Phong thủy thành Tây Đô khiến nhà Hồ chỉ tồn tại ngắn ngủi

hoangbach0

Phóng viên hợp đồng Xamvn
Thành Tây Đô, dân gian gọi là thành nhà Hồ, được Hồ Quý Ly xây dựng thành Kinh đô mới nhằm chuẩn bị cướp ngôi nhà Trần và chống quân Minh đang lăm le xâm lược. Có rất nhiều lời bàn về địa thế cũng như phong thủy của thành Tây Đô, cho rằng nó là một trong những điều ảnh hưởng đến sự bại vong của nhà Hồ.

185dfd166bedd66dd.jpg

Thành nhà Hồ dẫu xây kiên cố vẫn không thể chống nổi lòng dân…
Năm 1397, Hồ Quý Ly nắm mọi quyền hành trong tay, dự định dời Kinh đô về Thanh Hóa nhằm chuẩn bị cho việc lên ngôi Vua, nhiều người phản đối đều bị diệt đi. Hồ Quý Ly cho xây thành ở Thanh Hoá, đặt tên là thành Tây Đô, để phân biệt với Đông Đô (tức Thăng Long).

Hồ Quý Ly dựa vào phong thủy chọn vị trí xây thành
Về vị trí Tây Đô, Hồ Quý Ly nhận thấy ở xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa có vị trí tốt “sơn phong bát diện, lưỡng thủy hội đường”, tức bốn phía có núi non bao bọc, có 2 dòng nước tụ lại phía trước làm minh đường. Phía đông nam là núi Đốn Sơn làm tiền án, phía tây bắc lại có núi Song Tượng chầu vào, phía tây – tây nam có 6 ngọn núi đá ở khu động An Tôn. Hồ Quý Ly cho rằng đây là đất “long xà tương ngộ, thạch bàn tác ấn” có thể trụ được 60 năm. Thế nhưng thực tế khi thành Tây Đô hoàn tất năm 1401 đến khi nhà Hồ bị diệt năm 1407 thì chỉ được 6 năm.

Xem xét vị trí thành Tây Đô, long mạch đổ xuống Vân Nam, qua Sơn La thì chạy dọc theo sông Mã đến núi Tượng là dừng. Sông mã chạy uốn khúc trước khi hội với sông Bưởi, hai con sông khép lại tạo khí mạch cho thành Tây Đô. Hồ Quý Ly vì thế mà quyết định chọn nơi đây xây thành. Thế nhưng long mạch khi xuống đồng bằng lại phân tán, các sống núi chia thành các nhánh hướng thẳng vào thành, trong phong thủy gọi đây là “kiếp long”, tức hung địa.

Tại vị trí xây thành Tây Đô, các dãy núi 2 bên thành chạy thẳng xuống, xuyên vào trung tâm thành tạo nên sát khí. Nên thành xây tại đây chỉ hợp cho chiến tranh phòng thủ chứ không thể định đô lâu dài.

Khi Hồ Quy Ly chọn nơi đây xây thành, Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết đã viết thư can rằng:

Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Thăng Long có núi tản viên, có sông Lô nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ. Nay xin hãy noi theo việc trước, như quân Nguyên bị giết, như giặc Chiêm phải nạp đầu… Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nước nhà. An Tôn dất đai chật hẹp, hẻo lánh, ở nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị. Cho dù dựa thế hiểm trở thì đời xưa đã có câu: “Cốt ở đức chứ không cốt ở hiểm”.

Đại Việt Sử ký Toàn thư

Nguyễn Nhữ Thuyết trong thư đã nói rõ, vị trí xây thành ở An Tôn là chỉ “hợp với loạn mà không hợp với trị”, cuối cùng ông nhắn nhủ với Hồ Quý Ly rằng: “Cốt ở đức chứ không cốt ở hiểm”, tức chống giặc cần dựa vào “đức” làm gốc chứ không phải chỉ dựa vào nơi hiểm yếu. Tuy nhiên Hồ Quý Ly không nghe theo mà còn khép tội Nguyễn Nhữ Thuyết.

