Có Hình Bắt Sống Eichmann - Hồi ký của Aharoni - Nhân viên thực địa

Otto Adolf Eichmann (19 tháng 3 năm 1906 – 1 tháng 6 năm 1962) là một SS-Obersturmbannführer (trung tá SS) của Đức Quốc xã và một trong những tổ chức gia chủ chốt của Holocaust. Eichmann được SS-Obergruppenführer (trung tướng SS) Reinhard Heydrich giao nhiệm vụ tạo điều kiện và quản lý hậu cần liên quan đến hoạt động trục xuất hàng loạt người Do Thái đến các ghetto (khu Do Thái) và các trại hủy diệt ở Đông Âu-bị-Đức-chiếm đóng trong chiến tranh thế giới thứ hai. Vào năm 1960, Eichmann bị Mossad, cơ quan tình báo Israel, bắt ở Argentina. Sau một phiên xét xử công khai rộng rãi ở Israel, Eichmann bị kết phạm tội ác chiến tranh và bị treo cổ vào năm 1962.​
4BO6a7W1.jpg

Otto Adolf Eichmann - Israel 1962
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đây là hồi ký của Zvi Aharoni, người đã quan sát thực địa và cũng là người trực tiếp thẩm vấn Eichmann trong chiến dịch khét tiếng năm 1960.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Lời nói đầu của Isser Harel - Nguyên giám đốc Mossad giai đoạn 1952-1963:

Chiến dịch bắt giữ Eichmann tại Argentina nhận được đánh giá trái chiều từ cộng đồng tình báo Israel. Một bộ phận lãnh đạo, chủ yếu từ tình báo quân sự, cho rằng Mossad đã sao nhãng nhiệm vụ chính – thu thập thông tin về các mối đe dọa Ả Rập – khi dành quá nhiều nguồn lực cho chiến dịch này, gây bất bình trong nội bộ.

Tuy nhiên, kết quả cuối cùng đã chứng minh chiến dịch hoàn toàn chính đáng. Việc bắt giữ kẻ chủ mưu trực tiếp của bộ máy diệt chủng người Do Thái không chỉ mang ý nghĩa quốc gia sâu sắc, mà cách thức thực hiện – lập kế hoạch tinh vi, quyết tâm cao độ, hoạt động sạch sẽ và hiệu quả – đã nâng cao uy tín vượt bậc của Mossad và toàn bộ cộng đồng tình báo Israel, tạo nền tảng vững chắc cho những thành công sau này.

Hàng loạt sách và tài liệu đã viết về chiến dịch Eichmann, song hầu hết đều bị ràng buộc bởi các hạn chế bảo mật, nên chưa thể trình bày đầy đủ, chính xác sự thật. Cuốn sách của Zvi Aharoni là ngoại lệ đáng kể: với tư cách nhân vật chủ chốt từ đầu đến cuối, ông mang đến cái nhìn tỉnh táo và khách quan nhất. Là nhà điều tra kỳ cựu (từng phục vụ trong FSS Anh thời Thế chiến II), Aharoni đã kiên trì theo đuổi mục tiêu qua nhiều tuần lễ, kiểm chứng tỉ mỉ mọi chi tiết, từ giai đoạn phát hiện, xác minh danh tính cho đến bắt giữ và áp giải Eichmann về Israel.

Zvi Aharoni, người từng phục vụ dưới quyền tôi nhiều năm, là một trong những sĩ quan đáng tin cậy nhất của Mossad. Ông đã thăng tiến lên một trong những vị trí cao nhất của tổ chức nhờ khả năng đánh giá tình hình chính xác, hành động quyết đoán và sự kiên trì đến cùng – không bao giờ bỏ qua chi tiết nhỏ hay chấp nhận thất bại. Ông cũng là một đồng đội xuất sắc, luôn sẵn sàng ghi nhận công lao của những người tham gia cùng mình.

Cuốn sách này của ông mang đến một góc nhìn khách quan, chân thực và bổ sung quan trọng cho câu chuyện lịch sử về việc truy bắt Adolf Eichmann và đưa hắn ra xét xử tại Israel. Không có Zvi Aharoni cùng các đồng đội của ông, chúng tôi đã không thể hoàn thành sứ mệnh ấy.
CcYmVheL.jpg

 
Chương 1: Khởi Nguyên
“Hãy trông đợi Đức Chúa Trời; hãy mạnh mẽ, bền lòng; hãy trông đợi Ngài.” – Thi Thiên / Psalms 27:14
“Ta sẽ giải tán các ngươi giữa các nước và rải các ngươi trong các xứ sở.” – Ê-xê-chi-ên / Ezekiel 22:15
'Sự hòa trộn huyết thống và sự suy giảm về các tiêu chuẩn chủng tộc là nguyên nhân duy nhất dẫn đến sự sụp đổ của tất cả các nền văn hóa, bởi vì con người không dễ bị hủy diệt bởi việc thua các cuộc chiến, mà bởi sự mất mát về sức mạnh kháng cự mà chỉ vốn được trao cho trong huyết thống thuần khiết.'
Mein Kampf - Adolf Hitler
Biên giới Đức - Hà Lan, bang Niedersachsen, năm 1938.
Gia đình Aronheim rời khỏi Đức chỉ vài tuần ngắn ngủi trước cái gọi là “Đêm kính vỡ” - Reichskristallnacht. Hermann Zvi nhớ lại:

“Tàu của chúng tôi lăn bánh về phía Amsterdam và tôi ngồi trong một toa hạng nhất. Mẹ và anh trai tôi chia sẻ một giường nằm trong toa giường. Tôi đã quyết định chọn toa riêng, vì tôi không thích ngủ chung phòng với một người lạ. Tàu khá trống trải và do đó tôi có thể có toàn bộ toa cho riêng mình để có thể duỗi người ra và ngủ. Chúng tôi đến biên giới Hà Lan khoảng hai giờ sáng. Cửa trượt vào toa của tôi được mở ra với một tiếng động lớn. Có ai đó bật đèn làm tôi bị chói mắt. Hai người Đức mặc thường phục bước vào và nói.
- Hãy xuất trình hộ chiếu!
Đó không giống một lời yêu cầu mà rõ ràng là một mệnh lệnh. Tôi đưa cho họ hộ chiếu – trang đầu tiên có dấu chữ ‘Jude’ (Do Thái) đóng nổi bật. Người cao hơn lật giở từng trang. ‘Ồ, thằng nhãi này định đi đâu đấy?’ Tôi giải thích rằng mình đang rời nước Đức để di cư sang Palestine. Phản ứng lạnh tanh đến ngay lập tức.

- À, sang Palestine cơ à? Đúng rồi, đó chính là nơi tất cả các người nên đến.

Hai người đàn ông nhìn nhau. Sau đó, người thấp hơn – rõ ràng là cấp trên – đưa ra quyết định:

- Thu dọn hết hành lý và xuống tàu ngay. Mày sẽ bị khám xét tại văn phòng trong ga.

Không chờ tôi kịp đặt câu hỏi hiển nhiên tiếp theo, người cao hơn nói thêm:

- Không, mày sẽ không được tiếp tục đi trên chuyến tàu này. Đây không có đủ thời gian để khám xét kỹ lưỡng trong vài phút tàu dừng. Nếu mọi thứ ổn thỏa, mày có thể đi tiếp bằng chuyến tàu sớm mai.
Tim tôi đập thình thịch đến mức tôi tưởng hai người họ cũng phải nghe thấy. Chuyện này không thể xảy ra được! Tôi đã ở rất gần với kế hoạch trốn thoát khỏi nước Đức Quốc xã sau bao tháng ngày chuẩn bị. Chỉ còn vài mét nữa là đến biên giới. Vậy mà ngay lúc này, hai kẻ tay sai của chế độ Hitler lại đứng đây, đe dọa phá hỏng mọi nỗ lực. Mặt khác, tôi mong mọi thứ có lẽ đúng như họ nói – chỉ là một cuộc khám người thông thường – và sáng mai tôi vẫn sẽ được lên đường.
Tôi bị một cảm giác khó tả xâm chiếm. Tôi hình dung mọi chuyện rất có thể sẽ diễn biến theo hướng tồi tệ nhất. Hàng ngày, người Do Thái từ khắp nước Đức đang biến mất vào các trại tập trung. Những lý do đưa ra luôn mơ hồ và vô lý. Nếu họ phát hiện chiếc đồng hồ vàng của ông tôi trong hành lý, điều đó hẳn đủ để buộc tội tôi âm mưu tuồn tài sản quý giá ra khỏi nước Đức. Chỉ cần một chút nghi ngờ nhỏ nhất – dù có thật hay chỉ tưởng tượng – về việc vi phạm pháp luật cũng đủ khiến tôi bị biến mất vĩnh viễn trong một trại tập trung của chúng.
Nỗi hoảng loạn dâng trào, nhưng tôi ép mình giữ bình tĩnh. Đừng để lộ cảm xúc thật, đừng để lộ nỗi sợ. Đừng tạo cớ cho họ nghi ngờ. Hãy mỉm cười và cố giữ vẻ điềm tĩnh.
Tôi không còn nhớ mình đã kiềm chế cơn hoảng loạn và đôi chân run rẩy bằng cách nào. Tôi đứng dậy với nụ cười trên môi, khoác áo choàng, lấy vali xuống từ giá hành lý. Bằng giọng nói bình thản, tôi nói với hai kẻ “thực thi pháp luật” ấy:

- Xin chờ nửa phút. Tôi chỉ cần báo cho mẹ tôi ở toa nằm bên cạnh. Tôi không muốn bà ấy lo lắng vô ích vì tôi.

Hai người vừa định rời khỏi khoang thì đột nhiên dừng lại ngay ở cửa.

- Vậy, mẹ mày đang ở toa nằm à?

Họ nhìn tôi dò xét. Người cao hơn thì thầm gì đó vào tai đồng nghiệp – có lẽ cũng là cấp trên của anh ta. Tôi nhận ra khoảnh khắc ấy, họ đang do dự.
Sau này tôi thường tự hỏi điều gì đã khiến họ thay đổi ý định. Có phải vì khoản tiền boa quá hậu hĩnh mà mẹ tôi đã cho kíp lái tàu? Có lẽ họ sẽ chia chác với ông ấy. Hay do vẻ điềm tĩnh và ngây thơ của tôi? Hay trong con người thô lỗ của viên sĩ quan thấp hơn vẫn còn chút nhân tính bị che giấu? Hay đơn giản là ngôi sao may mắn của tôi đang phù hộ? Ai mà biết được.
Người thấp hơn quay lại, bảo tôi mở vali. Ông ta chỉ lướt qua một cách qua loa những món đồ nằm trên bề mặt, không hề lục sâu xuống đáy vali. Sau đó ông đóng nắp lại, trả hộ chiếu cho tôi.

- Được rồi, ổn cả. Tận hưởng cuộc sống ở Palestine đi.

Cả hai rời khỏi khoang với nụ cười nhếch mép, rồi đóng sầm cửa trượt đến mức nó rung lên.

Tôi lau mồ hôi lạnh trên trán, vẫn chưa tin nổi vào vận may của mình. Tôi đặt lại áo khoác và vali lên giá, rồi ngồi xuống. Tôi không biết phải làm gì tiếp theo. Biết đâu hai người kia sẽ quay lại. Họ hoàn toàn có thể bắt mẹ tôi hoặc em trai tôi đi. Trong đầu tôi hiện lên đủ thứ tai họa kinh hoàng.
Sau vài phút dài như vô tận, đoàn tàu bắt đầu lăn bánh. Tôi ngả người ra thành ghế. Đến trạm dừng tiếp theo, một nhân viên hải quan Hà Lan bước vào khoang. Suýt nữa tôi đã lao vào ôm chầm lấy anh này. Lúc này tôi mới chắc chắn mình đã an toàn, và nước Đức Quốc xã đã bị bỏ lại phía sau mãi mãi.”

Cuộc hôn nhân giữa Heinrich và Eugenie Aronheim ban đầu hoàn toàn bình thường như bao gia đình Đức khác. Heinrich, một luật sư tài năng và tham vọng, xuất thân dòng dõi lâu đời, từng phục vụ trong quân đội Hoàng đế Wilhelm II, sau đó mở văn phòng luật lớn nhất Frankfurt an der Oder vào năm 1933. Ông được nông dânvùng yêu mến vì luôn lắng nghe và bảo vệ quyền lợi của họ.
Thế rồi chỉ sau một đêm, gia đình Aronheim đột ngột trở thành “kẻ thù của Nhà nước” chỉ vì mang dòng máu Do Thái. Mọi thứ sụp đổ nhanh chóng: năm 1933 ông bị tước giấy phép công chứng, năm 1935 bị cấm hành nghề luật hoàn toàn. Heinrich bị bắt, tra tấn suốt một ngày đêm và được “khuyên” rời thành phố cùng gia đình. Khi ấy, chính sách chính thức của Quốc xã vẫn là thúc đẩy người Do Thái “tự nguyện di cư” bằng mọi biện pháp. Từ 1933 đến 1938, khoảng 130.000 trong số 550.000 người Do Thái Đức đã phải bỏ nước ra đi.​

I88sl6VF.webp

Hạ nhục người Do Thái công khai - 1935

Gia đình Aronheim có ba con trai: năm 1935, Peter Michael 9 tuổi, Hermann Zvi 14 tuổi và Hans Josef 16 tuổi. Hermann Zvi nhớ lại nỗi đau thời thơ ấu với nỗi ám ảnh không phai:

“Năm 1930, khi vào lớp Một trường Friedrich-Gymnasium ở Frankfurt an der Oder, tôi là người Đức hoàn toàn. Tôi không biết gì khác ngoài nước Đức, Beethoven, Goethe đều thuộc về tôi. Thế rồi tháng 1-1933, chỉ trong một đêm, tôi đột nhiên không còn là người Đức nữa.

Ngay ngày Hitler lên nắm quyền, tôi chịu lần sỉ nhục đầu tiên. Những học sinh lớn hơn, con trai của đảng viên Quốc xã, được phép xô đẩy, hành hạ tôi mà không ai can thiệp. Đa số giáo viên đã là thành viên Đảng, một số còn đeo huy hiệu công khai.

Kinh hoàng nhất là thầy dạy Latin tên Thiede. Mỗi lần tôi trả lời sai, ông ta chậm rãi bước đến, nhìn chằm chằm rồi bất ngờ tát mạnh vào mặt. Những cú tát cực kỳ đau vì ông to lớn và khỏe. Không học sinh nào bị đánh như tôi. Tệ hơn cả đau đớn thể xác là tiếng cười khẩy của cả lớp.

