Có Hình [Bàn về làm giàu theo xì tai bài trừ Do Thái] Karl Marx đã ''ăn cắp có chọn lọc'' ý tưởng của các triết gia khác (một cách vô ích) như thế nào ?

club_libertad

Giang hồ mạng 5.0
Costa-Rica
Karl Marx đã xây dựng toàn bộ hệ thống của mình trên một nền tảng đã sụp đổ trước khi ráo mực in. Thuyết Giá trị Lao động, được gã vay mượn một cách cẩu thả từ Ricardo, cho rằng chỉ có lao động mới tạo ra giá trị kinh tế. Các mày có thể kiểm chứng điều này bằng ví dụ kinh điển: Một công nhân lành nghề mất 10 tiếng để lắp ráp một chiếc máy bản đồ cầm tay. Sản phẩm này cực kỳ hữu ích và xã hội công nhận. Nhưng ngay ngày hôm sau, Apple ra mắt iPhone. Lập tức, chiếc máy bản đồ cầm tay không còn ai mua nữa, giá trị giảm về bằng 0. Trớ trêu là, thời lượng lao động của người công nhân đó vẫn là 10 tiếng, kỹ năng vẫn hoàn hảo và tại thời điểm làm ra xã hội vẫn cần sản phẩm. Lý thuyết đã bị thực tế phũ phàng cho ăn một đòn nốc ao.
Gần như cùng thời điểm Marx viết tác phẩm Das Kapital (Tư bản - quyển 1 xuất bản năm 1867), cuộc "cách mạng tiện ích biên" đã nổ ra vào những năm 1870 bởi các nhà kinh tế như Carl Menger, William Stanley Jevons và Léon Walras. Trường phái này chứng minh rằng giá trị của một hàng hóa mang tính chủ quan. Nó được quyết định bởi mức độ thỏa thuận và nhu cầu của người mua ở đơn vị sản phẩm cuối cùng (tiện ích biên) chứ không phải chi phí lao động khách quan của người bán. Như vậy, Thuyết giá trị lao động của Marx thực tế đã trở nên lỗi thời đối với kinh tế học hiện đại ngay khi nó vừa được phổ biến.
Mấu chốt của giá trị hàng hóa (bao gồm cả sản phẩm vật lý & dịch vụ) bắt nguồn từ trong tâm trí của từng người tiêu dùng cá nhân chứ không phải từ số giờ sản xuất. Menger đã chứng minh điều này vào năm 1871, cùng thập kỷ mà Marx đang xuất bản bộ Tư bản. Giá cả truyền tải thông tin mà không một nhà hoạch định trung ương nào từng nắm giữ và Marx đã hoàn toàn phớt lờ điều này. Đó là lý do tại sao mọi nền kinh tế làm theo bản thiết kế của gã, từ Liên Xô cho đến Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đều tạo ra nạn đói chứ không phải sự sung túc.
Tiếp theo là thảm họa đạo đức của Marx. Gã xem nhà nước như một lực lượng giải phóng, trong khi nhà nước (không có ngoại lệ) là một thể chế tự tài trợ thông qua sự cưỡng bức và mở rộng thông qua bạo lực. Gọi điều đó là sự giải phóng đòi hỏi một sự thiếu lương tri đạt tới cảnh giới dương vô cực.
Hạch toán xã hội chủ nghĩa là bất khả thi về mặt toán học. Marx không cung cấp cho các nhà hoạch định bất kỳ cơ chế giá cả nào. Không có giá cả đồng nghĩa việc phân bổ nguồn lực chỉ là sự đoán mò. Số lượng người tử vong trong thế kỷ XX là đáp án ko thể chuẩn xác hơn cho phép toán này.
4zGTajbmYSQ.jpeg


 
Hình như trong xàm ko có roanh nhân nào kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng thuận mua vừa bán thì phải
;))
 
VÌ SAO THỊ TRƯỜNG VẪN LUÔN LÀ BÊN THẮNG CUỘC CUỐI CÙNG DÙ NHÀ NƯỚC CỐ GẮNG XÓA SỔ THỊ TRƯỜNG ?

Khi nhà nước kiểm soát giá cả, sự khan hiếm xuất hiện.

Khi sự khan hiếm xuất hiện, thị trường chợ đen xuất hiện.