Hồ Hán Thương thì cho rằng đây là vùng đất “rồng chầu rắn cuộn” nhưng đất còn non nên chỉ là Long Xà ẩm thủy – Lục niên ký chủ (tức chỉ ở được 6 năm thôi). Tuy nhiên do Hồ Quý Ly đã quyết, mặt khác việc xây thành cần gấp rút để chuẩn bị chống quân Minh sau này nên không thể chậm trễ.

Nói thêm về thế núi
Hai bên thành trong phong thủy gọi là tả thanh long, hữu bạch hổ, hai bên Tây Đô có nhiều núi nhưng không tạo thành thế tay long tay hổ bao bọc cho thành, như vậy là long hổ không chầu.

Khi xây thành Hồ Quý Ly chọn núi Đốn sơn, hay Cung sơn (địa phương gọi là núi Đún) làm án, núi này ở chính diện cửa chính ngọ môn, cách ngọ môn 2,5 km. Hồ Quý Ly lại cho đắp một con đường từ núi này chạy thẳng qua cửa ngọ môn, con đường này tạo thành sát khí rất mạnh.

Người hiến kế cho Hồ Quý Ly làm con đường này là Trần Khát Chân. Vị tướng nhà Trần này biết rõ Hồ Quý làm thành Tây Đô, dời Kinh đô về đây chính là để cướp ngôi nhà Trần, nên ông đã khuyên:

“Chọn đất vàng để xây thành hay lắm, phía trước có Cung Sơn làm án. Thiết tưởng cung mà không có tên thì cũng như vua không có uy, theo ý thần nên đắp một con đường từ Cung Sơn chạy đến trước cửa thành Tây Đô như một mũi tên. Có cung, có tên mới đủ vẻ hùng tráng của đức Thiên tử. Đường ấy thần sẽ đặt tên là Tiễn Lộ.”

Hồ Quý Ly nghe lời nên cho làm đường, đắp đá Hoa Cương gọi là Hoa Nhai (Tiễn Lộ). Nhiều người cho rằng chính con đường này khiến nhà Hồ bị diệt nhanh chóng.

2ea778c1553fcd44d.jpg

Ô vuông màu vàng là thành Tây Đô, con đường từ núi Đốn Sơn như mũi tên đâm thẳng vào trong thành. (Ảnh: Wikipedia, CC BY-SA 3.0)
Nói thêm về thế sông
Vị trí xây thành Tây Đô là nơi hợp lưu của hai con sông Mã và sông Bưởi. Sông mã bắt nguồn từ hệ thống chi lưu Vân Nam, hợp lưu với các con suối ở xã Mường Lói (nơi biên giới Lào – Việt, thuộc Điện Biên, tỉnh Sơn La). Sông Bưởi bắt nguồn từ phía nam hồ Hòa Bình, hai con sông này đến Thanh Hóa có khí lực rất mạnh tạo nên vùng đồng bằng nơi đây.

Trong phong thủy, khí gặp thủy thì dừng. Hồ Quý Ly cho rằng xây thành ở nơi hai con sông này hợp lưu, khí mạch ắt tụ lại, chọn nơi ấy xây thành là hợp cách.

Tuy nhiên nếu xét kỹ thì thấy sông Mã khí mạch rất mạnh và hung hãn với nhiều vực sâu thác lớn. Khi đến vị trí xây thành có 2 lần uốn khúc: Lần thứ nhất là trên núi voi, nhưng vì khí lực rất mạnh vẫn chưa dừng, chảy xuống đến thị trấn Vĩnh Lộc ngày nay tức dưới chân thành thì uốn khúc lần hai, khí vẫn chưa dừng mà vẫn còn đang chạy tiếp đến khu vực thành phố Thanh Hóa ngày nay mới dừng, nên vị trí xây thành là nơi kỵ long, không ổn định, không nên định đô.

Sông Bưởi là con sông nhỏ, chạy từ Hòa bình đến, bản thân nó cũng chỉ là chi lưu cuối của sông Mã. Vì thế mà Nguyễn Như Thuyết và Hồ Hán Thương đều là những người biết phong thủy cho rằng đây là nơi “đầu non cuối nước” không phải nơi thịnh vượng.