Thành phố không có trường Do Thái riêng, nên tôi không thể trốn tránh. Chúng tôi phải chịu đựng sự hành hạ không ngừng. Hàng ngày vang lên khẩu hiệu “Do Thái chết đi!”, “Do Thái là kẻ thù của dân tộc”. Đến giờ tôi vẫn còn nghe văng vẳng bài hát ghê rợn: “Khi máu Do Thái phun ra từ lưỡi dao…””

Năm 1935, gia đình Aronheim rời Frankfurt an der Oder đến vùng ngoại ô Berlin với hy vọng dễ ẩn danh hơn và thuận tiện chữa bệnh cho Heinrich Aronheim. Ở tuổi 55, ông được chẩn đoán ung thư, phải cắt một quả thận và trải qua xạ trị. Tháng 5-1937, khi mọi người tưởng ông sắp bình phục thì ông đột ngột qua đời. Thời đó, bác sĩ thường không thông báo thẳng thắn về ung thư cho bệnh nhân và gia đình.

Tháng 4-1938, chính sách “chủng tộc thượng đẳng” siết chặt hơn: mọi tài sản Do Thái vượt 5.000 Reichsmark cùng toàn bộ vàng bạc, trang sức phải kê khai đầy đủ. Các cửa hàng Do Thái bị buộc ghi tên chủ bằng chữ trắng nổi bật trên cửa kính. Tuy nhiên, một số trường hợp vẫn khó nhận diện, như cửa hàng đồ da nổi tiếng Alligator trên phố Tauentzienstrasse mang tên chủ Adolph Schmidt – một cái tên thuần Đức. Để bịt lỗ hổng này, Quốc xã ban hành lệnh bắt buộc: từ đó, mọi nam giới Do Thái phải thêm tên phụ “Israel”, mọi phụ nữ Do Thái phải thêm “Sarah” vào giấy tờ.​
 
Chủ thớt có đăng sách dịch ở nền tảng nào khác ko, chắc tự dịch hoặc dùng AI rồi biên tập
 
Chương 1: Khởi Nguyên (tiếp)
Eugenie Aronheim – người mà bạn bè thân mật gọi là Lotte – hiểu rõ rằng bà và các con không còn đường quay lại. Hermann nhớ lại:

“Khi chúng tôi rời thị trấn tỉnh lẻ để chuyển đến Berlin, mọi người đã biết rõ sớm muộn gì cũng phải di cư. Nhiều năm trước, bố tôi đã mua một mảnh đất ở Palestine, và anh cả Hans Josef đã bắt đầu học tại đó từ năm 1933. Điều duy nhất níu giữ chúng tôi lại là bệnh tình của bố. Ông quá yếu, thậm chí không thể nghĩ đến chuyện di cư.”

Nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập trường Friedrich-Gymnasium ở Frankfurt (Oder) năm 1993, Hermann Aronheim được mời kể lại một trải nghiệm tiêu biểu từ thời ấy:

“Chắc là vào năm 1935, khi tôi đang học lớp năm. Ở độ tuổi mười bốn, mười lăm, chúng tôi đã phải trải qua khá nhiều giờ huấn luyện và thực hành quân sự. Một ngày đẹp trời, mọi học sinh đều bị yêu cầu bắn ba phát vào bia trong nhà thi đấu thể dục. Lớp tôi thuộc nhóm cuối cùng được thực hiện. Lúc ấy, kỷ lục đang thuộc về một học sinh lớp trên cùng với 33 điểm (tối đa có thể đạt là 36 điểm, tức ba lần 12). Tôi là một trong những người bắn cuối cùng. Hầu hết bạn cùng lớp đã hoàn thành và chưa ai vượt quá 30 điểm.

Phát bắn đầu tiên của tôi đạt 11 điểm. Hầu như không ai để tâm. Phát thứ hai là 12 điểm. Cả lớp náo loạn. Sao cơ? Thằng Do Thái lại sắp đứng đầu à? Điều đó không thể chấp nhận được. Tôi chỉ cần 10 điểm nữa là ngang kỷ lục với học sinh lớp trên. 11 hay 12 điểm sẽ đưa tôi lên ngôi đầu toàn trường. Vì thế, cả lớp đồng lòng bảo vệ danh dự chủng tộc Aryan. Chúng huýt sáo, dậm chân, gào thét, la hét. Phải bằng mọi giá làm thằng Do Thái mất tập trung. Chúng thành công. Phát thứ ba chỉ được 7 điểm và mọi thứ trở lại “bình thường”.

Mãi sáu năm sau tôi mới nhận ra khả năng bắn súng của mình không phải ngẫu nhiên. Năm 1941, trong một cuộc thi tương tự ở đơn vị Haganah – lực lượng tự vệ Do Thái tại Palestine, tôi đã giành vị trí nhất.”
l7Hh4rwO.jpg

1 lớp cấp 2 ở Đức thời Quốc xã, các học sinh được khuyến khích mặc áo quân phục và đọc báo Đảng
- 1936
Dù sống trong thời kỳ đen tối nhất, Hermann Aronheim vẫn là một trong những người may mắn hiếm có – và vận may ấy đã theo anh suốt đời. Nếu còn ở lại Đức Quốc xã, đến hè 1942 anh đã không còn trường Do Thái nào để học, vì tất cả đều bị đóng cửa. Luật Nuremberg từ lâu buộc trẻ em Do Thái từ sáu tuổi phải đeo ngôi sao vàng có chữ “Jude” trên ngực trái. Hội nghị Wannsee đã diễn ra, kế hoạch tiêu diệt toàn diện người Do Thái được khởi động. Cỗ máy diệt chủng lớn nhất lịch sử Đức đã vận hành không thể đảo ngược.

Hermann và em trai Michael thoát khỏi Holocaust nhờ người mẹ cực kỳ sáng suốt và quyết đoán. Chỉ vài tuần sau khi cha qua đời, bà Eugenie đã hành động:

“Ngọn lửa Holocaust đã bùng phát, bà lập tức nộp đơn xin di cư sang Palestine theo diện Kapitalisten-Zertifikat (giấy phép dành cho người Do Thái sở hữu tài sản tối thiểu 1.000 bảng Anh và có khả năng tự lập). Do hạn ngạch cực kỳ nghiêm ngặt – mỗi tháng chỉ cấp rất ít suất – gia đình phải chờ hơn một năm mới nhận được chứng nhận chuyển giao tài sản cho chính quyền Anh tại Palestine. Nhờ vậy, chúng tôi kịp thoát khỏi lưỡi hái tử thần.”

Cuộc di cư khỏi Đức lúc đó đã diễn ra khá suôn sẻ. Cuối cùng, hơn một nửa số người Do Thái đã trốn thoát thành công khỏi Đức Quốc xã. Chỉ riêng từ tháng 11 năm 1938 đến tháng 9 năm 1939, 115.000 người Do Thái đã ra khỏi biên giới Đức Quốc xã.

“Chỉ đến đầu tháng 9/1938, sau bao tháng ngày chuẩn bị hối hả và kiệt sức, chúng tôi mới thực sự sẵn sàng. Giờ phút chia ly đã điểm. Mẹ tôi, em trai nhỏ và tôi rời căn hộ ở Berlin, lên taxi đi ga Zoo. Đêm đã khuya. Mưa phùn và gió mạnh khiến đường phố gần như vắng tanh. Tại nhà ga, chúng tôi gặp một số người thân. Họ đến để nói lời tạm biệt trong nước mắt. Chúng tôi bỏ lại tất cả để bắt đầu cuộc đời mới ở một vùng đất xa lạ.

Họ chúc chúng tôi mọi điều tốt lành. Không ai dám đặt câu hỏi rằng, ai mới là người phải đối mặt với số phận khắc nghiệt hơn. Chúng tôi đều nhận thức rõ rằng hàng thế kỷ sinh tồn và văn hóa Do Thái trên đất Đức đang khép lại. Nhưng dĩ nhiên, không một ai có thể hình dung nổi bức tranh chi tiết về “Giải pháp Cuối cùng” sắp tới, dù là những cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Sự thật là, sau đó chúng tôi không bao giờ gặp lại bất kỳ người thân nào đã tiễn chúng tôi hôm đó. Tất cả họ đều đã chết trong thảm họa diệt chủng.”

Chúng ta hãy quay lại với Hermann Zvi và những hồi ức của ông về chuyến chạy trốn bằng tàu hỏa:

“Sáng sớm, khi đoàn tàu đến Amsterdam, không khí lại thêm phần hồi hộp. Người thân đã chờ sẵn trên sân ga. Tiếng đầu máy hơi nước rít lên và thở phì phò rồi dừng hẳn, chúng tôi mới phát hiện em trai tôi, Michael, đã biến mất.

Sau khi qua biên giới, cả nhà đã tụ họp trong toa nằm của mẹ để uống cà phê. Michael nói muốn đi dạo một vòng trên tàu để giải tỏa căng thẳng. Việc đó kéo dài hơn dự tính. Nửa giờ trước khi đến Amsterdam, mẹ bắt đầu lo lắng. Tôi cố trấn an:

- Em ấy còn có thể đi đâu được nữa? Chắc đang ở nhà vệ sinh thôi. Mẹ đừng lo, Michael sẽ về kịp.

Khi dự đoán của tôi không thành hiện thực, tôi lập tức tiến hành tìm kiếm kỹ lưỡng. Tôi mở cửa từng buồng vệ sinh một. Em tôi đã mất tích. Mẹ đã đứng trên sân ga, khóc nức nở. Người bác họ cố gắng an ủi bà một cách vô vọng.

Chỉ một lát sau, mọi lo lắng tan biến. Một nhân viên đường sắt to lớn, ria mép, tiến đến và nói gì đó bằng tiếng Hà Lan. Bác tôi lập tức dịch lại: Ở ga trước, hai toa tàu đã được tách rời, và đột nhiên một cậu bé từ trên một toa ấy nhảy xuống. Cậu bé sẽ đến bằng chuyến tàu kế tiếp trong khoảng nửa giờ nữa, và mọi chuyện diễn ra đúng như vậy. Mẹ chúng tôi ôm chầm lấy Michael như thể đã xa cách ít nhất một năm. Đó là một buổi sáng đẹp ở Amsterdam, se lạnh nhưng vẫn nắng vàng. Chúng tôi cảm thấy mình đang như trên thiên đàng.

Phần còn lại diễn ra suôn sẻ. Sau vài ngày dừng chân ở Amsterdam, chúng tôi tiếp tục hành trình sang London để gặp một người anh em họ khác của mẹ. Chúng tôi muốn tận dụng cơ hội này để gặp lại người thân, có thể là lần cuối. Chuyến đi được chi trả từ tài khoản còn lại ở Berlin. Toàn bộ số gia tài còn lại của gia đình đã bị giữ lại tại đó. Chúng tôi hoang mang, liệu có bao giờ đủ khả năng thực hiện một chuyến đi như thế nữa khi Palestine vẫn còn xa.

Từ London, chúng tôi bay sang Paris. Thời ấy, đi máy bay vẫn là chuyện hiếm lạ, chỉ dành cho những nhà thám hiểm. Thời gian rất gấp vì con tàu của chúng tôi sẽ rời Trieste vào ngày 14-9. Do đó, chúng tôi đặt ba chỗ trên một chiếc máy bay bốn động cơ “quái vật” của hãng Imperial Airways lừng danh lúc bấy giờ, chuyên bay tuyến Anh – Indonesia. Chặng dừng đầu tiên là Paris.

Từ đó, chúng tôi đáp chuyến Orient Express đến Trieste. Sáng hôm sau, chúng tôi lên một con tàu viễn dương Ý. Sau năm ngày êm ả và thư thái, cuối cùng chúng tôi đã đến nơi. Ba giờ sáng, tôi đứng một mình trên boong tàu và là người đầu tiên nhìn thấy ngọn hải đăng trên núi Carmel gần Haifa. Đêm cuối cùng của hành trình trốn chạy kéo dài ba tuần ấy, tôi không tài nào chợp mắt được. Vài giờ sau, con tàu thả neo đối diện bãi biển Tel Aviv – thành phố Do Thái duy nhất trên thế giới thời bấy giờ. Vì chưa có cảng cho tàu viễn dương, chúng tôi rời con tàu lớn bằng những chiếc xuồng máy nhỏ.
umVHCkhj.jpg

Đường phố Haifa - Palestine thuộc Anh - 1935

Chúng tôi đã đặt chân đến vùng đất hứa của mình. Suốt bao năm ở Đức, chúng tôi liên tục nghe kể về Palestine: thư từ của anh Hans Josef, lời kể của những người từng ghé thăm, phim ảnh, tạp chí… tất cả đều đầy hứa hẹn và khơi dậy niềm háo hức.

Điều kỳ lạ là dù mọi thứ ở đất nước mới này đều xa lạ, ngay từ ngày đầu tiên tôi đã có cảm giác mình trở về nhà. Tôi biết chúng tôi thuộc về nơi đây. Ở đây, làm Do Thái là điều bình thường. Chúng tôi không còn là thiểu số bị ghét bỏ. Không ai sẽ hét “Do Thái bẩn thỉu” sau lưng. Không ai sẽ mỉa mai “về Palestine đi”. Chúng tôi đã về đến nhà.”​
 
Chủ thớt có đăng sách dịch ở nền tảng nào khác ko, chắc tự dịch hoặc dùng AI rồi biên tập
Tôi đang xây dự án Wordpress có đính quảng cáo để đăng bản dịch thôi, vì cơ chế hoạt động của các web diễn đàn cũng khá hạn chế.
Các thớt trước thì tôi với cộng sự dịch, giờ có các nền tảng AI thì cũng nhàn hơn đôi chút, nhưng cá nhân tôi nghĩ thì AI chưa thể hoàn thiện được văn phong tiếng Việt ở thời điểm hiện tại.
 
ngày trước xem phim này thấy cũng hay nhưng giờ thấy bọn do thái này nó cũng khác đéo gì phát xít đâu nên nhìn lại thấy anh hoạ sĩ cũng không phải là không có lý, nếu không có anh hoạ sĩ biết đâu giờ chúng nó mới là bọn đóng vai anh hoạ sĩ.
 
Chương 1: Khởi Nguyên (tiếp)

Cuối năm 1937, hai sĩ quan SS với phong cách hoàn toàn trái ngược rời Berlin đến Palestine: Oberscharführer Herbert Hagen và Hauptscharführer Adolf Eichmann. Cả hai thuộc Sicherheitsdienst- Hauptamt (SD-Hauptamt) – tiền thân của RSHA - gọi đầy đủ là Reichssicherheitshauptamt, được thành lập năm 1939.

RSHA sau này trở thành cơ quan quyền lực tối cao, sáp nhập Gestapo và SD dưới một mái nhà, đặt trụ sở tại số 102 Wilhelmstrasse, trong cung điện cũ của hoàng tộc Hohenzollern. Đây chính là trung tâm đầu não của “con bạch tuộc” SS: từ 270 thành viên năm 1929 đã phình to thành hơn 750.000 người, mang biểu tượng đầu lâu Totenkopf và chữ rune Sieg.