Khi hàng hóa bị phân phối định lượng, việc bán lại xuất hiện.

Khi họ cấm đoán giao thương, việc buôn lậu xuất hiện.

Khi họ trừng phạt lợi nhuận, những động lực mới xuất hiện để giao dịch bên ngoài hệ thống.

Khi một sản phẩm bị cấm, các sản phẩm thay thế sẽ xuất hiện.

Khi một đồng tiền bị phá hủy ngay cả điều đó đến từ những nguyên nhân nội tại, người dân sẽ tìm một cách khác để bảo toàn của cải của mình.

Khi nhà nước tách rời cung và cầu một cách nhân tạo, thị trường sẽ kết nối chúng lại theo một cách khác.

Khi họ cấm đoán lợi nhuận, động lực ngầm sẽ xuất hiện.

Khi họ chặn một kênh trao đổi, một kênh khác thích nghi được với xu hướng sẽ xuất hiện.

Khi họ cố gắng triệt tiêu các động lực, động lực sẽ tìm ra một lối thoát ko ngờ tới khác.

Khi họ cố gắng kiểm soát cầu, cầu sẽ tìm kiếm một nguồn cung khác.

Khi họ cố gắng kiểm soát cung, cung sẽ tìm kiếm một thị trường khác.

Khi họ cố gắng triệt tiêu thị trường, thị trường chỉ đơn giản là thay đổi sang một hình thái khác.

"THỊ TRƯỜNG LUÔN LUÔN CHIẾN THẮNG" LÀ CHÂN LÝ KO BAO GIỜ THAY ĐỔI
 
đã xàm Lồn còn viết dài ai rãnh mà vật nhau :vozvn (21): ngay câu thứ hai đã một nữa câu nói một nữa câu chửi là biết văn để định hướng dư luận
 
đã xàm lồn còn viết dài ai rãnh mà vật nhau :vozvn (21): ngay câu thứ hai đã một nữa câu nói một nữa câu chửi là biết văn để định hướng dư luận
Mày thực sự tin rằng việc làm một đám đông ngu muội và bướng bỉnh ngừng tự tin vào bản thân chúng nó là điều có thể giải quyết trong 1 sớm 1 chiều à?
=))
 
Ludwig von Mises đã chỉ ra rằng chủ nghĩa xã hội thất bại không hoàn toàn do thiếu thiện chí, do tham nhũng hay do những sai sót trong quá trình thực thi, mà là vì một vấn đề mang tính logic và cấu trúc. Trong một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, khi quyền sở hữu tư nhân đối với các tư liệu sản xuất bị xóa bỏ, các hoạt động trao đổi tự nguyện giữa những người chủ sở hữu sẽ biến mất, và cùng với đó, các mức giá thị trường thực tế cũng không còn. Nếu không có các mức giá được hình thành một cách tự do, nền kinh tế sẽ mất đi hệ thống thông tin cốt lõi của nó.
Giá cả không chỉ đơn thuần là những con số, đối với Mises chúng là những tín hiệu cô đọng thông tin rải rác về sự khan hiếm, thị hiếu, chi phí và các phương án thay thế. Trong một nền kinh tế thị trường, những nhà doanh nghiệp sử dụng giá cả để so sánh các lựa chọn, tính toán chi phí, ước tính lợi ích, và quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Quá trình này chính là điều mà Mises gọi là tính toán kinh tế, và nó là bất khả thi nếu không có giá cả hình thành từ sự trao đổi tư nhân.
Khi nhà nước thay thế thị trường bằng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, giá cả sẽ không còn phản ánh thực tế kinh tế nữa. Giá cả được "quản lý" có thể tồn tại nhưng chúng không thể hiện sự khan hiếm tương đối hay các định giá thực tế. Trong bối cảnh này, nhà hoạch định không thể biết liệu có nên xây dựng một con đường hay một tuyến đường sắt, sản xuất thép hay nhôm, đầu tư vào nhà máy này hay nhà máy khác. Sẽ không có cách thức hợp lý nào để so sánh các phương án thay thế bởi lẽ không có một đơn vị tính toán chung nào cả. Hệ quả tất yếu là sự phân bổ sai lệch các nguồn lực. Những hàng hóa mà xã hội không có nhu cầu lại được sản xuất trong khi các hàng hóa thiết yếu lại thiếu hụt; tình trạng khan hiếm và dư thừa, lãng phí nguồn lực và sự sụt giảm năng suất xuất hiện đồng thời. Sự hỗn loạn này chắc chắn không phải là ngẫu nhiên: nó là kết quả trực tiếp của việc đưa ra quyết định mà không có thông tin kinh tế chuẩn xác. Đối với Mises, sự hỗn loạn không phải là một thất bại của chủ nghĩa xã hội, mà là cách thức vận hành bình thường của nó.
Đó là lý do tại sao Mises kết luận rằng chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được như một hệ thống kinh tế phức tạp. Nó không thể lập kế hoạch một cách hiệu quả vì nó đã phá hủy cơ chế cho phép lập kế hoạch: thị trường. Không có tư hữu thì không có giá cả, không có giá cả thì không có tính toán, không có tính toán thì không có lập kế hoạch hợp lý. Kết quả cuối cùng là sự trì trệ, bần cùng hóa và các cuộc khủng hoảng tái diễn.
Tóm lại, luận điểm của Mises mang tính khoa học chứ không phải ý thức hệ: nếu không có hạch toán kinh tế thì không thể có một nền kinh tế hiện đại hoạt động bình thường. Bất kỳ hệ thống nào xóa bỏ giá cả thị trường đều cầm chắc việc phải đưa ra các quyết định một cách mù quáng, bất kể ý đồ của những người điều hành là gì. Đó chính là lý do sâu xa tại sao, các thử nghiệm xã hội chủ nghĩa đều kết thúc trong sự thất bại toàn tập về kinh tế hết lần này đến lần khác.
 
