ww1 chơi chiến tranh hầm hào, rải dây thép gai + mìn, bắn pháo giữa 2 phe. Bắt đầu xuất hienj xe tăng. Kỵ chém nào hiệu quả ở ww1? Anh có nhớ lộn dấu mốc nào ko vậy?
Thấm chí là nhiều nước vẫn dùng kỵ binh trong ww2, nhưng đã ít phổ biến hơn rất nhiều so vs ww1
Một số quốc gia sau khá nổi bật về sử dụng kỵ binh trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20:
I) Quân đội Đức:
Trong giai đoạn thế chiến thứ I, kỵ binh Đức là con cưng của Kaiser Wilhelm II. Lực lượng kỵ binh Dragoons là một phần trọng yếu trong quân đội Đức.
Các đơn vị kỵ binh có trang bị căn bản là súng Carbine kỵ binh, trường thương và kiếm cong kỵ binh (cavalry sabre ). Chúng được phối thuộc rất chắc chắn với các lực lượng bộ binh chủ lực và các đơn vị pháo binh.
Nhiệm vụ căn bản của lực lượng này là trinh sát, tấn công phủ đầu, chống lại kỵ binh đối phương và chiến đấu phối thuộc với các binh chủng khác. Những chiến thuật này có nhiều điểm tương đồng với các lực lượng kỵ binh khác tại châu u. Tuy vậy, tư duy chiến lược sử dụng kỵ binh trong tác chiến hiệp đồng cho phép kỵ binh Đức có hiệu quả cao hơn đồng thời giảm thiểu được thương vong đáng kể so với kỵ binh Pháp hay Nga.
Giai đoạn Thế chiến thứ II đã cho thấy sự hiện đại hoá của kỵ binh Đức.
Các sư đoàn bộ binh chủ lực của Đức sử dụng kỵ binh cho nhiệm vụ trinh sát và liên lạc. Trong suốt giai đoạn 1939-1942, việc vận chuyển hậu cận bên cạnh vận chuyển pháo binh được thực hiện chủ yếu bởi ngựa.
Do mỗi sư đoàn của Đức là một đội quân độc lập, kỵ binh giải quyết được bài toán liên lạc giữa các sư đoàn mà không cần tuyến thông tin, đặc biệt là trên một trận tuyến dài ở cự ly lớn bên cạnh việc duy trì tiếp liệu và vận tải cho các đơn vị độc lập.
Trong cuộc xâm lược Liên Xô, ngựa đã trở nên đặc biệt quan trọng do điều kiện thời tiết mùa đông tạo bùn lầy khắc nghiệt trên thảo nguyên Đông u. Sau khi xâm lược Liên Xô năm 1941, người Đức đã thiết lập các đơn vị kỵ binh Cossack để chống lại quân đội Sô Viết.
Để chống lại các hoạt động của kỵ binh Liên Xô và các đơn vị dân quân du kích, người Đức cũng sử dụng kỵ binh cho nhiệm vụ tuần tra và bảo vệ các khu vực đóng quân.
Các đơn vị kỵ binh chiến đấu của Đức vẫn được trang bị kiếm cong kỵ binh, tuy vậy súng và lựu đạn đã trở thành trang bị chủ lực của một kỵ sĩ. Kỵ binh Đức trong Thế chiến thứ II được huấn luyện những kỹ năng chiến đấu bằng hai loại vũ khí trên trên lưng ngựa khá đặc biệt.
Kỵ binh Đức chủ yếu sử dụng ngựa để di chuyển và chiến đấu như bộ binh. Trong một số trường hợp các lực lượng này vẫn cận chiến trên lưng ngựa bằng trường thương và kiếm cong kỵ binh bên cạnh lựu đạn.
Trước sự cần thiết của kỵ binh trong cuộc xâm lược Liên Xô, người Đức đã tuyển mộ các đơn vị kỵ binh Cosack. Các đơn vị kỵ binh Cosack được thành lập tại Đông u sau năm 1941 là các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chiến đấu chủ lực trong lực lượng kỵ binh của Đức.
Kỵ binh Cossack nổi tiếng về độ hung tợn và kỹ năng chiến đấu trên lưng ngựa của mình. Khả năng di chuyển và sinh tồn trên đồng bằng Đông u của người Cossack cũng vượt trội so với nhiều giống dân khác.
II) Đế chế Nga:
Trước khi sụp đổ năm 1917, các đơn vị kỵ binh Cossack là niềm tự hào của quân đội Nga. Đây là lực lượng tinh nhuệ đóng vai trò xung kích trong những cuộc tấn công của quân đội Nga.
Kể từ thời của Sa Hoàng Ivan IV - Ivan Bạo chúa, Nga đã luôn có một lực lượng kỵ binh đáng sợ tại châu u. Các đơn vị kỵ binh Cosack đã gây ra nỗi khiếp sợ tại Đông u và để lại ảnh hưởng mạnh mẽ trong tâm lý của cư dân tại đây cho đến các thế kỷ sau.
Kỵ binh Nga trong giai đoạn thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20 được trang bị khá tốt cho chiến tranh kỵ binh. Trang bị bao gồm súng carbine kỵ binh. Những khẩu súng này có tốc độ bắn nhanh hơn cũng như trọng lượng nhẹ hơn những khẩu súng khác. Vũ khí chính của họ vẫn là trường thương và kiếm cong. Chiến thuật chính của kỵ binh Nga là bắn chế áp từ xa trước khi xung phong đồng loạt trong những đội hình hàng ngang với trường thương. Kiếm cong được sử dụng để cận chiến. Những đơn vị kỵ binh này rất nguy hiểm trên chiến trường.
Cuộc tấn công của tướng Brusilov, chiến thắng lớn nhất của Nga trong Thế chiến thứ I đã chứng kiến các đơn vị kỵ binh nặng đặc biệt tiến hành đột phá qua cửa mở đã được tạo bởi bộ binh và pháo binh. Các đơn vị này sau đó sẽ tiến hành bao vây - cô lập và tiêu diệt các vị trí phòng thủ cũng như hậu tuyến của kẻ thù.
Bên cạnh đó, chúng cũng ngăn chặn quân tiếp viện của đối phương và tiêu diệt kẻ địch rút lui.
Sau cách mạng tháng Mười năm 1917, cuộc nội chiến Nga bùng nổ. Kỵ binh là lực lượng nòng cốt trên chiến trường nước Nga.
III) Quân đội Liên Xô:
Liên Xô có một học thuyết tác chiến kỵ binh khá đồ sộ và chắc chắn. Dù ít được nhắc đến, kỵ binh Sô Viết đã hoạt động cho đến khi cuộc chiến kết thúc năm 1945.
Khác với người Đức sử dụng kỵ binh cho nhiệm vụ yểm trợ, quân đội Sô Viết sử dụng kỵ binh cho nhiệm vụ chiến đấu trên diện rộng. Các đơn vị kỵ binh độc lập đã được thiết lập với số lượng lớn. Các đơn vị này thường hoạt động quấy rối sau trận tuyến của địch. Nhờ khả năng tự chủ về tiếp tế trên thảo nguyên Đông u, các đơn vị kỵ binh độc lập thường xâm nhập vào vùng địch và hoạt động quấy rối các tuyến tiếp tế, thông tin và các đơn vị ở tuyến sau của đối phương.