Nói thêm về hướng
Các tài liệu cho rằng thành xây theo đúng hướng, tức “tọa tý hướng ngọ” nghĩa là phía sau là hướng chính bắc (tý), phía trước là hướng chính nam (ngọ), như thế cửa chính nằm đúng ở ngọ môn. Nhưng ngày nay dùng phương vị la bàn đo đạc thì thấy phía trước nằm ở hướng giữa 149 và 150 độ, tức là tọa hợi hướng tỵ, phía sau là hướng tây bắc, còn cửa chính phía trước ngọ môn lại ở hướng tỵ.

Cửa chính ngọ môn ở cung chính tỵ cũng là nơi nước chảy thẳng qua, trong phong thủy gọi là nước vô tình, xét về cục thì là bại địa.

Xét theo “Huyền không phi tinh”, thành xây xong vào vận 4. Tọa tinh phạm phải phục ngâm, tam mộc bích đáo hướng, đây đều là hung bại tinh nên không tốt.

*

Thành xây ở vị trí không phải nơi khí dừng, núi ở hai bên long long hổ không chầu, nước “vô tình” không dừng mà chảy mãi. Vì thế mà Đỗ Tĩnh là người phụ trách kiến trúc xây dựng, cũng như chọn đất định vị thế xây thành, tính trước thành nhà Hồ không thể bền vững, nhưng cũng đành than thở rằng:

Rồng ở vực sâu khó bay cao?
Sông phù, núi khuyết biết làm sao?
Sông cứ hướng đông mà chảy mãi
Núi ngoảnh về sau tỏ phụ phàng
Không duyên khó gặp Thiên địa hội
Trời đã biểu vậy, biết làm sao.
 
bọn Hồ không chơi ngu giết sứ nhà Minh, điều 100 vạn lính bằng cách bắt hết đàn ông từ 15 đến 60 ra trận sạch trơn, thu thuế nặng, mải chiến tranh liên miên với Champa mà không lo hồi phục đất nước mới bị Champa giã cho cách đấy hơn 10 năm... thì chấp 1000 Tả Ao với 500 Cao Biền đi tìm đất tốt cho thì cũng đéo giữ nổi triều đại.
 
Nước Đại Việt và nhà Trần tới thời Hồ Quý Ly đã suy kiệt lắm rồi. Vua Chiêm Thành nhiều lần chinh phạt Đại Việt như ra vào chốn không người, đánh chiếm Đại Việt nhiều lần, Thăng Long nhiều phen tang hoang, vua tôi chạy toán loạn. Hồ Quý Ly cũng là một nhà cải cách có tầm nhìn. Chỉ có điều do ngày xưa thời phong kiến, đạo Nho Khổng được đề cao, rằng phải trung với vua, nên hành động cướp ngôi vua hay bị định kiến, dẫn tới lòng dân không thống nhất. Chưa kể giặc phương bắc quân Minh lúc bầy giờ cũng muốn thôn tính lắm rồi. Thù trong giặc ngoài đúng là ko vực nổi
 
Nước Đại Việt và nhà Trần tới thời Hồ Quý Ly đã suy kiệt lắm rồi. Vua Chiêm Thành nhiều lần chinh phạt Đại Việt như ra vào chốn không người, đánh chiếm Đại Việt nhiều lần, Thăng Long nhiều phen tang hoang, vua tôi chạy toán loạn. Hồ Quý Ly cũng là một nhà cải cách có tầm nhìn. Chỉ có điều do ngày xưa thời phong kiến, đạo Nho Khổng được đề cao, rằng phải trung với vua, nên hành động cướp ngôi vua hay bị định kiến, dẫn tới lòng dân không thống nhất. Thù trong giặc ngoài đúng là ko vực nổi
mang tội cướp ngôi nặng lắm. Tuy nhiên thì tao nghĩ vẫn do đất nước nát quá chưa kịp hồi phục thì hơn. Vì Hồ Qúy Ly sau khi phế vua Trần làm vua được 1 thời gian ngắn thì đã truyền ngôi luôn cho Hồ Hán Thương để làm Thái thượng hoàng như nhà Trần cũ. Mà Hán Thương là con trai của Qúy Ly với công chúa Huy Ninh, con gái vua Trần Nghệ Tông -> Hán Thương là cháu ngoại Trần Nghệ Tông. Nên xem như là cuộc chuyển giao qua hôn nhân chính trị như Trần Cảnh với Lý Chiêu Hoàng rồi.
Đúng ra thì sẽ là con trưởng, Hồ Nguyên Trừng làm thái tử nhưng thanh niên này không có máu mủ quý tộc Trần.
Nhà Hồ mà trụ được lâu thì sẽ hợp thức hóa được giống nhà Trần. Có hai họ Mạc và Nguyễn dù sống lâu nhưng vẫn chịu cái tiếng cướp ngôi nhà Lê thôi. Mà cả nhà Lê thời đầu cũng còn phải dựng một thằng Trần fake làm vua để lấy danh nghĩa chống Minh cơ mà.
 