Karl Marx đã xây dựng toàn bộ hệ thống của mình trên một nền tảng đã sụp đổ trước khi ráo mực in. Thuyết Giá trị Lao động, được gã vay mượn một cách cẩu thả từ Ricardo, cho rằng chỉ có lao động mới tạo ra giá trị kinh tế. Các mày có thể kiểm chứng điều này bằng ví dụ kinh điển: Một công nhân lành nghề mất 10 tiếng để lắp ráp một chiếc máy bản đồ cầm tay. Sản phẩm này cực kỳ hữu ích và xã hội công nhận. Nhưng ngay ngày hôm sau, Apple ra mắt iPhone. Lập tức, chiếc máy bản đồ cầm tay không còn ai mua nữa, giá trị giảm về bằng 0. Trớ trêu là, thời lượng lao động của người công nhân đó vẫn là 10 tiếng, kỹ năng vẫn hoàn hảo và tại thời điểm làm ra xã hội vẫn cần sản phẩm. Lý thuyết đã bị thực tế phũ phàng cho ăn một đòn nốc ao.
Gần như cùng thời điểm Marx viết tác phẩm Das Kapital (Tư bản - quyển 1 xuất bản năm 1867), cuộc "cách mạng tiện ích biên" đã nổ ra vào những năm 1870 bởi các nhà kinh tế như Carl Menger, William Stanley Jevons và Léon Walras. Trường phái này chứng minh rằng giá trị của một hàng hóa mang tính chủ quan. Nó được quyết định bởi mức độ thỏa thuận và nhu cầu của người mua ở đơn vị sản phẩm cuối cùng (tiện ích biên) chứ không phải chi phí lao động khách quan của người bán. Như vậy, Thuyết giá trị lao động của Marx thực tế đã trở nên lỗi thời đối với kinh tế học hiện đại ngay khi nó vừa được phổ biến.
Mấu chốt của giá trị hàng hóa (bao gồm cả sản phẩm vật lý & dịch vụ) bắt nguồn từ trong tâm trí của từng người tiêu dùng cá nhân chứ không phải từ số giờ sản xuất. Menger đã chứng minh điều này vào năm 1871, cùng thập kỷ mà Marx đang xuất bản bộ Tư bản. Giá cả truyền tải thông tin mà không một nhà hoạch định trung ương nào từng nắm giữ và Marx đã hoàn toàn phớt lờ điều này. Đó là lý do tại sao mọi nền kinh tế làm theo bản thiết kế của gã, từ Liên Xô cho đến Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đều tạo ra nạn đói chứ không phải sự sung túc.
Tiếp theo là thảm họa đạo đức của Marx. Gã xem nhà nước như một lực lượng giải phóng, trong khi nhà nước (không có ngoại lệ) là một thể chế tự tài trợ thông qua sự cưỡng bức và mở rộng thông qua bạo lực. Gọi điều đó là sự giải phóng đòi hỏi một sự thiếu lương tri đạt tới cảnh giới dương vô cực.
Hạch toán xã hội chủ nghĩa là bất khả thi về mặt toán học. Marx không cung cấp cho các nhà hoạch định bất kỳ cơ chế giá cả nào. Không có giá cả đồng nghĩa việc phân bổ nguồn lực chỉ là sự đoán mò. Số lượng người tử vong trong thế kỷ XX là đáp án ko thể chuẩn xác hơn cho phép toán này.
4zGTajbmYSQ.jpeg