Heinrich Himmler từng mô tả nguyên tắc tuyển chọn khắc nghiệt của mình: “Giống như nhà làm vườn thanh lọc giống cây đã thoái hóa, chúng tôi cũng bắt đầu bằng việc nhổ bỏ ngay những kẻ mà chỉ nhìn bề ngoài đã thấy không thể dùng để xây dựng Schutzstaffel.”
cdeILbk.jpg

Lực lượng SD tại Áo - 1940
Hai đặc vụ Hagen và Eichmann đã vượt qua vòng “chọn lọc thực vật” khắc nghiệt ấy và lúc này thuộc Phòng I – bộ phận chuyên giám sát các tổ chức Phục quốc Do Thái (Zionist). Từ đó, một cách logic, họ tiếp tục đảm nhận việc tổ chức di cư của người Do Thái. Và bằng một sự chuyển tiếp mượt mà, giai đoạn diệt chủng toàn diện sẽ diễn ra sau này.

Vậy điều gì đã khiến cả hai đặt chân đến Palestine đúng vào năm 1937?

Năm 1937, Adolf Eichmann (lúc ấy 31 tuổi) được cấp trên Reinhard Heydrich cử đi thực địa Palestine để nghiên cứu phong trào Phục quốc Do Thái, lực lượng Haganah và mô hình kibbutz. Eichmann cùng cộng sự Herbert Hagen cải trang dân sự: Eichmann đóng vai phóng viên tờ Berliner Tageblatt (báo đã bị Quốc xã tịch thu từ chủ Do Thái năm 1933), còn Hagen giả làm sinh viên. SD chi 100 bảng Anh qua tòa soạn để làm chi phí.

Hai người đi qua Ba Lan, Romania, đáp tàu hơi nước Romania đến Haifa. Tại đây, họ chỉ được phép lên bờ vài giờ, thuê xe ngựa lên núi Carmel, thăm một kibbutz gần Tel Aviv và khu định cư Đức Sarona.

Do không có giấy phép lưu trú dài hạn của chính quyền Anh và nghi bị tình báo Anh phát hiện, họ phải rời Palestine sang Ai Cập. Tại Cairo, họ chỉ kịp gặp một lần Mufti Amin al-Husseini – lãnh tụ Palestine thân Hitler. Sau hai tuần gần như vô ích, Eichmann và Hagen thất vọng trở về châu Âu bằng tàu Ý.

Sau chuyến đi thất bại, Eichmann trở về soạn báo cáo gửi Heydrich, tự nhận xét là “hoàn toàn tiêu cực, tiêu cực về mặt thực tế”. Ông trích dẫn một số người Do Thái tại Palestine rằng họ sẵn sàng vào Schulungslager (trại giáo dục) của Đức hơn là tiếp tục sống trên “Đất Hứa”. Eichmann lập luận rối rắm rằng nguyên nhân là “hỗn loạn kinh tế ở Palestine”, khiến người Do Thái “phải lừa đảo lẫn nhau vì thiếu người Aryan để giao dịch”.

Ông viết tiếp: “Đặc trưng cho sự bất lực hoàn toàn của người Do Thái trong việc quản lý một nền kinh tế trật tự tại chính quốc gia của mình là thực tế chỉ riêng Jerusalem đã có tới bốn mươi ngân hàng Do Thái tồn tại bằng cách lừa gạt đồng bào”.

Những quan sát giả khoa học về “chủng tộc Do Thái” dần trở thành nỗi ám ảnh cá nhân của Eichmann. Là kẻ chỉ quen tuân lệnh, ông luôn báo cáo theo giọng điệu cấp trên mong muốn, bất chấp sự thật, nhằm củng cố hệ ý thức chủng tộc thống trị. Eichmann – người trong bảy năm sau sẽ trở thành kiến trúc sư chính của Endlösung (Giải pháp Cuối cùng) – ngay từ những ngày đầu trong SS đã thể hiện rõ điều mà Hannah Arendt sau này gọi là “sự bình thường hóa cái ác” (banality of evil).

Trong tác phẩm gây chấn động về Eichmann ở Jerusalem, Arendt viết về tên diệt chủng này: “Một cơn gió đã thổi ông ta ra khỏi cuộc đời đơn điệu, vô danh và không địa vị, cuốn vào dòng lịch sử như ông ta hằng mong muốn – tức một phong trào luôn chuyển động không ngừng, nơi mà kẻ từng bị gia đình và xã hội coi là thất bại, vẫn có thể đường đường chính chính làm lại từ đầu và vẫn thăng tiến”.

Nhà xuất bản Gerhard Szczesny phản bác bằng lập luận sắc bén: “Hannah Arendt đã lầm khi nói về “sự bình thường hóa cái ác” và coi Eichmann là một viên chức Đức điển hình. Hàng trăm nghìn công chức Đức khác cũng đàm phán giỏi không kém, tổ chức vận chuyển đường sắt hoàn hảo không kém, đồng thời cũng có cơ hội thăng tiến nhanh chóng, vậy mà họ không gia nhập SS, cũng không huy động toa tàu chở người đến Auschwitz”.

Arendt nhấn mạnh đặc điểm nổi bật nhất trong nhân cách Eichmann là sự thiếu hoàn toàn trí tưởng tượng – nghĩa là không thể hình dung nổi nỗi đau của hàng triệu người Do Thái bị tống vào phòng hơi ngạt. Điều đáng chú ý là khi tiếp xúc trực tiếp với các chức sắc Do Thái, Eichmann lại tỏ ra khá thân thiện, lịch sự. Bản chất và quy mô từ sự dính líu của Eichmann vào cái ác vì thế tuyệt nhiên không hề tầm thường.

Eichmann, cũng như rất nhiều đồng phạm, vốn là những kẻ thất bại trong cuộc sống bình thường. Vì không đạt được gì trong xã hội dân sự, họ – theo tinh thần thời đại – trở thành Staatsterrorist (kẻ nổi loạn của nhà nước), một khái niệm mà hồi ấy chưa tồn tại. Nếu được dùng để chỉ chính mình, có lẽ Eichmann khi ấy không hiểu, và ngay cả bây giờ cũng vẫn không hiểu.

Adolf Eichmann sinh ngày 19 tháng 3 năm 1906 tại Solingen (vùng Rhineland) trong gia đình ông Adolf Karl Eichmann và bà Maria (nhũ danh Schefferling). Năm 1913, gia đình dời đến Linz (Thượng Áo) khi cha ông nhận chức vụ tại Công ty Xe điện và xe điện Linz bên sông Danube.

Thuở thiếu niên, Eichmann học cùng trường trung học Kaiser-Franz-Josef-Realgymnasium ở Linz – nơi vài thập niên trước Adolf Hitler cũng từng theo học, một sự trùng hợp ngẫu nhiên sẽ lặp lại nhiều lần trong đời ông.

Năm 1921, Eichmann tốt nghiệp trung học rồi nhập học Trường Cao đẳng Kỹ thuật Liên bang Linz, chuyên ngành Điện – Cơ khí – Xây dựng, nhưng bỏ học sau bốn học kỳ để làm việc cho công ty khai thác mỏ của cha. Doanh nghiệp này nhanh chóng thất bại. Ba tháng sau, ông chuyển sang bán radio không dây cho công ty Elektrobau Oberösterreich, rồi được cha giới thiệu làm nhân viên bán hàng lưu động cho Vacuum Oil Company tại Thượng Áo. Ở tuổi 22, Eichmann – kẻ sau này trở thành kiến trúc sư của Holocaust – ngày ngày rong ruổi chào bán “xăng Sphinx, dầu hỏa và dầu nhớt Gargoyle Mobiloil”.

Công việc bán dầu tại Vacuum Oil tạm ổn một thời gian, nhưng Eichmann sớm chán nản với việc đi chào hàng. Đến sau kỳ nghỉ lễ Hiện Xuống năm 1933, giám đốc Blum gọi ông vào thông báo cắt giảm nhân sự và chọn cậu – nhân viên đi tỉnh độc thân duy nhất – để sa thải. Eichmann thừa nhận bản thân “cảm thấy nhẹ nhõm” khi nhận quyết định ấy.

Trở về nhà với khoản trợ cấp tương đương năm tháng lương, Eichmann rơi vào tình trạng bế tắc nghề nghiệp trong khi cha đã chuyển sang buôn bán thiết bị điện. Chính trong giai đoạn này, chàng trai Adolf trẻ bị cuốn theo những lời lôi kéo của Jungfrontkämpferverband và các cuộc mít tinh Quốc xã.

Tại một buổi họp đảng ở Linz, cậu gặp lại người quen cũ của gia đình: luật sư Ernst Kaltenbrunner. Chính Kaltenbrunner – kẻ sau này nghiện rượu nặng và nổi tiếng hung bạo – đã trực tiếp thuyết phục Eichmann gia nhập SS. Không ai ngờ rằng chính Kaltenbrunner sẽ kế nhiệm Reinhard Heydrich làm Trưởng Reichssicherheitshauptamt (RSHA) từ năm 1943.

Trong đời tư, Adolf Eichmann thành công hơn hẳn so với sự nghiệp lận đận ngoài xã hội. Cậu quen một cô gái Séc đẫy đà, tóc đen tên Veronika (tức Veronika Liebl). Ngày 15-8-1931, chàng trai 25 tuổi đính hôn với cô nông dân 22 tuổi có quê gần Budweis. Bốn năm sau họ kết hôn và lần đầu có ba con trai ra đời khá sát nhau: Klaus (tháng 3-1936 tại Berlin), Horst Adolf (tháng 1-1940 tại Vienna) và Dieter Helmut (tháng 3-1942 tại Praha).
Jf4gTS.png

Veronica Eichmann, 1964 - 2 năm sau khi chồng bị chính phủ Israel treo cổ

Ngày 1-4-1932, Adolf Eichmann chính thức gia nhập NSDAP với số thẻ đảng viên 889-895 và được ghi danh vào SS, với số hiệu 45-326. Về tinh thần, cậu đã từ lâu từ bỏ ý niệm làm việc bình thường, chỉ còn sống lay lắt trong vòng đồng bọn cực hữu hẹp hòi.

Tháng 6-1933, Áo ban hành lệnh cấm hoạt động công khai đối với lực lượng “Áo nâu” (SA - Sturmabteilung), buộc tổ chức phải chuyển sang bí mật. Eichmann đột ngột nhận ra “nguồn gốc Đức” của mình và quyết định “trở về Đế chế”.

Một buổi sáng, cậu rời Linz với hộ chiếu Đức, lời chúc phúc của gia đình và giấy chứng nhận của lãnh sự Đức xác nhận Eichmann thuộc “một trong những gia đình danh giá nhất của cộng đồng Đức tại Linz”, đồng thời yêu cầu mọi cơ quan Đức hỗ trợ cậu. Người hồi hương gầy gò ấy gia nhập lực lượng cảnh sát bang Bayern tại trại Lechfeld, trở thành thành viên “Quân đoàn Áo”. Tháng 10-1933, cậu được điều sang Ban Liên lạc Reichsführer-SS tại Passau, tuần tra biên giới Áo cùng cảnh sát biên phòng.

Sau Giáng sinh 1934, đơn vị bị giải tán và hành quân đến Dachau. Lúc này Eichmann đã mang quân hàm Unterscharführer (hạ sĩ), thuộc tiểu đoàn “Deutschland” chỉ gồm người Áo. Không hài lòng, cậu nộp đơn xin chuyển sang Sicherheitsdienst des Reichsführers-SS (SD) – cơ quan tình báo mới thành lập năm 1931 – vì tưởng đó là lực lượng cận vệ. Thực tế, nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng ở Berlin thuộc về Reichssicherheitsdienst (RSD) hoàn toàn khác.

Lệnh điều động đưa Eichmann đến Berlin, phân công vào Freimaurerkartei – bộ phận lưu trữ và theo dõi Hội Tam điểm của SD-Hauptamt – một lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với ông.

Đến tuổi 29, Eichmann chuyển sang công việc “đặc biệt” hơn: Phòng Do Thái (Judenreferat II 112 mới thành lập. Nhiệm vụ đầu tiên là tóm tắt cuốn Nhà nước Do Thái của Theodor Herzl để báo cáo nội bộ SS. Sau đó, cậu được giao quản lý toàn bộ tài liệu chuyên sâu về người Do Thái hoặc do người Do Thái viết, trong đó có tờ báo tiếng Hebrew Hajnt. Eichmann tự học những con chữ lạ lẫm; đơn xin học tiếng Hebrew với một rabbi (3 mark/giờ) bị từ chối.

Cậu nổi bật nhờ cần mẫn và phục tùng tuyệt đối. Một đồng nghiệp thời đó mô tả: “một kẻ cực kỳ nhạt nhẽo, cầu toàn, tận tụy nhưng không có kiến thức chuyên môn”. Những gì thiếu về học vấn, cậu bù đắp bằng cuồng nhiệt quá mức và lòng trung thành mù quáng. Phòng II 112 dần mở rộng dưới sự chỉ huy của SS-Untersturmführer Dieter Wisliceny, 26 tuổi, con trai một điền chủ.​
 
Sửa lần cuối:
Chương 1: Khởi Nguyên (tiếp)
Với viên sĩ quan cấp dưới tận tụy Adolf Eichmann, năm 1938 trở thành năm định mệnh. Ngày 30-1, cậu được thăng cấp thiếu úy và nhận giấy khen vì “ đã nắm vững rộng rãi các phương thức tổ chức và tư tưởng của kẻ thù Do Thái”. Ngày 12-3-1938, Hitler ra lệnh sáp nhập quê hương Áo của cậu vào Đế chế. Quân Đức tiến vào với không khí lễ hội. Eichmann cũng nhận lệnh cấp trên tới Vienna. Tại cung điện bị tịch thu của nam tước ngân hàng gốc Do Thái Louis von Rothschild trên phố Prinz-Eugen-Strasse, cậu lập cơ quan đầu tiên mang tên Trung tâm Di cư Do Thái - Zentralstelle für jüdische Auswanderung.
2WvJfnlZ.jpg

Trung tâm Di cư Do Thái - Zentralstelle für jüdische Auswanderung - 1938

Tại đây, kẻ nhân viên công sở với phong thái lịch sự và thái độ lạnh lùng lần đầu tiên bắt đầu thực tập những chiến thuật mà sau này sẽ được áp dụng trên quy mô lớn. Eichmann triệu tập các thành viên Judenrat (Hội đồng Do Thái) cùng những nhân vật lãnh đạo cộng đồng Do Thái đến văn phòng và gây áp lực nặng nề. Nhờ đó, từng bước tài sản của những người Do Thái giàu có bị vơ vét, đồng thời tạo ra bầu không khí khiến sau này chính họ tự nguyện chấp nhận “tái định cư về phía Đông” – vốn thực chất là bị đưa đến các trại tiêu diệt như Auschwitz và Majdanek.