mang tội cướp ngôi nặng lắm. Tuy nhiên thì tao nghĩ vẫn do đất nước nát quá chưa kịp hồi phục thì hơn. Vì Hồ Qúy Ly sau khi phế vua Trần làm vua được 1 thời gian ngắn thì đã truyền ngôi luôn cho Hồ Hán Thương để làm Thái thượng hoàng như nhà Trần cũ. Mà Hán Thương là con trai của Qúy Ly với công chúa Huy Ninh, con gái vua Trần Nghệ Tông -> Hán Thương là cháu ngoại Trần Nghệ Tông. Nên xem như là cuộc chuyển giao qua hôn nhân chính trị như Trần Cảnh với Lý Chiêu Hoàng rồi.
Đúng ra thì sẽ là con trưởng, Hồ Nguyên Trừng làm thái tử nhưng thanh niên này không có máu mủ quý tộc Trần.
Nhà Hồ mà trụ được lâu thì sẽ hợp thức hóa được giống nhà Trần. Có hai họ Mạc và Nguyễn dù sống lâu nhưng vẫn chịu cái tiếng cướp ngôi nhà Lê thôi. Mà cả nhà Lê thời đầu cũng còn phải dựng một thằng Trần fake làm vua để lấy danh nghĩa chống Minh cơ mà.
Nói về nguyên nhân tồn vong của một triều đại thì rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan:
Như trên nói về phong thuỷ thì cũng là một cái cớ khi nhà Hồ sụp đổ để người ta đặt giả thuyết bàn luận,
Lòng dân không phục thì cũng có phần là đúng bởi nhà Hồ lúc bấy giờ rất chi là mới mẻ trong tâm thức của con dân chưa kể có rất nhiều bè phái chính trị liên tục tìm cách nhũng nhiễu, thời nào chả có,
Còn đất nước lúc đó đúng là đang quá nát rồi để Vua Chiêm Chế Bồng Nga đánh vào tận Thăng Long giết Trần Duệ Tông là biết như nào rồi đấy. Cho nên chiến tranh với Chiêm rằng co bao năm còn chưa yên ổn thì quân Minh lại tràn tới,...
Một phần nữa HQL có rất nhiều quyết sách và chính sách có thể nói là đi trước thời đại lúc bầy giờ dẫn đến nhiều thành kiến trong bộ phận từ quan lại cho đến người dân,... Vấn đề này cứ nhìn nước Tần đẩy mạnh cải cách từ thời Tần Hiếu Công là rõ đụng chạm đến lợi ích nhóm rất nhiều,...
Tóm lại chính quyền còn non trẻ, nền móng chưa vững chắc, thù trong giặc ngoài liên miên sụp đổ cũng là vấn đề tất yếu
 
Thành nhà Hồ/Tây Đô đúng là có vị trí đắc địa về phòng thủ đấy.
Hà Nội ngày xưa có tên là Đông Kinh, vậy thành nhà Hồ chính là Tây Kinh. Khi nội chiến Lê - Mạc nổ ra, vua Lê đã dời từ Sầm Nưa chật chội về thành Tây Đô này. Và dù quân Mạc đổ quân vào đánh Thanh Hoa liên tục, thành Tây kinh chưa 1 lần bị hạ. Trong khi kinh thành Thăng Long/ Đông kinh 2 lần bị Trịnh Tùng chiếm được, lần cuối xong còn bắt luôn được vua Mạc Mậu Hợp.
Lính Minh dùng thành, Lê - Trịnh cũng dùng thành này, mãi về sau này mới bị bỏ hoang chứ không phải là từ thời Hồ.