chatgpt plus phân tích :
Đoạn này đánh trúng một số điểm yếu quan trọng của kinh tế học Marx, nhưng có nhiều chỗ đơn giản hóa quá mức hoặc gán nhầm cho Marx những lập luận xuất hiện sau ông.

1. “Marx cho rằng cứ bỏ 10 giờ lao động thì hàng hóa có giá trị tương ứng” — sai cách diễn giải. Marx không lấy số giờ lao động cá nhân làm chuẩn mà là “thời gian lao động xã hội cần thiết” trong điều kiện sản xuất trung bình. Ông còn nói rõ: nếu một vật trở nên vô dụng thì lao động chứa trong nó cũng không được tính là lao động tạo giá trị. Vì vậy ví dụ máy bản đồ bị iPhone thay thế không trực tiếp bác được Marx: khi nhu cầu xã hội đối với máy bản đồ biến mất, sản phẩm không còn giá trị sử dụng/xã hội theo chính khuôn khổ của Marx.


2. Nhưng phê phán rộng hơn về Thuyết giá trị lao động (LTV) là có cơ sở. Cuộc cách mạng cận biên những năm 1870 với Menger, Jevons và Walras chuyển trọng tâm sang lựa chọn, độ khan hiếm và tiện ích biên, trở thành nền tảng quan trọng của kinh tế học tân cổ điển. Menger xuất bản Principles of Economics năm 1871. Kinh tế học hiện đại không dùng LTV của Marx làm lý thuyết chung để xác định giá cả. Ngoài ra, lý thuyết của Marx còn gặp transformation problem khi chuyển từ “giá trị lao động” sang giá sản xuất và tỷ suất lợi nhuận; đây là một vấn đề học thuật thực sự.


3. Câu “Menger chứng minh giá trị hoàn toàn chủ quan” hơi quá mạnh. Marginalism là một bước ngoặt lớn, nhưng giá thị trường hiện đại không được giải thích chỉ bằng “tâm trí người mua”. Nó hình thành từ tương tác giữa cầu và cung, trong đó cầu chịu ảnh hưởng của sở thích/tiện ích biên còn cung chịu ảnh hưởng của chi phí, công nghệ, khan hiếm nguồn lực, cạnh tranh v.v. Vì vậy nói “giá trị không liên quan gì đến chi phí sản xuất” cũng cực đoan gần giống chiều ngược lại.


4. “Marx phớt lờ chức năng thông tin của giá cả” — đúng một phần nhưng sai niên đại. Lập luận nổi tiếng rằng giá cả phân tán và truyền tải tri thức mà nhà hoạch định không thể tập trung đầy đủ chủ yếu gắn với Mises và Hayek sau Marx, chứ không phải cuộc tranh luận Marx–Menger. Đặc biệt, bài toán economic calculation được Mises phát triển vào thế kỷ XX: nếu tư liệu sản xuất không được giao dịch trên thị trường thì không có giá thị trường thực cho chúng, gây khó khăn cho việc so sánh các phương án sử dụng nguồn lực.


5. Vì thế câu “Hạch toán xã hội chủ nghĩa bất khả thi về mặt toán học; Marx không cung cấp cơ chế giá cả” đang trộn Marx với Socialist Calculation Debate sau này. Marx quả thực không để lại một mô hình vận hành chi tiết cho nền kinh tế kế hoạch hiện đại. Nhưng “bất khả thi về mặt toán học” không phải một định lý toán học đã được chứng minh; đó là luận đề kinh tế của Mises về việc thiếu giá thị trường cho tư liệu sản xuất.