Ngay ngày quân Đức tiến vào Áo, người Do Thái trên toàn lãnh thổ đã trở thành con mồi công khai. Các cuộc bạo hành bài Do Thái bùng nổ. Eichmann và Hagen, dựa trên danh sách đã được chuẩn bị sẵn từ Berlin, tiến hành bắt giữ hàng loạt. Mục tiêu chính là phá hủy cấu trúc lãnh đạo của các tổ chức Do Thái và thu giữ toàn bộ tài liệu nội bộ. Lúc này, Eichmann đã rời bỏ công việc bàn giấy lý thuyết ở Berlin để trở thành một phần của bộ máy hành pháp: cậu có quyền ra lệnh bắt người, có quyền tống giam vào trại tập trung. Nhiệm vụ được giao là “làm sạch” Áo khỏi kẻ thù Do Thái.

Mục tiêu chính giai đoạn này vẫn là đẩy mạnh di cư cưỡng bức. Trong bản “báo cáo tình hình” gửi RSHA ngày 21-10-1938, tân trung úy - Obersturmführer - Eichmann tự hào thông báo đã đạt chỉ tiêu trục xuất 350 người Do Thái mỗi ngày. Tính đến 30-9, 38,000 người mang tín ngưỡng Do Thái đã rời khỏi Áo. Tám tháng sau, con số được thổi phồng lên 99,672 người “di cư”. Dù các thống kê rõ ràng bị phóng đại để phục vụ tuyên truyền Quốc xã, quá trình thanh lọc chủng tộc đã thực sự khởi động.

Rồi ngày 9-11-1938 đến – một ngày thứ Tư. Reichskristallnacht (Đêm kính vỡ) diễn ra. Đây là ngày mà giai đoạn “khoan dung tương đối” đối với người Do Thái chính thức khép lại. Sự nghiệp của Adolf Eichmann với tư cách kẻ giết người hàng loạt bắt đầu từ đây. Chính cậu – không ai khác – sẽ đảm nhận việc tổ chức cuộc diệt chủng công nghiệp hóa nhằm xóa sổ hoàn toàn một dân tộc.
WJ0r1t4.jpg

Áp giải người Do Thái - 1938 - Berlin
--------------------------------------------------------------------

 
Chương 2: Holocaust
"Cả xứ này sẽ trở nên chốn hoang tàn, ghê tởm, các dân tộc này sẽ phải phục dịch vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm"
Giê-rê-mi/Jeremiah 25:11

“Vụ sát hại khoảng sáu triệu người Do Thái bởi chế độ Quốc xã là một trong những tội ác được ghi chép đầy đủ nhất trong lịch sử loài người - The murder of approximately six million Jews by the Nazi regime is one of the most thoroughly documented crimes in human history.”
Trích tuyên cáo của tòa án Nuremberg 1945-1946.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngày 7 tháng 11 năm 1938, Herschel Grynszpan – cậu bé Do Thái gốc Ba Lan 17 tuổi đang sống lưu vong tại Paris – nhận được thư cha từ biên giới Đức-Ba Lan. Thư kể rằng phát xít Đức vừa trục xuất hàng nghìn người Do Thái mang quốc tịch Ba Lan, nhưng Ba Lan đóng cửa biên giới, không cho nhập cảnh. Hậu quả: cha mẹ và anh chị em cậu cùng hàng nghìn người khác bị đẩy vào vùng đất không người giữa hai nước, cắm trại ngoài trời trong giá rét mùa thu, không lương thực, không chỗ trú, không lối thoát.

GzKRPyGn.jpg

Grynszpan - ảnh chụp hình sự 1938
Cơn phẫn nổ tung. Không kế hoạch, không suy tính, chỉ với một khẩu súng lục trong túi áo, sáng hôm ấy Grynszpan bước vào Đại sứ quán Đức tại Paris. Cậu bình tĩnh yêu cầu gặp “ngài lãnh sự hoặc phó của ngài”. Nhân viên dẫn cậu đến phòng viên chức Thứ ba Ernst vom Rath – nhà ngoại giao 29 tuổi. Không một lời cảnh báo, Grynszpan rút súng bắn liên tiếp năm phát vào ngực vom Rath, ngay giữa trung tâm ngoại giao Đệ tam Quốc xã, lúc 9 giờ 30 sáng. Vom Rath gục ngã, máu loang áo, vẫn còn thoi thóp. Grynszpan đứng yên, để cảnh sát Pháp xông vào khống chế và dẫn giải.

Hai ngày sau, vom Rath chết. Cái chết ấy trở thành cái cớ mà Goebbels chờ đợi để phát động Đêm Pha Lê (Kristallnacht) – cuộc bạo loạn chống Do Thái lớn nhất từ trước tới lúc bấy giờ trên toàn nước Đức.

Bộ Tuyên truyền Đế chế Quốc xã lập tức ngửi thấy mùi máu. Với họ, cái chết đang hấp hối của Ernst vom Rath không chỉ là một vụ ám sát – mà là món quà trời ban để phát động một chiến dịch diệt chủng công khai đầu tiên. Ngay trong ngày 7 và 8/11, toàn bộ báo chí Đức nhận lệnh khẩn: phải đổ hết trách nhiệm lên đầu “bè lũ Do Thái di cư” và “tội phạm Do Thái quốc tế”. Tờ Völkischer Beobachter – cơ quan ngôn luận của Đảng Quốc xã – rầm rộ đăng những dòng chữ đẫm thuốc súng:

“Đã đến lúc dân tộc Đức phải trả lời hành vi ở Paris! Không thể để hàng nghìn kẻ Do Thái tiếp tục làm chủ các trung tâm thương mại Đức, hút máu tiền thuê nhà của người Đức chính gốc!”

Câu ấy như đổ dầu vào lửa. Chỉ trong hai ngày 8 và 9/11, những giáo đường Do Thái đầu tiên ở Hessen, Sachsen và Anhalt đã bùng lên thành biển lửa. Cửa kính cửa hàng Do Thái bị đập tan, căn hộ bị xông vào cướp bóc rồi châm lửa. Đám đông hô vang “Juda verrecke!” (Do Thái chết đi!) trong khi cảnh sát đứng nhìn, thậm chí còn cười.

Chiều ngày 9/11/1938, Ernst vom Rath trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở Paris. Cùng tối hôm đó, tại München, Hitler đang ngồi giữa các lão thành đảng trong buổi lễ tưởng niệm cuộc đảo chính hụt năm 1923. Khi tin Rath chết được thì thầm vào tai, Hitler không nói một lời, lặng lẽ rời khỏi rời khỏi hội trường mà không phát biểu như thường lệ.
Người thay ông đứng trên bục là Josef Goebbels – “Con chó săn tuyên truyền” của Đệ tam Quốc xã. Dưới ánh đèn chùm sáng rực của Bürgerbräukeller, Goebbels gầm lên bằng giọng the thé đầy cuồng nộ:

“Đồng bào đã bắt đầu tự tay trừng phạt! Ở nhiều nơi, dân chúng đã tự phát đập phá cửa hàng Do Thái, thiêu hủy hội đường! Đảng không ra lệnh, nhưng Đảng hiểu – và Đảng sẽ không ngăn cản cơn giận chính đáng của dân tộc!”

Khi mặt trời vừa ló dạng, cả nước Đức như nổ tung. Hàng nghìn thanh niên SA mặc thường phục tràn ra đường như bầy sói đói. Chỉ một số ít còn giữ lại chiếc áo nâu cũ, còn lại cố tình cởi bỏ phù hiệu để đóng vai “người dân phẫn nộ tự phát”. Họ mang theo xăng, búa tạ, gậy gộc và dao. Hội đường Do Thái đầu tiên bùng lên ở Berlin lúc 5 giờ sáng. Chỉ trong vài giờ, 267 thánh đường trên toàn quốc đã thành tro bụi. Tiếng kính vỡ loảng xoảng vang khắp các con phố, đến mức người ta đặt tên cho đêm ấy là Kristallnacht – Đêm Pha Lê – vì mặt đường sáng lấp lánh những mảnh kính vỡ dưới ánh lửa. Đám đông gào thét “Juda verrecke!” (Do Thái chết đi!), “Raus mit den Juden!” (Quét sạch bọn Do Thái!) lao vào 7.500 cửa hàng có biển hiệu Do Thái. Cửa bị đập tan, hàng hóa bị vơ sạch, két sắt bị cạy tung. Những gia đình Do Thái bị lôi từ giường ngủ ra giữa đường, bị đánh đập đến ngất xỉu trước mặt hàng xóm. Ai kháng cự – chết tại chỗ. Khoảng một trăm người Do Thái bị giết ngay trong nhà mình đêm ấy: đập đầu bằng báng súng, đâm bằng dao găm, ném từ ban công tầng ba xuống.

Hàng chục nghìn người đàn ông Do Thái – từ thiếu niên 16 tuổi đến ông già 70 – bị bắt ngay trên phố, bị nhét lên xe tải như súc vật, chở thẳng đến ba trại tập trung lớn nhất lúc bấy giờ: Sachsenhausen, Buchenwald và Dachau. Các sử gia thống nhất con số: khoảng 30.000 người bị tống vào đó chỉ trong 48 giờ.
1waHkD8.jpg

Các cửa hàng Do Thái bị phá nát - tháng 11/1938
Cơn cuồng nộ kéo dài suốt ba ngày ở một số thành phố. Hàng trăm người nữa sẽ chết dần chết mòn trong các trại vì đói lạnh, bệnh tật và những trận đòn tra tấn trong những tháng sau đó. Trong khi đó, báo chí Đức chỉ đăng vài dòng lạnh lùng: “Một số vụ việc cục bộ do dân chúng tự phát”. Không ảnh chụp, không con số, không tên nạn nhân. Như thể cả nước Đức chỉ vừa hắt xì hơi.

Chỉ chưa đầy một tháng sau Đêm Pha Lê, ngày 6/12/1938, Hermann Göring – con cáo béo số hai của Quốc xã – triệu tập các Gauleiter, tỉnh trưởng và quan chức cấp cao trong một căn phòng kín tại Berlin. Ở đó, lần đầu tiên khái niệm “giải pháp hữu cơ cho vấn đề Do Thái” được nói ra một cách trơ tráo. Göring cười khẩy khi nhắc đến những đống tro tàn của 267 hội đường:

“Việc đốt phá, việc phóng hỏa, cái gọi là tội giết người bằng lửa… Thưa các ngài, rất khó truy tố ai cả. Vì tôi tin rằng không một ai trong số những người châm lửa – dù là hội đường hay nhà riêng – lại nghĩ đến chuyện trục lợi cá nhân. Họ làm vì phẫn nộ, vì khát khao trả thù người Do Thái, vì lòng căm thù sâu sắc…”

Có nghĩa là: Nhà nước đốt, nhà nước bảo vệ kẻ đốt, và nhà nước sẽ không để ai phải đền một đồng nào.

Nhưng màn kịch tài chính còn trơ trẽn hơn thế. Các công ty bảo hiểm Đức, vốn rất “đức”, vẫn phải theo luật mà bồi thường cho khách hàng Do Thái. Tổng số tiền được duyệt: 225 triệu Reichsmark. Khi tiền sắp chuyển vào tay nạn nhân, chính phủ Đệ tam Quốc xã lập tức ra sắc lệnh: tịch thu toàn bộ khoản bồi thường ấy, chuyển thẳng vào ngân khố quốc gia. Người Do Thái không những mất nhà, mất cửa hàng, mất của cải – mà còn không được nhận một xu tiền bảo hiểm.

Chưa hết. Ngày 12/11/1938, chỉ hai ngày sau Kristallnacht, Göring chủ trì cuộc họp tại Bộ Hàng không. Kết quả: toàn thể người Do Thái Đức có tài sản trên 5.000 Reichsmark bị buộc phải nộp chung một tỷ Reichsmark làm “tiền chuộc tội” cho cái chết của Ernst vom Rath. Một tỷ – con số khổng lồ thời bấy giờ.

Nói cách khác: nạn nhân bị đốt nhà, bị cướp bóc, rồi còn phải tự bỏ tiền túi trả cho đống tro tàn của chính mình. Đó chính là “giải pháp hữu cơ” mà Göring tự hào nhắc đến: không cần lò hơi, không cần khí gas – chỉ cần một đêm pha lê vỡ, một đạo luật, và cả một dân tộc bị biến thành tội phạm chỉ vì họ sinh ra là người Do Thái.

Ngay sau Đêm Pha Lê, bộ máy Quốc xã tung ra hàng loạt sắc lệnh như những nhát dao cuối cùng đẩy người Do Thái ra khỏi xã hội Đức, từng bước một, lạnh lùng và có hệ thống.

12/11/1938: Người Do Thái bị cấm bước chân vào rạp hát, rạp chiếu bóng, buổi hòa nhạc, bảo tàng – mọi thứ gọi là văn hóa.

28/11: Heinrich Himmler cho phép các tỉnh trưởng tự ý ban hành lệnh giới nghiêm riêng – có nơi cấm người Do Thái ra đường từ 5 giờ chiều đến 8 giờ sáng, có nơi cấm hoàn toàn vào cuối tuần.

29/11: Một lệnh khác khiến cả thế giới phải lặng người vì sự vô lý tàn nhẫn: người Do Thái phải nộp lại… chim bồ câu thư.

30/11: bằng lái xe, đăng ký xe hơi bị thu hồi. Hồ bơi công, hồ bơi tư, sân vận động, sân quần vợt – tất cả đều treo biển “Verbote für Juden” (Cấm người Do Thái).Trong năm 1938, hơn 700 công ty Do Thái và 22 ngân hàng Do Thái bị “Aryan hóa” – tức là bị cướp trắng trợn, chủ cũ bị đuổi ra đường, tài sản chuyển sang tay “người Đức thuần chủng” chỉ bằng một cái bút lông ngỗng ký trên giấy.
 
Chương 2: Holocaust (tiếp)
Trong khi đó, tại Vienna mới bị sáp nhập, Adolf Eichmann, đang lặng lẽ dựng lên bộ máy chết chóc đầu tiên của mình, mở “Trung tâm Di trú Do Thái” (Zentralstelle für jüdische Auswanderung) ngay giữa lòng Vienna. Nội bộ gọi gọn là Phòng II 112. Chỉ vài tuần sau Anschluss, lính SS đã ập vào các hội đoàn Do Thái, tịch thu tài sản, bắt giữ lãnh đạo. Một số tổ chức được cho phép “tái hoạt động”, nhưng dưới bàn tay sắt của SS. Eichmann tự tay duyệt từng hồ sơ, tự tay ngồi ghế thẩm vấn, tự tay ghi lại từng chi tiết nhỏ nhặt nhất.

Người đứng đầu cộng đồng Do Thái Vienna còn lại – bác sĩ Josef Löwenherz – bị ép phải làm con rối. Chỉ trong vài ngày, văn phòng ông nhận tới 45.000 đơn xin xuất cảnh. Người ta chen lấn, khóc lóc, bán nhà, bán vàng, chỉ cầu được một con dấu rời khỏi địa ngục.