Nói rồi, đất tốt, lắm tiền, gia thế khủng chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải đủ để thành công, dù là cá nhân hay cả 1 triều đại. Giống thằng thiếu gia có bố làm to cho của nhưng chơi ngu, đầu tư ngu rồi phá hết ấy.
 
Nói về nguyên nhân tồn vong của một triều đại thì rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan:
Như trên nói về phong thuỷ thì cũng là một cái cớ khi nhà Hồ sụp đổ để người ta đặt giả thuyết bàn luận,
Lòng dân không phục thì cũng có phần là đúng bởi nhà Hồ lúc bấy giờ rất chi là mới mẻ trong tâm thức của con dân chưa kể có rất nhiều bè phái chính trị liên tục tìm cách nhũng nhiễu, thời nào chả có,
Còn đất nước lúc đó đúng là đang quá nát rồi để Vua Chiêm Chế Bồng Nga đánh vào tận Thăng Long giết Trần Duệ Tông là biết như nào rồi đấy. Cho nên chiến tranh với Chiêm rằng co bao năm còn chưa yên ổn thì quân Minh lại tràn tới,...
Một phần nữa HQL có rất nhiều quyết sách và chính sách có thể nói là đi trước thời đại lúc bầy giờ dẫn đến nhiều thành kiến trong bộ phận từ quan lại cho đến người dân,... Vấn đề này cứ nhìn nước Tần đẩy mạnh cải cách từ thời Tần Hiếu Công là rõ đụng chạm đến lợi ích nhóm rất nhiều,...
Tóm lại chính quyền còn non trẻ, nền móng chưa vững chắc, thù trong giặc ngoài liên miên sụp đổ cũng là vấn đề tất yếu
thì nếu nó khôn khôn tí, mềm dẻo để sống sót qua giai đoạn lửa thử vàng thì đã khác. Đằng này ngông nghênh, chém hết cả sứ giả Minh triều, rồi cậy có thần pháo, thành cao hào sâu mà không thèm ngó đến lính đã mệt, dân đã oán...
Hồ Qúy Ly có lẽ sẽ là minh quân trong thời bình, chứ không phải thời chiến.
 
Thành nhà Hồ/Tây Đô đúng là có vị trí đắc địa về phòng thủ đấy.
Hà Nội ngày xưa có tên là Đông Kinh, vậy thành nhà Hồ chính là Tây Kinh. Khi nội chiến Lê - Mạc nổ ra, vua Lê đã dời từ Sầm Nưa chật chội về thành Tây Đô này. Và dù quân Mạc đổ quân vào đánh Thanh Hoa liên tục, thành Tây kinh chưa 1 lần bị hạ. Trong khi kinh thành Thăng Long/ Đông kinh 2 lần bị Trịnh Tùng chiếm được, lần cuối xong còn bắt luôn được vua Mạc Mậu Hợp.
Lính Minh dùng thành, Lê - Trịnh cũng dùng thành này, mãi về sau này mới bị bỏ hoang chứ không phải là từ thời Hồ.

Nói rồi, đất tốt, lắm tiền, gia thế khủng chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải đủ để thành công, dù là cá nhân hay cả 1 triều đại. Giống thằng thiếu gia có bố làm to cho của nhưng chơi ngu, đầu tư ngu rồi phá hết ấy.
Hà Nội thời Hồ gọi là Đông Đô, còn Đông Kinh là thời Hậu Lê và Mạc nhé.
 
Hà Nội thời Hồ gọi là Đông Đô, còn Đông Kinh là thời Hậu Lê và Mạc nhé.
tao đang nói thời Lê - Mạc. Tây Đô là tên gốc, giống như Thăng Long ấy. Một số thời đéo gọi là Thăng Long nhưng người ta vẫn thích gọi tên đấy.
Giống cả Sài Gòn nữa, có phải là tên chính thức bây giờ đâu.