6. “Marx xem nhà nước như lực lượng giải phóng” — không chính xác. Marx không chủ trương duy trì một nhà nước toàn năng vĩnh viễn. Trong Critique of the Gotha Programme, ông nói đến một giai đoạn chuyển tiếp chính trị giữa tư bản và ********; đồng thời phê phán quan niệm coi nhà nước như một thực thể độc lập đứng trên xã hội. Có thể phê phán việc tư tưởng này khi áp dụng đã tạo cơ sở cho quyền lực nhà nước rất lớn, nhưng đó là lập luận khác với việc nói Marx đơn giản “tôn thờ nhà nước”.


7. Yếu nhất là bước nhảy “Marx → kinh tế kế hoạch → nạn đói → chứng minh Marx sai”. Liên Xô và Trung Quốc thời Mao cung cấp bằng chứng lịch sử rất mạnh về những vấn đề của tập thể hóa cưỡng bức, kiểm soát giá, kế hoạch hóa tập trung và sai lệch thông tin. Nhưng về logic, không thể dùng riêng hậu quả đó để chứng minh toàn bộ hệ thống lý luận Marx sai; còn phải tách nguyên nhân kinh tế, thể chế, chính trị và hoàn cảnh lịch sử.



Đánh giá: Nếu dùng như một bài bút chiến chống Marx, đoạn này khá sắc bén. Nếu dùng như một bài phân tích kinh tế học nghiêm túc, nó cần sửa đáng kể. Điểm mạnh nhất là phê phán LTV và vấn đề thông tin/hạch toán của kế hoạch hóa tập trung; điểm yếu nhất là ví dụ “10 giờ lao động”, quan niệm của Marx về nhà nước và việc gán luận điểm Mises–Hayek trực tiếp cho thiếu sót mà Marx “phớt lờ”.
 
chatgpt plus phân tích :
Đoạn này đánh trúng một số điểm yếu quan trọng của kinh tế học Marx, nhưng có nhiều chỗ đơn giản hóa quá mức hoặc gán nhầm cho Marx những lập luận xuất hiện sau ông.

1. “Marx cho rằng cứ bỏ 10 giờ lao động thì hàng hóa có giá trị tương ứng” — sai cách diễn giải. Marx không lấy số giờ lao động cá nhân làm chuẩn mà là “thời gian lao động xã hội cần thiết” trong điều kiện sản xuất trung bình. Ông còn nói rõ: nếu một vật trở nên vô dụng thì lao động chứa trong nó cũng không được tính là lao động tạo giá trị. Vì vậy ví dụ máy bản đồ bị iPhone thay thế không trực tiếp bác được Marx: khi nhu cầu xã hội đối với máy bản đồ biến mất, sản phẩm không còn giá trị sử dụng/xã hội theo chính khuôn khổ của Marx.


2. Nhưng phê phán rộng hơn về Thuyết giá trị lao động (LTV) là có cơ sở. Cuộc cách mạng cận biên những năm 1870 với Menger, Jevons và Walras chuyển trọng tâm sang lựa chọn, độ khan hiếm và tiện ích biên, trở thành nền tảng quan trọng của kinh tế học tân cổ điển. Menger xuất bản Principles of Economics năm 1871. Kinh tế học hiện đại không dùng LTV của Marx làm lý thuyết chung để xác định giá cả. Ngoài ra, lý thuyết của Marx còn gặp transformation problem khi chuyển từ “giá trị lao động” sang giá sản xuất và tỷ suất lợi nhuận; đây là một vấn đề học thuật thực sự.


3. Câu “Menger chứng minh giá trị hoàn toàn chủ quan” hơi quá mạnh. Marginalism là một bước ngoặt lớn, nhưng giá thị trường hiện đại không được giải thích chỉ bằng “tâm trí người mua”. Nó hình thành từ tương tác giữa cầu và cung, trong đó cầu chịu ảnh hưởng của sở thích/tiện ích biên còn cung chịu ảnh hưởng của chi phí, công nghệ, khan hiếm nguồn lực, cạnh tranh v.v. Vì vậy nói “giá trị không liên quan gì đến chi phí sản xuất” cũng cực đoan gần giống chiều ngược lại.