Eichmann làm việc đến 2-3 giờ sáng, khá lộ vẻ thỏa mãn. Cuối cùng ông ta không còn là anh thư lại vô danh ngồi xếp thẻ hồ sơ ở Berlin nữa. Giờ đây ông ta là người quyết định ai được sống, ai phải ở lại chờ chết. Reinhard Heydrich – ông trùm SD – theo dõi từng bước chân của Eichmann với nụ cười hài lòng. Ngày 12/11/1938, tại cuộc họp lớn về “vấn đề Do Thái” do Göring chủ trì, Heydrich ngồi ngay hàng đầu, thỉnh thoảng gật gù khi nghe cấp dưới báo cáo “tiến độ di trú”. Họ gọi đó là “di trú”, thực chất là cuộc trục xuất tập thể đầu tiên trong lịch sử nhân loại – và cũng là buổi tổng duyệt cho thảm họa mang tên “Giải pháp Cuối cùng” chỉ ba năm sau.

Reinhard Heydrich, gã “thiên tài tóc vàng” của bộ máy khủng bố, đứng dậy báo cáo trước Göring và đám quan chức cao cấp nhất Đế chế:

“Tại Vienna, theo lệnh của Reichskommissar, chúng tôi đã lập Trung tâm Di trú Do Thái. Chỉ trong vài tháng, chúng tôi đẩy được 50.000 người Do Thái ra khỏi Áo. Trong khi đó, từ Altreich (Đức bản thổ) chỉ vỏn vẹn 19.000.
Cách làm rất đơn giản: chúng tôi buộc những kẻ Do Thái giàu muốn chạy trốn phải nộp một khoản tiền lớn vào quỹ cộng đồng Do Thái. Số tiền ấy, cộng thêm ngoại tệ cướp được, sẽ dùng để tống khứ đám Do Thái nghèo ra nước ngoài.
Vấn đề không phải làm sao đuổi được bọn Do Thái giàu. Vấn đề là làm sao tống khứ cho hết đám Do Thái bần cùng này.
9uLNoc.jpg

Reinhard Heydrich - ảnh chụp 1938

Ba tháng sau, ngày 30/1/1939, đúng kỷ niệm 6 năm lên nắm quyền, Adolf Hitler bước lên bục Quốc hội Đức (Reichstag). Hàng triệu người Đức ngồi bên radio, nín thở nghe từng lời của “Đấng Cứu Thế”.

Và ông ta nói thẳng, không úp mở nữa: “Nếu bọn tài phiệt Do Thái quốc tế trong và ngoài châu Âu một lần nữa dám đẩy các dân tộc vào chiến tranh thế giới, thì kết quả sẽ không phải là bolshevik hóa trái đất và chiến thắng của người Do Thái, mà sẽ là sự tiêu diệt hoàn toàn chủng tộc Do Thái ở châu Âu!”

Tiếng vỗ tay vang như sấm. Phát thanh viên đọc lại câu ấy ba lần để toàn dân khắc cốt ghi tâm. Trong đầu Hitler, mọi thứ đã rõ ràng từ lâu. Với ông ta, thế giới chỉ có hai kẻ sống sót cuối cùng: người Đức và người Do Thái. Tất cả các dân tộc khác chỉ là đám bèo bọt trên mặt nước.​
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hermann Aronheim đã bước vào một thế giới khác. Ở Đức, là một người Do Thái đồng nghĩa với việc chấp nhận và thực hành các tín điều của đức tin. Vào những ngày lễ thánh, họ đến giáo đường. Mỗi tối thứ Sáu, những ngọn nến được thắp lên. Không có tôn giáo, sẽ không có căn tính Do Thái. Những người không mấy tin tưởng vẫn tham gia các nghi lễ vì truyền thống. Đó là cách duy nhất để thể hiện tình đoàn kết và bày tỏ cảm giác muốn thuộc về cộng đồng.
wU6T7I6q.jpeg

Theodor Herzl - cha đẻ của chủ nghĩa phục quốc - ảnh chụp 1901

Không chỉ vậy, thời trai trẻ, Hermann còn là một thành viên nhiệt huyết của một tổ chức thanh niên theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionist). Ngay từ trên quê hương cũ, anh đã bắt đầu học tiếng Hebrew và ấp ủ một giấc mơ về tương lai: trở thành một nông dân trên mảnh đất Thánh. Một giấc mơ định hình số phận, nhưng cũng chất chứa những bí ẩn về hành trình sắp tới của chàng trai trẻ này.

“Khi con tàu cuối cùng cập cảng Haifa, tôi – cậu thiếu niên mới 17 tuổi vừa thoát khỏi nước Đức đang bốc cháy – chợt hiểu ra một điều kỳ diệu: Từ nay tôi có thể là người Do Thái mà không cần phải quỳ trong hội đường, không cần thuộc lòng kinh cầu, không cần giữ luật ăn kiêng nữa. Chỉ cần nói tiếng Yiddish, hát những bài dân ca mẹ ru, nhớ về những con phố cũ ở Berlin hay Warsaw – thế là đủ. Ở đây, cảnh sát là người Do Thái, thẩm phán là người Do Thái, bác tài xế xe buýt là người Do Thái, người quét đường cũng là người Do Thái. Hai nghìn năm lưu vong vừa khép lại. Tôi được làm Do Thái theo cách của riêng mình.”

Cậu thiếu niên nhập cư Hermann Aronheim 17 tuổi khi ấy chỉ có một mục tiêu duy nhất: được chấp nhận trở thành thành viên của một kibbutz - một hợp tác xã nông nghiệp đặc trưng. Cậu là một người lý tưởng, một tín đồ nhiệt thành, thậm chí là một chiến sĩ đầy tâm huyết cho chủ nghĩa Phục quốc Do Thái và một nhà xã hội chủ nghĩa sục sôi. Việc không sống trong một kibbutz là điều không thể tưởng tượng nổi đối với cậu.

Vì thế, cậu đã không chần chừ xây dựng một cuộc sống mới trong những điều kiện sinh hoạt hết sức nguyên thủy, sơ khai. Thế nhưng, nhiều năm sau đó, ông lại hối tiếc vì đã không nghe lời khuyên của mẹ mình - đó là nên theo đuổi một nền giáo dục cao hơn. Một quyết định tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, nhưng cũng để lại một day dứt khôn nguôi về sau.

“Anh trai tôi – Hans Josef, giờ đã đổi tên thành Yochanan – đã đi trước một bước. Vài tháng trước khi gia đình tôi đặt chân đến Palestine, anh đã gia nhập kibbutz Alonim trên đồi Galilee. Anh viết thư: “Em đến đây đi. Ở đây sẽ là giấc mơ của em.”

Tôi đến ngay. Ngày đầu tiên bước vào Alonim, tôi ngỡ ngàng: không một cảnh sát, không nhà tù, không tiền bạc, không hội đường. Cửa phòng nào cũng không khóa – vì chẳng ai sợ mất gì cả. Người giàu nhất và người nghèo nhất ăn cùng một mâm ở nhà ăn tập thể. Người đi rửa toilet buổi sáng có thể ngồi ngang hàng tranh luận với Bí thư kibbutz vào buổi tối. Mọi lá phiếu đều ngang nhau. Tôi nộp đơn, chờ sáu tháng thử thách. Ngày được kết nạp chính thức, cả kibbutz chỉ có 80 người tụ tập dưới gốc cây khuynh diệp vỗ tay chúc mừng tôi như chào đón một người anh em đi lạc lâu năm vừa trở về. Tôi hạnh phúc đến phát khóc. Lần đầu tiên trong đời, tôi được làm Do Thái mà không phải cúi đầu trước bất kỳ ai – kể cả Thượng đế.”
YXXMdh.webp

Làm việc ở Kibbutz Ramat Rachel - 1938

“Năm năm ở Hạ Galilee, từ 1938 đến 1943, là những năm đẹp nhất và cũng khắc nghiệt nhất đời tôi. Tôi đến Alonim còn là một thằng nhóc 17 tuổi run rẩy vừa thoát khỏi nước Đức của Hitler. Tôi rời Alonim năm 1943 để xung phong vào quân đội Anh, đã là một người đàn ông thực sự: biết cạo râu, biết bắn súng, biết cưỡi ngựa, biết nói tiếng Hebrew lưu loát, biết yêu và cưới vợ, và cũng biết từ bỏ chủ nghĩa xã hội trong thất vọng.

Hai lần suýt chết vì đạn của đám du kích Ả Rập. Một lần bị bắn tỉa từ đồi đối diện, viên đạn sượt qua thái dương. Lần thứ hai, cả nhóm đi lấy nước đêm thì rơi vào ổ phục kích – may mà đồng đội kéo được tôi về sau bức tường đá.

Alonim (עצי אלון) nghĩa là “những cây sồi” trong tiếng Hebrew. Kibbutz nằm giữa vòng cung đồi hình móng ngựa phủ kín rừng sồi cổ thụ – nơi duy nhất ở Palestine lúc đó còn giữ được rừng tự nhiên. Người ta kể rằng đầu thế kỷ vẫn còn rừng bạt ngàn, nhưng quân Thổ Nhĩ Kỳ đã chặt sạch để làm tà vẹt đường ray. Hai mươi năm sau ngày họ rút, những cánh rừng mới bắt đầu nhú lại, chậm chạp như vết thương đang lành.
Tôi đến với bao mộng mơ lãng mạn. Trong đầu chỉ thấy hình ảnh những người tiên phong tay cầm cuốc, tay cầm súng, hát vang dưới nắng vàng. Thực tế phũ phàng hơn nhiều.

Ngày đầu đặt chân, tôi chỉ thấy vài chục cái lều tròn dựng xiêu vẹo, bao quanh bởi bức tường đá cao ngang ngực – để chắn đạn bắn tỉa. Mỗi lều ba cái giường sắt, nệm rơm. Tôi ngủ chung lều với một thằng con trai và một cô gái. Chẳng ai nghĩ đến chuyện tách riêng nam nữ – chiến tranh và sa mạc không có chỗ cho sự e lệ.

Con gái ở đây mặc quần short ngắn cũn cỡn, dù có người đã ngoài ba mươi và chẳng còn thon thả gì. Bọn con trai đội mũ lưỡi trai kiểu nông dân Nga, áo sơ mi phanh ngực. Tối đến, nếu có đám cưới hay lễ hội, cả kibbutz kéo nhau ra khoảng đất trống nhảy hora vòng tròn đến rã rời, thỉnh thoảng chen thêm điệu krakoviak Nga. Nhạc chỉ có một cái accordion cũ mèm, nhưng tiếng đàn vang vọng giữa rừng sồi làm tim mình muốn nổ tung. Đó là những năm tháng tôi học cách sống như một con người tự do thực sự: không tiền, không khóa cửa, không giàu nghèo, chỉ có lao động và đồng đội. Và cũng là những năm tháng tôi học được rằng lý tưởng dù đẹp đến đâu cũng có thể vỡ tan khi chạm vào hiện thực.”

Hermann Aronheim đã thay đổi tên mình cho phù hợp với môi trường mới: giờ đây, mọi người biết đến ông với cái tên Zvi Aharoni. Vào tháng 11 năm 1941, ở tuổi 20, ông kết hôn với Ursula Neumann đến từ Berlin, người lớn hơn ông hai tuổi. Ursula đã tới Alonim từ năm 1937 cùng một nhóm thanh niên Do Thái. Trong kibbutz, cô đảm nhiệm công việc chăm sóc đàn dê và cừu. Cái tên của cô cũng được đổi sang tiếng Hebrew thành Ge'ulah - một hành trình mới, một danh tính mới, bắt đầu từ đây.​
 
Chương 2: Holocaust (tiếp)
Đó là những ngày đen tối nhất của Thế chiến thứ hai. Người ta kết hôn khi còn rất trẻ, bởi chẳng ai dám chắc liệu sẽ còn một "năm sau" hay không. Thế nhưng, cặp đôi ấy đã cùng nhau sống qua rất nhiều "năm sau" nữa. Ge'ulah Aharoni qua đời vì bệnh ung thư vào mùa thu năm 1973.

Giống như nhiều người khác trong cộng đồng nông nghiệp, chàng trai trẻ Zvi Aharoni đã trở thành một 'tay chuyên mọi việc'. Ông canh gác khu định cư vào ban đêm để chống lại kẻ thù người Ả Rập, hỗ trợ thu hoạch mùa màng và xây dựng những bức tường. Năm 1941, ông gia nhập hàng ngũ của Lực lượng Cảnh sát Khu định cư Do Thái, một nhánh của Lực lượng Cảnh sát Palestine.

Mười thành viên từ Alonim đã tham gia lực lượng cảnh sát này. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là đối phó với các chiến binh người Ả Rập, những người liên tục tấn công các khu định cư Do Thái hoặc gài mìn trên các con đường và cánh đồng lân cận - một cuộc chiến sinh tử ngay trên mảnh đất họ gọi là nhà.
dRRtK5D.webp

Lãnh thổ ủy trị Palestine và Liên-Jordan của Anh theo phân chia sau thế chiến 1

Mùa xuân năm 1936, toàn cõi Palestine như ngồi trên thùng thuốc súng. Từ 1932 đến 1936, gần 200.000 người Do Thái đã đổ bộ hợp pháp vào vùng đất này (chủ yếu chạy trốn Hitler). Chỉ trong vài năm, dân số Do Thái đã chiếm tới 30%, từ những vùng đất hoang hóa bỗng mọc lên trang trại, nhà máy, trường học. Người Ả Rập nhìn thấy quê hương mình đang thay đổi từng ngày, từng mẫu đất.​

Các đảng phái Ả Rập gửi tối hậu thư cho Cao ủy Anh:

+ Cho phép thành lập chính phủ dân chủ (tức là chính phủ do người Ả Rập chiếm đa số).
+ Ngừng hoàn toàn di cư Do Thái.
+ Cấm bán đất cho người Do Thái.

Chính quyền Anh từ chối. Vài vụ sát hại lẻ tẻ giữa hai bên nhanh chóng biến thành bão lửa.

Ngày 19/4/1936, Hajj Amin al-Husseini (Đại hiền sĩ Jerusalem, nhân vật quyền lực nhất của người Hồi giáo Palestine) đứng trên thánh đường Al-Aqsa, giơ tay tuyên bố Jihad (Thánh chiến vì Đất Thánh). Hàng chục nghìn người Ả Rập đáp lại bằng tiếng gào thét vang dội. Cuộc tổng bãi công kéo dài sáu tháng. Đường sắt bị phá, xe quân đội Anh bị đốt, các khu Do Thái bị tấn công đêm. Du kích Ả Rập phục kích trên mọi ngả đường Galilee và Judea. Quân Anh đáp trả bằng thiết quân luật, bắn tỉa, phá làng và treo cổ. Hàng nghìn người chết ở cả hai bên. London hoảng loạn, bèn gửi Ủy ban Peel đến điều tra năm 1937.​

Lần đầu tiên một cơ quan chính thức của Anh thừa nhận: có thể chia đôi Palestine.

n1dT9oS.png

Kế hoạch Peel / Peel Commission:
Màu xanh: Quốc gia Arab
Màu hồng: vùng trung tâm do Anh kiểm soát
Màu tím: Quốc gia Do Thái

Kế hoạch Peel:
+ Một nhà nước Ả Rập (khoảng 80% lãnh thổ).
+ Một nhà nước Do Thái tí hon (khoảng 20%, chủ yếu vùng duyên hải và Galilee).
+ Còn Jerusalem, Bethlehem, Nazareth vẫn thuộc Anh.