Trước khi Lý Công Uẩn dời đô về thì Hà Nội gọi là Đại La, dời đô xong suốt thời Lý - Trần gọi là Thăng Long. Thời Hồ gọi là Đông Đô. Thời Minh thuộc gọi là Đông Quan. Thời Lê - Mạc gọi là Đông Kinh. Sang Lê - Trịnh còn có tên dân dã là Kẻ Chợ. Sang Tây Sơn thì gọi là Bắc Thành. Đến nhà Nguyễn thì mới đổi thành Hà Nội, gọi quen mồm Hanoi suốt thời Pháp cho đến nay. Dân Hà Nội vẫn tự nhận mình là Tràng An, học đòi tên kinh đô của nhà Hán, nhưng giờ thì nó xứng đáng với cái tên Hanoy, thành phố lòng sông, phô lân bến nàn của các cắn bụ.
 
Sửa lần cuối:
thằng nào rành sử Trung Quốc, cho tao hỏi Tử Cấm Thành có phải do người Việt tên Trần An thiết kế không? với ông Hồ Nguyên Trừng có thật là giỏi về khí tài không?
 
thằng nào rành sử Trung Quốc, cho tao hỏi Tử Cấm Thành có phải do người Việt tên Trần An thiết kế không? với ông Hồ Nguyên Trừng có thật là giỏi về khí tài không?
Vai trò của Nguyễn An

Vua Minh Thành Tổ (1403 - 1424) bấy giờ đã dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (của nhà Nguyên trước đó), đổi tên là Bắc Kinh và cho xây dựng lại to đẹp hơn và đúng theo ý muốn của mình. Mặc dù Minh sử về sau viết Nguyễn An "phụng mệnh Thành Tổ xây dựng thành trì, cung điện và phủ thự trăm ty ở Bắc Kinh", nhưng Minh thực lục không hề nhắc đến đến ông dưới thời Vĩnh Lạc. Mãi đến đời Minh Anh Tông, khi thành Bắc Kinh được trùng tu, vai trò của Nguyễn An mới được đề cập. Năm Chính Thống thứ 2 (1437), ông tu sửa 9 cửa thành ngoài: Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng. Công việc trên được hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh trùng tu ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân cùng hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 âm lịch năm sau (1441) thì công việc này xong, vua Minh thưởng cho Nguyễn An 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống thứ 10 (1445), ông được giao xây lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt. Nguyễn An cho xây dựng lại hoàn toàn bằng gạch.

Vua Minh Thành Tổ cho khởi công Tử Cấm Thành vào tháng 7 năm 1406. Chủ trì xây dựng công trình gồm Trần Khuê, Công bộ Thị lang Ngô Trung, Hình bộ Thị lang Trương Tư Cung, kiến trúc sư Thái Tín. Những nghệ nhân nổi tiếng như thợ điêu khắc đá Lục Tường, thợ nề Dương Thanh và nhiều nghệ nhân khác đã đến Bắc Kinh vào tháng 5 năm đó.

Quá trình xây dựng Tử Cấm Thành mất 14 năm, huy động tới hơn một triệu nhân công. Vật liệu được sử dụng bao gồm toàn bộ gỗ quý trinh nam từ các khu rừng phía tây nam Trung Quốc và đá cẩm thạch lớn từ các mỏ đá gần Bắc Kinh. Các đại điện lớn được lát nền bằng "gạch vàng", loại gạch nung đặc biệt của Tô Châu.

Tháng 12 năm 1420, Tử Cấm Thành cơ bản hoàn thành.

---> Nguyễn An chỉ là 1 trong các kỹ sư tham gia xây dựng Tử Cấm Thành, tuy nhiên cũng phải tài năng hơn người thì mới từ thợ khéo An Nam lên làm kỹ sư xây thành được.

Còn Hồ Nguyên Trừng:

Sau khi chinh phục nhà Hồ năm 1407, những tù binh Việt Nam giỏi làm súng được đưa về thủ đô Nam Kinh cùng với các thợ thủ công khác. Khoảng 17.000 người Việt được đưa về Trung Quốc, trong đó có Hồ Nguyên Trừng. Vì là người phụ trách quân cơ dưới triều Hồ, lại giỏi làm vũ khí nên ông được vua Minh trọng dụng. Thời Minh Thành Tổ, hỏa khí Trung Quốc được cải thiện nhờ học hỏi thêm một số kỹ thuật mới từ Đại Việt. Nhà Minh thu được một loại mũi tên của người Việt gọi là "thần tiễn", họ chế tạo hàng loạt từ 1415. Họ còn học được cách cải tiến lẫy cò súng để không bị ướt nước mưa, kỹ thuật này dùng để chế tạo súng ngắn từ năm 1410. Vì ông giỏi chế tạo hỏa khí nên lại được làm quan ở bộ Công, thăng đến chức Tả Thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục. Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn nhắc đến một tình tiết: "quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng".