4. “Marx phớt lờ chức năng thông tin của giá cả” — đúng một phần nhưng sai niên đại. Lập luận nổi tiếng rằng giá cả phân tán và truyền tải tri thức mà nhà hoạch định không thể tập trung đầy đủ chủ yếu gắn với Mises và Hayek sau Marx, chứ không phải cuộc tranh luận Marx–Menger. Đặc biệt, bài toán economic calculation được Mises phát triển vào thế kỷ XX: nếu tư liệu sản xuất không được giao dịch trên thị trường thì không có giá thị trường thực cho chúng, gây khó khăn cho việc so sánh các phương án sử dụng nguồn lực.


5. Vì thế câu “Hạch toán xã hội chủ nghĩa bất khả thi về mặt toán học; Marx không cung cấp cơ chế giá cả” đang trộn Marx với Socialist Calculation Debate sau này. Marx quả thực không để lại một mô hình vận hành chi tiết cho nền kinh tế kế hoạch hiện đại. Nhưng “bất khả thi về mặt toán học” không phải một định lý toán học đã được chứng minh; đó là luận đề kinh tế của Mises về việc thiếu giá thị trường cho tư liệu sản xuất.


6. “Marx xem nhà nước như lực lượng giải phóng” — không chính xác. Marx không chủ trương duy trì một nhà nước toàn năng vĩnh viễn. Trong Critique of the Gotha Programme, ông nói đến một giai đoạn chuyển tiếp chính trị giữa tư bản và ********; đồng thời phê phán quan niệm coi nhà nước như một thực thể độc lập đứng trên xã hội. Có thể phê phán việc tư tưởng này khi áp dụng đã tạo cơ sở cho quyền lực nhà nước rất lớn, nhưng đó là lập luận khác với việc nói Marx đơn giản “tôn thờ nhà nước”.


7. Yếu nhất là bước nhảy “Marx → kinh tế kế hoạch → nạn đói → chứng minh Marx sai”. Liên Xô và Trung Quốc thời Mao cung cấp bằng chứng lịch sử rất mạnh về những vấn đề của tập thể hóa cưỡng bức, kiểm soát giá, kế hoạch hóa tập trung và sai lệch thông tin. Nhưng về logic, không thể dùng riêng hậu quả đó để chứng minh toàn bộ hệ thống lý luận Marx sai; còn phải tách nguyên nhân kinh tế, thể chế, chính trị và hoàn cảnh lịch sử.



Đánh giá: Nếu dùng như một bài bút chiến chống Marx, đoạn này khá sắc bén. Nếu dùng như một bài phân tích kinh tế học nghiêm túc, nó cần sửa đáng kể. Điểm mạnh nhất là phê phán LTV và vấn đề thông tin/hạch toán của kế hoạch hóa tập trung; điểm yếu nhất là ví dụ “10 giờ lao động”, quan niệm của Marx về nhà nước và việc gán luận điểm Mises–Hayek trực tiếp cho thiếu sót mà Marx “phớt lờ”.
Một lập luận phổ biến của những người theo chủ nghĩa Mác: "Chủ nghĩa Mác chỉ là trao quyền lực cho giai cấp công nhân."
Thực tế: Trong mọi chế độ kongsan, quyền lực không thuộc về người lao động mà thuộc về một tầng lớp quan liêu đảng phái mới không qua bầu cử, những kẻ đã đặt ngoài vòng pháp luật các cuộc đình công, cấm các công đoàn độc lập, và quyết định nơi ở cũng như nơi làm việc của người lao động.

Mày nhờ chatbot xồn làm về điều này rồi post lên tao đọc giải trí phát
=))
 
Một lập luận phổ biến của những người theo chủ nghĩa Mác: "Chủ nghĩa Mác chỉ là trao quyền lực cho giai cấp công nhân."
Thực tế: Trong mọi chế độ kongsan, quyền lực không thuộc về người lao động mà thuộc về một tầng lớp quan liêu đảng phái mới không qua bầu cử, những kẻ đã đặt ngoài vòng pháp luật các cuộc đình công, cấm các công đoàn độc lập, và quyết định nơi ở cũng như nơi làm việc của người lao động.