-> Người Do Thái (dù chỉ được mẩu đất nhỏ xíu) vẫn chấp nhận (vì họ đang chết dần ở châu Âu).

-> Người Ả Rập khước từ hoàn toàn (vì họ không chấp nhận mất dù chỉ một tấc đất cho “kẻ xâm lược Zionist”). Thế là kế hoạch Peel chết yểu. Nhưng hạt giống đã gieo: từ đây, khái niệm “hai nhà nước cho hai dân tộc” xuất hiện lần đầu, và cũng từ đây, máu sẽ còn chảy thêm rất nhiều năm nữa trên chính mảnh đất từng được gọi là “Đất Hứa”.

Cả Hội Quốc Liên lẫn người Ả Rập đều phản đối. Xung đột leo thang. Trên khắp Palestine, vũ khí được tuốt ra. Chỉ riêng từ ngày 1 tháng 7 đến ngày 30 tháng 9 năm 1938, đã có 640 người Ả Rập, 160 người Do Thái và 28 người Anh thiệt mạng.

Tại vùng Judaea, một tổ chức du kích chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Abd el Kader Husseini, một người thân có ảnh hưởng của Mufti tối cao. Ở phía bắc, các nhóm vũ trang tấn công các vị trí của Anh, các khu định cư Do Thái cùng hệ thống đường bộ và đường sắt.

Đến nửa cuối năm 1938, cuộc nổi dậy đã biến thành một cuộc chiến tranh dân tộc. Trên các vùng núi, các chiến binh fedayeen cho nổ tung đường ray và cầu cống, buộc người Anh phải rút khỏi một số vị trí quan trọng. Bị dồn vào thế chân tường như vậy, họ đã hành động quyết liệt: áp đặt các án phạt tập thể lên các làng mạc thân thiện với phiến quân và xử tử gần một trăm nhà hoạt động. Một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng cũng không ngăn được làn sóng phản kháng ngày càng dâng cao.

Chính phủ Anh cũng phản đối kế hoạch phân vùng của Ủy ban Peel và thay vào đó, mời đại diện của người Ả Rập và người Do Thái đến London cho một hội nghị về Palestine. Cuộc hội nghị này, một lần nữa, cũng kết thúc mà không đem lại bất kỳ kết quả cụ thể nào – một nỗ lực ngoại giao lại rơi vào bế tắc, dọn đường cho những xung đột còn khốc liệt hơn ở phía trước.​

+ Người Ả Rập: “Độc lập ngay lập tức và đóng cửa biên giới với người Do Thái mãi mãi.”
+ Người Do Thái: “Một nhà nước Do Thái có chủ quyền, càng nhanh càng tốt.”
-> Người Anh thì lúng túng đưa ra đủ kiểu chia ba chia bốn vùng, chẳng bên nào chịu nghe.

Ngày 17/5/1939, chính phủ Anh Neville Chamberlain tung ra Sách Trắng (White Paper) – văn kiện được người Do Thái gọi ngay lập tức là “Bản án tử hình”. Ba điều khoản chính, lạnh như băng:

+ Trong vòng 10 năm, Palestine sẽ trở thành một nhà nước độc lập thống nhất (tức là nhà nước Ả Rập có thiểu số Do Thái).
+ Di cư Do Thái sẽ bị giới hạn chỉ còn 75.000 người trong 5 năm tới. Sau đó, phải được sự đồng ý của đa số Ả Rập mới được tiếp tục. Nói cách khác: khi người Do Thái đạt 1/3 dân số (khoảng năm 1944), cửa sẽ đóng vĩnh viễn.
+ Bán đất cho người Do Thái bị hạn chế nghiêm ngặt, phần lớn lãnh thổ bị cấm hoàn toàn.

Với hàng triệu người Do Thái đang bị nhốt trong châu Âu của Hitler, đây không còn là chính sách nữa – đây là đóng đinh lên quan tài. Phản ứng tức thì xảy ra. Cộng đồng Do Thái Palestine gọi ngày công bố Sách Trắng là “Thứ Tư Đen”. David Ben-Gurion tuyên bố thẳng: “Chúng ta sẽ chiến đấu chống Hitler như thể không có Sách Trắng, và sẽ chiến đấu chống Sách Trắng như thể không có Hitler.”

Người Do Thái giờ đây tăng tốc nhập cư. Ngay từ năm 1939, cứ mười người Do Thái hợp pháp vào Palestine thì có tới tám người nhập cư bất hợp pháp. Cả người Do Thái lẫn người Palestine đều nhất trí bác bỏ mọi giải pháp thông qua đàm phán.

Hệ quả là một cuộc chiến tương tự nội chiến lại bùng lên. Đặc biệt, các khu định cư mới hơn, nằm ngoài những thành phố tương đối an toàn như Tel Aviv hay Haifa, cần đến từng người đàn ông có khả năng cầm vũ khí. Một cuộc đua tranh sinh tử, nơi mỗi bàn tay đều phải nắm chặt súng để giành lấy mảnh đất và tương lai.​
 
Chương 2: Holocaust (tiếp)
Nội chiến thực sự bùng nổ 1939–1945. Các khu định cư mới nằm ngoài vùng an toàn như Tel Aviv hay Haifa biến thành pháo đài. Mỗi thanh niên ở kibbutz đều phải vừa cầm cuốc vừa đeo súng. Ban ngày cày ruộng, ban đêm canh gác. Đàn bà cũng học bắn, trẻ con học ném lựu đạn. Alonim của tôi nằm ngay giữa lằn ranh. Hai lần chúng tôi bị phục kích chỉ vì đi lấy nước cách kibbutz vài trăm mét. Sách Trắng không mang lại hòa bình.

Nó chỉ đẩy nhanh ngày mà cả hai dân tộc đều hiểu: chỉ có một cách duy nhất để sống sót – đánh nhau đến cùng.

Hermann Aharoni nhớ lại:

“Tôi chưa bao giờ muốn làm cảnh vệ kibbutz. Từ ngày 3/9/1939, khi radio loan tin Anh tuyên chiến với Đức, tôi chỉ có một ý nghĩ: phải mặc quân phục Anh, cầm súng thật, bắn vào lũ áo xám đã đốt nhà tôi, đã đuổi gia đình tôi như chó. Mỗi lần Cơ quan Do Thái (Jewish Agency) gửi thư yêu cầu kibbutz cử người tình nguyện theo hạn ngạch quốc gia, tôi lại giơ tay đầu tiên. Lần nào cũng bị từ chối. Không giải thích. Có lẽ vì Alonim còn quá non trẻ, có lẽ vì tôi còn quá trẻ (mới 20), hay đơn giản là họ cần tôi sống để giữ súng bảo vệ 80 con người đang ngủ sau bức tường đá cao ngang ngực.
AdaV0fp9.jpg

Lực lượng Palmach ở Palestine - 1939
Đến cuối 1941, họ thuyết phục được tôi gia nhập Lực lượng Cảnh sát Định cư Do Thái (Jewish Settlement Police). Tôi nhận phù hiệu, nhận khẩu Lee-Enfield cũ kỹ, và nhận thêm nỗi sợ chưa từng có.

Lúc ấy chiến sự đang đen tối nhất trong lịch sử loài người. Rommel cùng Afrika Korps đã quét sạch sa mạc Libya, chỉ còn cách Alexandria 100 cây số. Người ta đồn rằng lính Đức đã nhìn thấy kim tự tháp bằng ống nhòm. Balkans rơi hết vào tay Hitler. Ở mặt trận phía Đông, xe tăng Panzer đang lao về phía dãy Caucasus, về phía những mỏ dầu mà Đức Quốc xã thèm khát. Ai cũng tính được: chỉ cần Rommel từ phía nam, quân Đức từ phía bắc siết gọng kìm lại, Palestine sẽ bị nghiền nát trong vòng vài tuần. Nếu điều đó xảy ra, không còn Anh, không còn Haganah, không còn đường chạy.

Sáu triệu người Do Thái ở châu Âu đang chết dần trong các ghetto và lò hơi. Và vài trăm nghìn người Do Thái ở Palestine này sẽ là những nạn nhân cuối cùng – bị cắt đứt hoàn toàn khỏi thế giới.

Chúng tôi biết rõ: nếu Rommel vượt qua Ai Cập, không ai cứu nổi Palestine. Quân Anh có thể rút về Iraq, về Ấn Độ. Hồng quân Liên Xô có thể rút về tận Siberia.

Còn chúng tôi – vài trăm nghìn người Do Thái trên mảnh đất này – không có đường lùi. Không tàu, không biên giới mở, không sa mạc nào nuốt trôi nổi cả một dân tộc.

Chỉ còn một cách: đứng lại và đánh, dù chỉ có súng trường và lưỡi lê. Lực lượng Cảnh sát Định cư Do Thái chính là xương sống của kế hoạch đó. Mỗi người chúng tôi được phát một khẩu Lee-Enfield, đeo công khai cả ngày lẫn đêm – hợp pháp, hiếm hoi. Chúng tôi tự huấn luyện như lính chính quy: bò lê, đào công sự, đánh cận chiến, phục kích ban đêm. Ở những kibbutz tiền tiêu như Alonim, người ta nói thẳng: “Cảnh sát định cư đáng giá hơn cả một tiểu đoàn Anh.”

Trong khi đó, hàng nghìn thanh niên Do Thái tình nguyện vào quân đội Anh lại bị điều đi xa: Iraq, Kenya, Sudan – canh kho đạn, lái xe tải, làm lính hậu cần. Họ ở đó thì Palestine mất người giữ súng. Khi hiểu ra điều đó, cuối cùng tôi đồng ý gia nhập Cảnh sát Định cư. Đó là năm 1941.

Rồi phép màu xảy ra:

Tháng 11/1942: Montgomery đập tan Rommel ở El Alamein.
Mùa đông 1942–1943: Hồng quân nghiền nát Tập đoàn quân 6 ở Stalingrad.
Mùa xuân 1943: quân Đức bắt đầu rút trên mọi mặt trận.

Cơn ác mộng “Rommel đến Palestine” tan như bọt xà phòng. Tôi lập tức nộp đơn xin ra khỏi Cảnh sát Định cư để gia nhập quân đội Anh chính quy. Ban lãnh đạo kibbutz lại từ chối lần cuối: “Alonim còn cần cậu.” Tôi bèn viết một lá thư ngắn, để lại trên bàn nhà ăn:

“Tôi từ bỏ tư cách thành viên Alonim. Tôi đi đánh Đức. Nếu sống sót, tôi sẽ trở về. Nếu không, xin cảm ơn các anh chị đã cho tôi một mái nhà.”

Ngày hôm sau, tôi bắt xe xuống Haifa, đến văn phòng tuyển quân Anh, ký tên như một công dân bình thường. Tháng 3/1943, tôi lên tàu sang Ý với phù hiệu Lữ đoàn Do Thái (Jewish Brigade) trên vai áo. Tôi đã bỏ lại sau lưng cánh đồng sồi Alonim, bỏ lại những năm tháng đẹp nhất tuổi trẻ.

Nhưng tôi mang theo một lời thề: sẽ không có người Do Thái nào nữa phải chết mà không được trả thù.”

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tháng 1/1939, “mô hình Vienna” của Eichmann được nhân bản ra toàn Đệ tam Đế chế. Heydrich triệu tập ông trung úy gầy gò 33 tuổi lên Berlin, vỗ vai:

“Từ nay anh sẽ điều hành Trung tâm Đế chế về Di trú Do Thái ngay tại Bộ Nội vụ.”

Eichmann được thăng một cấp – SS-Hauptsturmführer. Chỉ ba tháng sau, khi Đức xé nát Tiệp Khắc, Eichmann lại bị điều sang Prague để lập một trung tâm y hệt bên bờ sông Vltava. Ông ta cáu kỉnh như trẻ con bị giật mất đồ chơi: “Xây được một bộ máy hoàn hảo ở Vienna, giờ lại phải bỏ đi. Thật không đành lòng.”

Nhưng ông ta vẫn làm. Và làm cực kỳ hiệu quả.

Ký ức của Eichmann sau này (tại phiên tòa Jerusalem 1961):

“Cho đến ngày tôi rời Vienna đi Prague, chúng tôi đã tống khứ được 150.000 người Do Thái khỏi Áo. Cuối cùng con số lên tới 224.000 hoặc 234.000 – tôi không nhớ chính xác nữa.”
YhnQBpo.webp

Hồ sơ nội bộ SS của Adolf Eichmann

Chỉ trong chưa đầy một năm, gần như toàn bộ cộng đồng Do Thái Áo (khoảng 200.000 người trước Anschluss) bị đẩy ra khỏi nhà – bằng tàu hỏa, bằng tàu thủy, bằng cách đi bộ qua biên giới – không còn một đồng, không còn một mẩu giấy tờ hợp lệ. Prague chỉ là trạm dừng chân ngắn.

Mùa thu 1939, ngay sau khi xe tăng Đức cán qua Ba Lan và Thế chiến II bùng nổ, một văn phòng nhỏ được mở tại số 8 Prinz-Albrecht-Strasse, Berlin – trụ sở Gestapo. Nó mang tên: phòng IV D 4: “Vấn đề Do Thái và Di trú”, kèm trưởng phòng: SS-Hauptsturmführer Adolf Eichmann. Từ đây không còn gọi là “Auswanderung” (di cư) nữa. Bộ máy được đổi tên nội bộ thành “Judenreferat” (Ban Do Thái), và nhiệm vụ không còn là “đẩy người Do Thái ra khỏi Đức” nữa – mà là “đẩy người Do Thái ra khỏi sự sống”.

Tháng 9/1939, trong những tuần lễ Ba Lan còn cháy đỏ, người ta vẫn còn nói đến “khu tự trị Do Thái” ở đâu đó giữa sông Vistula và sông San, gần Kraków. Heydrich gọi đó là “một nhà nước Do Thái dưới sự quản lý Đức”. Nghe thì có vẻ là “giải pháp lãnh thổ”. Thực chất chỉ là một trại tập trung khổng lồ không tường.

Tháng 10/1939, lệnh từ Heinrich Müller (Gestapo-Müller) được chuyển xuống bàn Eichmann: bắt đầu Verschickung – “gửi đi” – tức là trục xuất hàng loạt về phía đông.

18/10/1939: chuyến tàu đầu tiên rời Moravská Ostrava, 900 đàn ông Do Thái Moravia.

20/10: chuyến thứ hai từ Vienna.

