu giá xăng trong top cao nhất thế giới. Đúng ra, với tài nguyên trời phú cho Việt Nam, thì người Dân phải được hưởng ưu đãi, như giá xăng dầu phải thấp nhất thế giới mới đúng chứ?
Như thằng Lào không có mỏ dầu, gần như toàn bộ xăng dầu đều nhập khẩu, thế nhưng giá xăng hiện tại vẫn thấp hơn Việt Nam? Theo tỉ giá khoảng ~24k xăng trên 1/lít ở Viên.
Vì sao vậy?
Tài nguyên quốc gia bị khai thác tận kiệt, nhưng người Dân chẳng có một chút hưởng lợi nào từ đó thì các ông đào lên làm gì?
Đã không có một chút lợi ích nào từ phần tài nguyên bị khai tác tận kiệt, vậy mà trích ngân sách hàng tỷ đô la để bù lỗ, rồi cuối cùng cũng đè Dân mà róc rỉa, thì khác nào Dân nuôi một chính phủ toàn bọn nghiện không?
Vì sao có nghịch lý ấy, câu hỏi chẳng cần câu trả lời. Đơn giản là người Việt Nam chúng ta đang nuôi một đám con nghiện để quản trị quốc gia. Chúng có thừa sự lưu manh, tàn ác nhưng bộ não thì không.
Vĩ đại, ngạo nghễ ở đâu tôi không biết nữa, chỉ biết đám lãnh đạo toàn ở biệt phủ, con cái toàn gửi đi du học trời Tây, còn Dân ta ngày ngày phải đi làm culi khắp thế giới, lao động sang cả bên Lào thì... Ngạo nghễ ở đâu vậy?
(c)