Mày nhờ chatbot xồn làm về điều này rồi post lên tao đọc giải trí phát
=))
Lập luận này có cơ sở lịch sử khá mạnh, nhưng câu “trong mọi chế độ ********” quá tuyệt đối và cần phân biệt giữa lý thuyết Marx với các nhà nước Marxist-Leninist trong thực tế.

Về Marx: Marx chủ trương quyền lực chính trị chuyển sang giai cấp công nhân, với khái niệm dictatorship of the proletariat. Tuy nhiên, Marx để lại khá ít thiết kế thể chế cụ thể về cách quyền lực công nhân phải được tổ chức và kiểm soát.

Về Liên Xô: Phê phán trong đoạn văn phần lớn đúng. Sau cách mạng, quyền lực ngày càng tập trung vào Đảng Bolshevik/Đảng ********. Các tổ chức chính trị đối lập bị loại bỏ; công đoàn nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước và quyền đình công độc lập bị hạn chế nghiêm trọng. Dưới Stalin, một tầng lớp quản lý–quan liêu có quyền lực rất lớn hình thành.

“Tầng lớp quan liêu mới” không phải chỉ là cáo buộc của những người chống Marx. Chính các nhà Marxist bất đồng như Trotsky cũng phê phán quá trình quan liêu hóa Liên Xô, dù ông giải thích bản chất của tầng lớp này khác với những người chống cộng.

Trung Quốc thời Mao: tương tự ở điểm Đảng ******** độc quyền quyền lực và công đoàn không độc lập với nhà nước. Hệ thống hukou còn hạn chế mạnh khả năng thay đổi nơi cư trú và tiếp cận việc làm/phúc lợi của người dân. Tuy nhiên, nói nhà nước đơn giản “quyết định nơi ở và nơi làm việc của mọi công nhân” là khái quát quá mức.

Điểm quan trọng nhất của lập luận là principal–agent problem: ngay cả khi nhà nước tuyên bố hành động nhân danh công nhân, điều đó không đảm bảo rằng công nhân thực sự kiểm soát những người cai trị. Nếu không có bầu cử cạnh tranh, công đoàn độc lập, quyền đình công, tự do lập hội và cơ chế thay thế lãnh đạo, quyền lực rất dễ chuyển từ “giai cấp công nhân” trừu tượng → đảng đại diện công nhân → lãnh đạo đảng và bộ máy quan liêu.


Vì vậy, phiên bản chặt chẽ hơn sẽ là:

> Các nhà nước Marxist-Leninist trong lịch sử cho thấy một nghịch lý: mặc dù tuyên bố trao quyền chính trị cho giai cấp công nhân, quyền lực thực tế thường tập trung vào bộ máy Đảng–Nhà nước; trong khi chính công nhân lại thiếu nhiều công cụ độc lập để kiểm soát bộ máy đó, như công đoàn độc lập, đình công tự do và cạnh tranh chính trị.



Lập luận này mạnh hơn về mặt lịch sử và logic so với câu tuyệt đối “mọi chế độ ******** đều như vậy”.
 
1. “Marx cho rằng cứ bỏ 10 giờ lao động thì hàng hóa có giá trị tương ứng” — sai cách diễn giải. Marx không lấy số giờ lao động cá nhân làm chuẩn mà là “thời gian lao động xã hội cần thiết” trong điều kiện sản xuất trung bình. Ông còn nói rõ: nếu một vật trở nên vô dụng thì lao động chứa trong nó cũng không được tính là lao động tạo giá trị. Vì vậy ví dụ máy bản đồ bị iPhone thay thế không trực tiếp bác được Marx: khi nhu cầu xã hội đối với máy bản đồ biến mất, sản phẩm không còn giá trị sử dụng/xã hội theo chính khuôn khổ của Marx.