Điểm đến: Nisko, một vùng đầm lầy hoang vu gần biên giới Ba Lan – Liên Xô

Người ta bị lùa xuống tàu như gia súc. Ở Nisko, lính SS nổ súng đuổi thẳng vào rừng: “Ai chạy thoát sang phía Nga thì sống!” Hàng trăm người chết ngay tại chỗ vì kiệt sức, vì đạn, vì đói lạnh.

Toàn bộ chiến dịch Nisko chỉ kéo dài vài tuần rồi bị hủy. Lý do rất… Đức: thiếu tàu hỏa. Wehrmacht cần tàu chở xe tăng và đại bác hơn là chở “đám Do Thái vô dụng”.

Cuối 1939, trong căn phòng kín tại Prinz-Albrecht-Strasse 8, Eichmann và các “chuyên gia” lại trải bản đồ ra bàn:

+ Dự án Madagascar (đảo thuộc Pháp ở Ấn Độ Dương): sau khi đánh bại Pháp sẽ biến đảo thành một siêu trại tập trung trên biển.
+ Dự án Lublin: khu “bảo tồn” giữa Ba Lan.
+ Dự án đẩy hết qua biên giới Liên Xô (dĩ nhiên Stalin không nhận).
-> Tất cả đều quá chậm.

Đến giữa 1940, trên lãnh thổ Đức kiểm soát đã có 3,25 triệu người Do Thái.

Mỗi tháng lại thêm hàng chục nghìn người từ các nước mới bị chiếm. Himmler gõ bàn: “Quá chậm! Phải có cách nhanh hơn.”

Từ đó, từ “Auswanderung” (di cư) dần bị gạch bỏ khỏi công văn. Thay vào đó, từ “Endlösung” bắt đầu được viết hoa.

Tháng 12/1940, Hitler đích thân ký một lệnh ngắn gọn gửi tới Gauleiter Baldur von Schirach ở Vienna:

“Do tình trạng thiếu nhà ở nghiêm trọng tại Reichsgau Wien, việc trục xuất 60.000 người Do Thái còn lại sang Generalgouvernement (phần Ba Lan bị chiếm đóng) phải được thực hiện ngay trong thời chiến, không chờ hòa bình.” Không còn nói vòng vo nữa: “trong thời chiến”.

Tức là ngay bây giờ, ngay khi bom đang nổ. Đầu năm 1941, khoảng 5.000 người Do Thái Vienna bị nhét vào những chuyến tàu chở gia súc, đưa tới các thị trấn nhỏ ở vùng Lublin: Piaski, Izbica, Zamość, Trawniki…
RKDZ1E.jpg

Đoàn tàu chở người Do Thái đến chỗ chết - 1940

 
Chương 2: Holocaust (tiếp)
Chiến dịch lại bị dừng vì… vẫn thiếu tàu. Quân đội cần tàu chở pháo cho mặt trận Nga sắp mở màn.
Phòng IV B 4 của Eichmann (nay chính thức mang tên “Judenangelegenheiten Evakuierungsangelegenheiten” – “Ban giải pháp Do Thái và Trục xuất”) bận rộn hơn bao giờ hết:

+ Tháng 5/1941: trục xuất người Do Thái Slovene khỏi vùng Kärnten và Steiermark.
+ Đồng thời: tại Pháp và Hà Lan, danh sách người Do Thái được lập, sao chép thành ba bản, đóng dấu đỏ.
+ Những chuyến tàu đầu tiên từ Paris và Amsterdam lặng lẽ lăn bánh về phía đông.

Sau chiến tranh, Thống chế Keitel khai trước Tòa Nuremberg:

“Tôi nhớ rõ Himmler rời phòng họp với vẻ mặt… đặc biệt. Ông ta được trao toàn quyền hành động của cảnh sát đối với mọi vấn đề liên quan đến ‘những yếu tố hạ đẳng về chủng tộc và phản xã hội’ – không cần báo cáo thêm.”

Không giấy tờ. Không chữ ký. Chỉ một cái gật đầu của Hitler, một cái bắt tay giữa hai con người mặc đồ đen. Từ đó, từ “Evakuierung” (trục xuất) trong công văn bắt đầu được thay bằng cụm từ viết tắt “S.B.” (Sonderbehandlung – “xử lý đặc biệt”). Song ai cũng hiểu nghĩa thật: giết.

Từ mùa hè 1941, những người trong vòng trong đều biết lệnh ấy đã được ban ra – bằng miệng, bằng cái gật đầu, bằng ánh mắt lạnh như băng của Führer. Tháng 10/1941, tại cung điện Černín ở Prague, Reinhard Heydrich – “Đao phủ thành Prague” – nói chuyện với các quan chức Đức và Séc. Ông ta nhắc đến một “Führerbefehl” (lệnh của Führer) có hai giai đoạn:​
+ Kurzfristiges Ziel (mục tiêu ngắn hạn)
+ Endlösung (giải pháp cuối cùng)
Ông ta dùng từ Endlösung không chỉ cho người Do Thái, mà còn cho cả người Séc:

“Vùng Bảo hộ Bohemia-Moravia cuối cùng phải hoàn toàn Đức hóa. Người Séc, xét cho cùng, không còn lý do gì để tồn tại trên lãnh thổ này nữa.” Câu nói ấy được ghi lại. Và người nghe đều hiểu: “Endlösung” giờ không còn nghĩa là trục xuất nữa. Bằng chứng rõ ràng nhất đến từ chính miệng đồng đội của Eichmann.​

u9LP2tl.jpg

Bản văn bản ấn định Endlösung

Ngày 3/1/1946, tại Nuremberg, Dieter Wisliceny (trước là cấp trên, sau là cấp dưới của Eichmann) đứng trước vành móng ngựa, khai dưới lời thề:

“Mùa hè 1942, tôi gặp Eichmann tại văn phòng IV B 4, số 116 Kurfürstenstrasse, Berlin.

Eichmann nói thẳng với tôi:

“Anh vẫn còn áy náy à? Tôi có thể cho anh xem lệnh bằng văn bản để anh yên tâm.”

Ông ta mở tủ sắt, lấy ra một tập hồ sơ mỏng, lật vài trang rồi đưa cho tôi một bức thư có chữ ký tay của Himmler gửi tới Heydrich (lúc ấy là Trưởng Polizei và SD). Nội dung ngắn gọn:​

“Führer đã ra lệnh thực hiện Endlösung der Judenfrage.

Trưởng Polizei và SD cùng Thanh tra các trại tập trung chịu trách nhiệm thi hành. Tạm thời giữ lại những người Do Thái còn khả năng lao động để làm việc tại các trại.

Còn lại – Sonderbehandlung.”

Eichmann nói thêm: “Khoảng 5 triệu người đang nằm trong danh sách.” Ông ta nói với vẻ tự hào của một kỹ sư vừa nhận được bản thiết kế hoàn chỉnh.” Wisliceny nhớ chính xác: bức thư có đóng dấu đỏ, có chữ ký ngoằn ngoèo của Himmler. Không có chữ ký của Hitler.

Nhưng trong hệ thống Quốc xã, lệnh của Himmler chính là lệnh của Hitler – không cần thêm một dòng nào nữa.

Trong hồ sơ mang dấu “Geheime Reichssache” (Việc quốc gia tuyệt mật), không bao giờ tồn tại một mệnh lệnh viết tay nào từ Hitler. Ông ta vẫn trung thành với nguyên tắc mà chính mình đã đặt ra từ năm 1937: “Những gì có thể truyền đạt bằng miệng, tuyệt đối không được viết ra giấy, không bao giờ!”

Tại một cuộc gặp bí mật, Adolf Eichmann đã giải thích thẳng thừng với vị khách của mình ý nghĩa thực sự của từ “Endlösung” (Giải pháp Cuối cùng). Đó không phải là “di cư” hay “tái định cư” như tuyên truyền che đậy, mà là: “việc tiêu diệt sinh học có kế hoạch đối với người Do Thái ở các vùng lãnh thổ phía Đông”.

Chỉ riêng Eichmann, tại Reichssicherheitshauptamt (Cơ quan An ninh Quốc gia), là người trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành mệnh lệnh ấy. Đối với giới lãnh đạo Quốc xã, ngoài việc tiến hành chiến tranh, không có việc nào quan trọng hơn “việc sơ tán người Do Thái”.

Trong một cuộc họp tại Bộ Tuyên truyền Đế chế của Goebbels, Eichmann bị nhắc lại mệnh lệnh của Führer: phải trục xuất 60.000 người Do Thái khỏi Vienna. Nhưng ở kinh đô bên sông Danube lúc ấy chỉ còn khoảng 45.000 người. Giải pháp được đưa ra lạnh lùng: lấy thêm 15.000 người Do Thái từ Berlin để “bù đắp” con số. Ngay lập tức, viên Đại úy SS Eichmann nhận nhiệm vụ: soạn thảo “đề xuất sơ tán người Do Thái khỏi Berlin” trình lên Gauleiter Joseph Goebbels.Những chuyến tàu định mệnh lúc ấy đang hướng về Warthegau (vùng đất cũ của Ba Lan bị Đức chiếm), cụ thể là Litzmannstadt – tên phát xít đặt cho thành phố Łódź.

Và rồi, vào mùa đông năm 1941, một đồng sự của Eichmann, SS-Sturmbannführer Rolf-Heinz Höppner, gửi báo cáo từ đó về Berlin với giọng điệu rợn người:

“Mùa đông này, có nguy cơ không thể nuôi nổi toàn bộ người Do Thái nữa. Cần nghiêm túc xem xét liệu có phải giải pháp nhân đạo hơn không, nếu tiêu diệt họ bằng một biện pháp nhanh chóng nào đó. Dù sao, điều đó vẫn còn dễ chịu hơn nhiều so với việc để họ chết đói từ từ.”

Tại vùng đất bị chiếm đóng Warthegau, từ tháng 12 năm 1941, người Do Thái và người Roma bị trục xuất đầu tiên đã bị giết bằng khí độc. Đơn vị đặc biệt SS Sonderkommando Lange lần đầu tiên đưa vào sử dụng “xe tải khí” (gaswagen) – những cỗ quan tài di động.
D19m6zmd.jpg

Một dạng xe tải sử dụng khí CO để tiêu diệt nạn nhân (Gaswagen)

Một binh sĩ Đức chứng kiến đã viết trong hồi ký với nỗi kinh hoàng không thể quên: “Họ lái xe vào sân nhà tù. Người Do Thái – đàn ông, phụ nữ, trẻ em – bị lôi thẳng từ phòng giam lên thùng xe. Tôi nhìn thấy bên trong: sàn gỗ có lưới, vách lót tôn kín mít. Ống xả được dẫn ngược vào khoang kín. Tôi vẫn còn nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng kêu tuyệt vọng vang lên từ bên trong: ‘Các ông Đức ơi, thả chúng tôi ra…!’”

Viên “Thanh tra xe khí” tự hào báo cáo về Berlin: “Từ tháng 12-1941 đến nay, chỉ với ba chiếc xe, chúng tôi đã ‘xử lý’ 97.000 người mà không hề gặp một trục trặc kỹ thuật nào.”​
Ở các vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng, các đội đặc nhiệm Einsatzgruppen của Cảnh sát An ninh và SD tung hoành như ác quỷ. Hàng trăm nghìn thường dân bị tàn sát không chỉ có người Do Thái. Ví dụ tại Minsk: Einsatzgruppe B của SS đã tiêu diệt toàn bộ tầng lớp trí thức Do Thái trước tiên. Những người còn lại bị nhốt vào khu ghetto. Ngày 31-8-1941, một loạt cuộc đột kích diễn ra, 916 người bị bắt. Sáng hôm sau, tất cả bị đưa ra bãi đất trống và bị bắn hạ trong một vụ hành quyết tập thể.
 
Chương 2: Holocaust (tiếp)
Nhiều năm sau, tại phiên tòa ở Jerusalem, Adolf Eichmann – kẻ từng tự nhận mình là “chỉ làm theo lệnh” – cố đóng vai người nhạy cảm. Ông ta kể rằng chính mình đã có mặt ở một vụ thảm sát tương tự, rằng “đột nhiên thấy buồn nôn, chóng mặt”, rồi vội vàng nhảy lên xe hơi “gần như bỏ chạy” khỏi hiện trường. Nhưng thế giới đã biết: kẻ “nhạy cảm” ấy chính là người ký hàng nghìn chuyến tàu, hàng triệu mạng người, và chưa từng một lần thực sự hối hận.

Chỉ trong một ngày duy nhất, 12.000 cư dân ghetto Minsk bị lính SS lôi ra khỏi nhà, đưa thẳng đến những hố chôn tập thể ở ngoại ô. Xác còn chưa kịp nguội thì căn hộ đã được lấp đầy ngay bằng những đoàn người mới bị trục xuất từ nơi khác đến. Cỗ máy giết người chạy không ngừng nghỉ.

Tiếp theo là Kaunas (Kovno) và Riga. Từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12-1941, hơn 30.000 người Do Thái từ Đức và các nước Baltic bị bắn chết hoặc chết ngạt trong xe tải khí. Nhà sử học Raul Hilberg sau này thống kê lạnh người: chỉ trong nửa cuối năm 1941, bốn đội Einsatzgruppen cơ động (tổng cộng 3.000 tên) đã tàn sát khoảng 500.000 con người ở miền Tây Liên Xô, phần lớn là người Do Thái. Và tất cả những điều đó… vẫn chỉ là khúc dạo đầu.

Ngày 20-1-1942, biệt thự bên hồ Wannsee: 90 phút định đoạt 11 triệu sinh mạng

Tại số 56-58 Am Großen Wannsee, Berlin, trong căn phòng sang trọng từng thuộc Ủy ban Cảnh sát Hình sự Quốc tế, Hội nghị Wannsee lịch sử diễn ra
. Chỉ vỏn vẹn 90 phút, 15 người đàn ông mặc vest lịch sự ngồi quanh bàn gỗ bóng loáng: tám Thứ trưởng các bộ, một Vụ trưởng, sáu chuyên gia cảnh sát và an ninh. Trong số đó có Adolf Eichmann, vừa được thăng Obersturmbannführer (Trung tá SS). Chủ đề cuộc họp, được ghi rõ trong thư mời của RSHA: “Chuẩn bị về mặt tổ chức, điều kiện thực tiễn và nhu cầu vật chất cho giải pháp toàn diện đối với vấn đề Do Thái ở châu Âu”.

Con số được đưa lên bàn: 11 triệu người Do Thái đang sống ở châu Âu, từ Anh đến Liên Xô, cần phải “giải quyết”. Heydrich, chủ tọa, nói rõ ràng trước mặt Eichmann (người sau này tự tay đánh máy biên bản):

“Thay vì di cư nữa, giờ đây – sau khi đã có sự chấp thuận thích hợp của Führer – sẽ là việc sơ tán người Do Thái về phía Đông. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ nên được xem là biện pháp tạm thời… nhưng qua đó sẽ thu được những kinh nghiệm thực tiễn cực kỳ quan trọng cho Giải pháp Cuối cùng sắp tới.”