Tất nhiên, mọi thứ đều ghi trong Minh thực lục nên đúng hay không thì chỉ có cách dùng cỗ máy thời gian quay về kiểm chứng thôi.
 
Sửa lần cuối:
thằng nào rành sử Trung Quốc, cho tao hỏi Tử Cấm Thành có phải do người Việt tên Trần An thiết kế không? với ông Hồ Nguyên Trừng có thật là giỏi về khí tài không?
Vấn đề Tử Cấm Thành t không tìm hiểu, nhưng chỉ biết sau khi đánh bại nhà Hồ thì toàn bộ những người tài có thể dùng được thì quân Minh bê hết về nước trong đó có Nguyễn An ( Người được cho là một trong số những trúc sư thiết kế Tử Cấm Thành) và Hồ Nguyên Trừng thì khỏi bàn rồi lịch sử công nhận mà, ông là nhân vật có tài trăm năm hiếm găp.
Thử hỏi phải có là người như thế nào thi nhà Minh mới trọng dụng?
 
Vai trò của Nguyễn An

Vua Minh Thành Tổ (1403 - 1424) bấy giờ đã dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (của nhà Nguyên trước đó), đổi tên là Bắc Kinh và cho xây dựng lại to đẹp hơn và đúng theo ý muốn của mình. Mặc dù Minh sử về sau viết Nguyễn An "phụng mệnh Thành Tổ xây dựng thành trì, cung điện và phủ thự trăm ty ở Bắc Kinh", nhưng Minh thực lục không hề nhắc đến đến ông dưới thời Vĩnh Lạc. Mãi đến đời Minh Anh Tông, khi thành Bắc Kinh được trùng tu, vai trò của Nguyễn An mới được đề cập. Năm Chính Thống thứ 2 (1437), ông tu sửa 9 cửa thành ngoài: Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng. Công việc trên được hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh trùng tu ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân cùng hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 âm lịch năm sau (1441) thì công việc này xong, vua Minh thưởng cho Nguyễn An 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống thứ 10 (1445), ông được giao xây lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt. Nguyễn An cho xây dựng lại hoàn toàn bằng gạch.

Vua Minh Thành Tổ cho khởi công Tử Cấm Thành vào tháng 7 năm 1406. Chủ trì xây dựng công trình gồm Trần Khuê, Công bộ Thị lang Ngô Trung, Hình bộ Thị lang Trương Tư Cung, kiến trúc sư Thái Tín. Những nghệ nhân nổi tiếng như thợ điêu khắc đá Lục Tường, thợ nề Dương Thanh và nhiều nghệ nhân khác đã đến Bắc Kinh vào tháng 5 năm đó.

Quá trình xây dựng Tử Cấm Thành mất 14 năm, huy động tới hơn một triệu nhân công. Vật liệu được sử dụng bao gồm toàn bộ gỗ quý trinh nam từ các khu rừng phía tây nam Trung Quốc và đá cẩm thạch lớn từ các mỏ đá gần Bắc Kinh. Các đại điện lớn được lát nền bằng "gạch vàng", loại gạch nung đặc biệt của Tô Châu.

Tháng 12 năm 1420, Tử Cấm Thành cơ bản hoàn thành.

---> Nguyễn An chỉ là 1 trong các kỹ sư tham gia xây dựng Tử Cấm Thành.