...
Trong nền kinh tế hiện đại, giá cả và giá trị hàng hóa bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà ở thời của Marx chưa xuất hiện hoặc chưa định hình rõ nét, cụ tỉ:
- Sự thống trị của tính độc quyền và thương hiệu: Marx giả định một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi các sản phẩm tương đồng nhau. Ngày nay, một món hàng xa xỉ (như Râu Lếch, Âu Mê Gạ) có giá cao gấp hàng trăm lần một món bình thường, dù "thời gian lao động xã hội cần thiết" để làm ra chúng không chênh lệch đến mức đó. Giá trị ở đây bị chi phối bởi thương hiệu, tính độc bản và tâm lý người tiêu dùng.
- Sự định hình của công nghệ và tài sản trí tuệ: Ngày nay, phần lớn chi phí nằm ở khâu nghiên cứu và phát triển hoặc bản quyền phần mềm (như Uyn Đâu, Âu Pừn AI). Khi đã có sản phẩm gốc, chi phí và thời gian để sao chép ra hàng triệu bản tiếp theo gần như bằng không. Điều này khiến việc đo lường bằng "thời gian lao động trung bình" thông thường trở nên rất khó khăn.
- Tác động của cung - cầu và tính chất khan hiếm của loại hàng hóa có giới hạn: Trên thị trường thực tế, giá cả trồi sụt liên tục theo quan hệ cung cầu. Những tài nguyên khan hiếm (như đất đai có vị trí đắc tài đắc lộc, các đồng tiền mã hóa có tính chiến lược) có giá trị cực cao hoàn toàn do dòng tiền và sự săn đón của thị trường, chứ không phụ thuộc vào lượng lao động bỏ ra để tạo ra chúng. :)
 
Trong nền kinh tế hiện đại, giá cả và giá trị hàng hóa bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà ở thời của Marx chưa xuất hiện hoặc chưa định hình rõ nét, cụ tỉ:
- Sự thống trị của tính độc quyền và thương hiệu: Marx giả định một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi các sản phẩm tương đồng nhau. Ngày nay, một món hàng xa xỉ (như Râu Lếch, Âu Mê Gạ) có giá cao gấp hàng trăm lần một món bình thường, dù "thời gian lao động xã hội cần thiết" để làm ra chúng không chênh lệch đến mức đó. Giá trị ở đây bị chi phối bởi thương hiệu, tính độc bản và tâm lý người tiêu dùng.
- Sự định hình của công nghệ và tài sản trí tuệ: Ngày nay, phần lớn chi phí nằm ở khâu nghiên cứu và phát triển hoặc bản quyền phần mềm (như Uyn Đâu, Âu Pừn AI). Khi đã có sản phẩm gốc, chi phí và thời gian để sao chép ra hàng triệu bản tiếp theo gần như bằng không. Điều này khiến việc đo lường bằng "thời gian lao động trung bình" thông thường trở nên rất khó khăn.
- Tác động của cung - cầu và tính chất khan hiếm của loại hàng hóa có giới hạn: Trên thị trường thực tế, giá cả trồi sụt liên tục theo quan hệ cung cầu. Những tài nguyên khan hiếm (như đất đai có vị trí đắc tài đắc lộc, các đồng tiền mã hóa có tính chiến lược) có giá trị cực cao hoàn toàn do dòng tiền và sự săn đón của thị trường, chứ không phụ thuộc vào lượng lao động bỏ ra để tạo ra chúng. :)
Cá nhân tao đánh giá Marx chỉ là thằng bồi bút kiếm sống được nhờ tài viết lách , không giống như đám bồi bút sĩ phu châu Á chỉ biết văn thơ cho vần vần , thì các tác phẩm của Marx hoàn toàn mang tính cảm tính cá nhân hơn là khoa học biện chứng , xuất phát từ lòng thương với giai tầng lao động , nhưng cái tài ở đây là biến những gì duy tính thành duy lý , và được xem là nghiên cứu khoa học cứu nhân độ thế . Gốc rễ vẫn là tư tưởng cướp của người giàu chia lại cho dân nghèo , ở châu Á bao đời nay bất kỳ cuộc nổi dậy chống vua quan nào chả mang chiêu đó ra dùng , nhưng Marx được phù phép thành 1 đại tư tưởng CM , tô vẽ thiên đường không xa nữa . Dù rõ ràng sau sự sụp đổ của LX đã chứng minh cả lý thuyết và lẫn thực tiễn cái XH không tưởng ấy là không thể , nhưng sức hút khi không làm gì mà vẫn có ăn nó vẫn hấp dẫn tới tận bây giờ . Người ta diễn dải lại Marx 1 cách lòng vòng lươn lẹo cũng chỉ là để bảo vệ lợi ích cá nhân và con cháu sau này chứ nào có quan tâm gì Marx nữa .
 

Có thể bạn quan tâm

Top