Trong biên bản do chính Adolf Eichmann ghi tốc ký, lời của chủ tọa Reinhard Heydrich được chép lại bằng thứ ngôn ngữ quan liêu lạnh như băng:

“Trong khuôn khổ Giải pháp Cuối cùng và dưới sự kiểm soát thích đáng, người Do Thái sẽ được đưa ra lao động ở phía Đông. Họ sẽ bị tách theo giới tính, những người còn khả năng lao động sẽ thành từng đoàn lớn đi xây đường. Trong quá trình đó, không thể tránh khỏi một phần lớn sẽ tự nhiên suy kiệt và chết đi.”

“Natural depletion” (suy kiệt tự nhiên) – đó là cách họ gọi cái chết vì đói khát, lao lực và giá rét. Còn những người sống sót đến cuối cùng – những kẻ cứng cỏi nhất – thì sao? Heydrich tiếp tục: “Phần còn lại chắc chắn sẽ là những cá thể kháng cự nhất, do đó cần được xử lý thích đáng, bởi nếu thả chúng ra, chúng sẽ trở thành hạt giống cho một cuộc phục sinh Do Thái mới.”

Nhiều năm sau, tại Jerusalem, Eichmann vẫn một mực thanh minh: trong phòng họp hôm ấy, mọi người nói rất thẳng thắn, thậm chí thô bạo. Chỉ khi đánh máy biên bản chính thức, ông ta mới được lệnh “làm mềm”, “gọt bớt những từ quá mạnh”, “dịch” mọi thứ sang thứ ngôn ngữ hành chính vô hồn.

Chủ đề được mong chờ nhất là trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về các phương thức tiêu diệt. Adolf Eichmann lúc này đã là “chuyên gia hàng đầu”. Ông ta biết rất rõ: Từ ngày 3-9-1941, tại trại Auschwitz, người ta đã thử nghiệm thành công khí Zyklon-B – một loại thuốc trừ sâu gốc axit prussic – để giết người hàng loạt.

Có những trại mang vỏ bọc “nhà dưỡng lão” như Theresienstadt để khoe với Hội Chữ thập Đỏ quốc tế. Còn lại là các lò thiêu sống thực sự: phòng hơi ngạt, lò hỏa táng, mùi thịt cháy suốt ngày đêm.

Đỉnh cao của sự kinh hoàng là Auschwitz-Birkenau và Lublin-Majdanek. Riêng Auschwitz, theo những tài liệu còn sót lại và lời khai của chính những kẻ thủ ác, đã cướp đi sinh mạng của ít nhất một triệu con người – có tài liệu nói tới một triệu rưỡi.

Trong phiên tòa quân sự Nuremberg, Rudolf Höss, cựu Trại trưởng Auschwitz, đã không ngần ngại vạch mặt đồng lõa:

“Eichmann đến Auschwitz nhiều lần. Ông ta biết từng chi tiết quy trình giết người ở đây, rõ như một kỹ sư biết nhà máy của mình.”

Nhưng trong những trang nhật ký viết tay tại nhà tù Ba Lan trước khi bị treo cổ, Höss còn nói thẳng hơn, lạnh buốt:

“Chính Eichmann là người giới thiệu cho tôi phương pháp giết người bằng khí xả xe tải như đã làm ở phía Đông. Nhưng với số lượng người sắp được đưa đến Auschwitz, cách đó quá chậm. Chúng tôi cũng thảo luận về việc dùng khí CO qua vòi sen giả như đang làm với bệnh nhân tâm thần ở Đức, nhưng xây quá nhiều phòng và tìm nguồn khí lớn như vậy là bất khả thi. Chúng tôi chưa quyết định được. Eichmann nói hắn sẽ đi tìm một loại khí dễ kiếm, không cần lắp đặt phức tạp, rồi sẽ báo lại cho tôi.”

Suốt 8 tháng bị thẩm vấn trong lồng kính chống đạn, viên Obersturmbannführer từng nắm sinh mạng hàng triệu người vẫn giữ một giọng đều đều, vô cảm, như một nhân viên đường sắt về hưu: “Tôi chỉ phối hợp tàu. Tôi chỉ lo lịch trình. Khi đoàn tàu đến đúng ga đích theo biểu đồ của hội nghị Lịch tàu, quyền hạn của tôi chấm dứt.”

Eichmann nhắc đi nhắc lại câu đó như một điệp khúc, như thể hàng triệu người Do Thái tự động bốc hơi ngay khi bánh xe lửa dừng lại, mà không cần ai mở cửa toa, không cần ai dẫn họ vào phòng hơi ngạt, không cần ai ký giấy nhận hàng “hàng sống – trả hàng chết”. Ông ta nói đúng một nửa: ông ta quả thực chỉ ký giấy, chỉ điều tàu, chỉ lập biểu. Nhưng chính những tờ lịch trình tàu ấy, chính những con dấu của Eichman, chính những dòng chữ “đúng giờ” đã trở thành bản án tử hình chung cho sáu triệu con người.​
 
Chương 2: Holocaust (tiếp)

Năm 1943, Zvi Aharoni rời kibbutz Alonim với chưa đầy một bảng Anh trong túi.

Năm năm lao động cực nhọc trên những cánh đồng đá, những đêm ngủ chung chuồng bò, những buổi học tiếng Hebrew dưới ánh đèn dầu, tất cả như bị một nhát bút xóa sạch. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, cả một chương đời đã khép lại. Tại trạm tuyển quân Sarafand, thủ tục nhanh đến mức lạnh người: ký tên, kiểm tra sức khỏe, chụp ảnh, đóng dấu. Xong.

Ngày hôm sau, anh đã chính thức thuộc về “Lực lượng của Đức vua” (His Majesty’s Forces), đội quân Anh đang cần từng người Do Thái tình nguyện để ra mặt trận châu Âu và Bắc Phi chống phát xít. Không chỉ mình anh. Người vợ trẻ của anh, cô gái kibbutz từng cùng anh cuốc đất, vắt sữa bò từ sáng sớm, cũng nhất quyết không chịu ở lại Alonim một mình. Cô ký tên ngay bên dưới chồng. Hai con người ấy, chưa đầy 24 tiếng trước còn là nông dân trồng cam và nuôi gà, giờ đã khoác lên mình màu áo kaki của quân đội Anh, chuẩn bị lên tàu vượt Địa Trung Hải.

“Ba tháng đầu tiên ở trại huấn luyện Sarafand là những ngày hành xác đúng kiểu Anh: đứng nghiêm hàng giờ dưới nắng, súng lê lóe sáng, mũi giày phải bóng loáng đến mức soi gương được. Chúng tôi thuộc “Trung đoàn Palestine” – đơn vị kỳ lạ gồm đa số người Do Thái và một ít tình nguyện viên Ả Rập. Tin đồn lan khắp doanh trại: cả trung đoàn này sẽ bị giữ chết dí ở Trung Đông đến hết chiến tranh, không bao giờ được đặt chân lên châu Âu để bắn phát xít.

Ngày nghe loa phát thanh doanh trại gọi: “Ai thông thạo tiếng Đức, bước ra hàng!” – tôi báo danh ngay lập tức, tim đập thình thịch. Kiểm tra miệng chưa đầy mười phút. Một đại úy Anh hỏi tôi vài câu về Goethe và cách chào hỏi trong quân đội Đức. Xong.

Đêm đó tôi đã lên xe jeep rời Sarafand, túi áo lính thường gắn thêm hai vạch sergeant mới toanh. Điểm đến: trụ sở Lực lượng Trung Đông ở Maadi, ngoại ô Cairo. Nhiệm vụ mới: ngồi trong căn phòng tối om cùng tai nghe, thẩm vấn tù binh Đức cấp cao, rồi sau đó bật máy ghi âm bí mật nghe lén chúng nói chuyện với nhau trong buồng giam (khi chúng tưởng không còn ai nghe).”

Đoàn tàu chở chúng tôi rời Port Said trong cái nắng cháy da. Mười mấy chiếc vận tải cũ kỹ, đầy ắp lính Palestine, lênh đênh sáu ngày đêm giữa Địa Trung Hải. Đêm thứ ba, ngay eo biển Messina, tiếng còi báo động rú lên giữa bóng tối. Tàu bên cạnh trúng ngư lôi U-boat Đức – một cột lửa bùng lên, rồi im bặt. Không ai biết có bao nhiêu người chìm theo con tàu ấy. Những ngày còn lại chỉ còn tiếng loa ra lệnh “alarm!”, tiếng chân chạy trên sàn thép, tiếng đại bác phòng không nã liên hồi vào khoảng không. Không ai phân biệt nổi đâu là thực, đâu là diễn tập.

Quân Đồng Minh giải phóng Naples/Napoli - 1943


Vài tháng sau khi cập cảng Napoli tan hoang, tôi được điều về một đơn vị cơ động nhỏ của Quân đoàn 8 Anh, đóng ngay phía sau tuyến đầu. Lều vải dựng trên đất đỏ, đào sâu nửa mét để tránh đạn.”

Zvi Aharoni nhớ lại bằng giọng đều đều, như kể chuyện của người khác:

“Nhiều đêm, máy bay Đức bay qua thả bom. Chúng tôi không sợ bom rơi trúng lều lắm – xác suất quá thấp. Điều đáng sợ là đạn phòng không của chính quân mình nổ tung trên đầu, rồi hàng ngàn mảnh thép nóng đỏ rơi xuống như mưa. Lệnh trên ban: hễ có báo động là phải chạy ra khỏi lều, tìm nhà đá gần nhất trú ẩn. Nhưng tôi chưa thấy ai làm thế bao giờ. Mỗi lần bị đánh thức giữa đêm bởi tiếng bom và tiếng pháo, tôi chỉ kéo cái mũ sắt trùm kín mặt, nằm yên, cố ngủ tiếp. Nếu phải ăn mảnh đạn đồng đội – ít ra cũng không trúng mặt.”

Chỉ cách tu viện cổ kính trên đỉnh Monte Cassino vài cây số, quân Đồng minh đứng chết lặng trong bình minh ngày 11-5. Hơn một nghìn máy bay ném bom bốn động cơ kéo đến, từng đàn như châu chấu che kín trời. Chúng trút hàng ngàn tấn bom xuống tu viện và những ngọn đồi xung quanh. Tiếng nổ liên hồi hơn một giờ liền, rung chuyển cả đất trời, nghe như một cơn giông bão kinh hoàng. Cột khói đen dựng ngược lên tận mây. Sau đó, cuộc tấn công bắt đầu. Lữ đoàn New Zealand và quân Ba Lan của tướng Anders lao lên trước. Những người lính Đức dù dù tinh nhuệ còn lại chiến đấu như thú dữ, từng mét đất đều phải trả bằng máu. Mãi đến ngày 4-6-1944, Rome mới được giải phóng.

“Một lần nữa lửa lại bùng lên ở Rimini. Quân Đức tung đòn phản công cuối cùng, quyết liệt đến mức một số đơn vị Đồng minh phải bỏ chạy tán loạn, vứt lại xe tăng, đại bác, ba lô đầy đường. Tôi chứng kiến cảnh lính chạy giật lùi, mặt trắng bệch, mắt hoảng loạn – lần đầu tiên thấy chiến tranh có thể khiến người ta quên cả tự trọng.”

Zvi Aharoni sau này kể lại, giọng nhẹ như gió:

“Bốn năm ấy là quãng thời gian sôi nổi và đáng giá nhất đời tôi. Tôi học tiếng Anh, học cách uống trà sữa lúc năm giờ chiều, học cách mỉm cười khi bị chửi và vẫn gọi đó là ‘good manners’ kiểu Anh. Tôi gặp lính Úc to như tủ, lính New Zealand xăm trổ đầy mình, lính Nam Phi kể chuyện sư tử, lính Mỹ nhai kẹo cao su và gọi mọi người là ‘buddy’.

Cậu bé kibbutz ngày nào chỉ biết cuốc đất trồng cam, giờ đã nói được bốn thứ tiếng, đã nếm mùi bom đạn từ sa mạc Libya đến dãy Alps, đã bắt tay những người lính từ năm châu.

Zvi Aharoni học được cả tiếng Ý – không phải từ sách vở, mà từ những người dân nghèo khổ nhất bán đảo.

“Chúng tôi thân với dân thường lắm. Họ tốt đến mức đôi khi mình thấy áy náy. Có một gia đình nông dân ở làng Chiaravalle, gần biển Adriatic. Chúng tôi đóng quân trên sườn đồi cạnh vườn nho của họ. Chỉ vài tuần đã thành người nhà. Bà mẹ gọi tôi là ‘figlio mio’ – con trai tôi. Ngày đơn vị rút đi, bà khóc nức nở, ôm lấy tôi như ôm đứa con thật. Tôi vẫn còn giữ cái khăn tay bà dúi vào tay tôi lúc chia tay.
O7geRj7a.jpg

Lực lượng Do Thái đang dùng bữa trưa tạm trên chiến trường - Nam Ý - 1943

Nhưng ngoài những mảnh ấm áp hiếm hoi ấy, Ý lúc đó chỉ còn là một nghĩa địa sống. Trẻ con gái 14, 15 tuổi đứng đầu ngõ, chân chi chít vết nứt do lạnh, mặc áo mỏng dính giữa mùa đông. Một điếu thuốc lá là đủ để mua thân xác chúng. Có lần ở cảng Napoli, tôi thấy một thằng bé chừng 9-10 tuổi, mặc nguyên quần áo, nhảy ùm xuống nước lạnh buốt chỉ để vớt một mẩu thuốc lá lính Mỹ vứt đi. Nó ngậm mẩu thuốc ướt sũng trong miệng, cười toe toét như vừa nhặt được vàng.

Còn lính tráng chúng tôi? Đói và lạnh triền miên. Ngay cả trung sĩ như tôi cũng không có giường, không chiếu. Ngủ thẳng xuống nền đá lạnh ngắt, lót mỗi tấm bạt mỏng. Mỗi thằng một cái chăn len mỏng dính. Đêm đông cắt da cắt thịt, trong mấy ngôi nhà Ý không lò sưởi, chúng tôi phải mặc nguyên áo trận và áo bông, đi cả giày mà nằm, chỉ dám tháo mỗi cái mũ sắt. Không, mùa đông 1943-1944 ở Ý không hề vui chút nào.”

Để bổ sung vào khẩu phần quân đội ít ỏi của mình, nhiều người trong đơn vị của Aharoni liên tục để mắt tìm kiếm những người nông dân sẵn sàng đổi trứng hoặc táo lấy thuốc lá. Mỗi tuần một lần, một xe bán hàng lưu động ghé qua. Khi ấy, họ mới có trà và bánh quy. Mỗi tuần một lần, xe tắm di động cũng xuất hiện, mang theo nước ấm và một chiếc khăn sạch. Vào những ngày đặc biệt may mắn, họ còn được phát thêm đôi tất mới - những niềm vui nho nhỏ giữa cuộc sống khắc nghiệt thời chiến, đắt giá chẳng kém gì vàng.​
 
Top