Còn Hồ Nguyên Trừng:

Sau khi chinh phục nhà Hồ năm 1407, những tù binh Việt Nam giỏi làm súng được đưa về thủ đô Nam Kinh cùng với các thợ thủ công khác. Khoảng 17.000 người Việt được đưa về Trung Quốc, trong đó có Hồ Nguyên Trừng. Vì là người phụ trách quân cơ dưới triều Hồ, lại giỏi làm vũ khí nên ông được vua Minh trọng dụng. Thời Minh Thành Tổ, hỏa khí Trung Quốc được cải thiện nhờ học hỏi thêm một số kỹ thuật mới từ Đại Việt. Nhà Minh thu được một loại mũi tên của người Việt gọi là "thần tiễn", họ chế tạo hàng loạt từ 1415. Họ còn học được cách cải tiến lẫy cò súng để không bị ướt nước mưa, kỹ thuật này dùng để chế tạo súng ngắn từ năm 1410. Vì ông giỏi chế tạo hỏa khí nên lại được làm quan ở bộ Công, thăng đến chức Tả Thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục. Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn nhắc đến một tình tiết: "quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng".


Tất nhiên, mọi thứ đều ghi trong Minh thực lục nên đúng hay không thì chỉ có cách dùng cỗ máy thời gian quay về kiểm chứng thôi.
tính ra nước Nam cũng sản sinh ra những bậc kỳ tài nhỉ
 
Vấn đề Tử Cấm Thành t không tìm hiểu, nhưng chỉ biết sau khi đánh bại nhà Hồ thì toàn bộ những người tài có thể dùng được thì quân Minh bê hết về nước trong đó có Nguyễn An ( Người được cho là một trong số những trúc sư thiết kế Tử Cấm Thành) và Hồ Nguyên Trừng thì khỏi bàn rồi lịch sử công nhận mà, ông là nhân vật có tài trăm năm hiếm găp.
Thử hỏi phải có là người như thế nào thi nhà Minh mới trọng dụng?
nếu nhà Hồ mạnh về hoả lực thì sao lại thua nhà Minh vậy mày?
 
tính ra nước Nam cũng sản sinh ra những bậc kỳ tài nhỉ
người tài lúc nào chả có, chỉ là vua chúa có biết dùng hay không. Chứ cứ chuộng người nhà, người thân thì mới kéo nhau xuống hố cả nút.
Mà khốn nạn là mấy thằng Tàu cũng trọng nhân tài ta phết đấy, dù là dân tiểu quốc thù địch. Sơ sơ như Khương Công Phụ, Tuệ Tĩnh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn An, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Sơn,...

 
Thanh hóa có long mạch của dãy hilamaya kéo dài qua, nơi phát tích nhiều vua chúa nhất VN, nhưng chọn làm kinh đô thì lại mất nước sớm, trường hợp này không thể giải thích nổi.
 
nếu nhà Hồ mạnh về hoả lực thì sao lại thua nhà Minh vậy mày?
Quân dân mệt mỏi sao bao nhiêu năm loạn loạn lạc, vua tôi còn chưa hợp lòng,... Lại thêm mấy chục vạn quân Minh tràn xuống thánh nào đỡ nổi
 
Quân dân mệt mỏi sao bao nhiêu năm loạn loạn lạc, vua tôi còn chưa hợp lòng,... Lại thêm mấy chục vạn quân Minh tràn xuống thánh nào đỡ nổi
Chỉ cần Chế Bồng Nga còn sống là cha con Hồ Qúy Ly cũng bị rượt chạy vòng quanh rồi, hệt cái thời còn làm Thủ tướng rồi chạy cùng vua Trần Nghệ Tông ấy
 
Chỉ cần Chế Bồng Nga còn sống là cha con Hồ Qúy Ly cũng bị rượt chạy vòng quanh rồi, hệt cái thời còn làm Thủ tướng rồi chạy cùng vua Trần Nghệ Tông ấy
Chuẩn rồi, thời đó vua tôi bế nhau chạy mệt nghỉ, cũng may thời đó bên mình có hoả lực nên mới giết được Chế Bồng Nga
 
Thanh hóa có long mạch của dãy hilamaya kéo dài qua, nơi phát tích nhiều vua chúa nhất VN, nhưng chọn làm kinh đô thì lại mất nước sớm, trường hợp này không thể giải thích nổi.
Mà kể cả dãy Himalaya gốc thì sao cũng chỉ đẻ ra mấy thằng Bhutan, Bangladesh, Tây Tạng, Miến Điện vừa đụt đụt vừa an phận vậy tml
 

Có thể bạn quan tâm

Top