Cảnh báo lừa đảo‼️ Câu chuyện Chiếu Cần vương và bản dụ Cần vương duy nhất trong Châu bản triều Nguyễn

Dơi Nguyễn

Địt xong chạy

cách đây nhiều năm dư luận đã nhiều lần ồn ào về câu chuyện Dụ Cần vương[1](có lúc gọi là Chiếu Cần vương), bởi lẽ có đến 3 văn bản đã được công bố tạm gọi là Dụ Cần vương thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Dụ (hay Chiếu) Cần vương đã được giới nghiên cứu bàn luận trong nhiều thập kỷ, trong đó vấn đề được đặt ra nhiều nhất là tính xác thực của văn bản. Tuy nhiên cho đến nay hầu như chưa có cứ liệu nào đủ sức thuyết phục để khẳng định chắc chắn bản Dụ (Chiếu) nào là hoàn toàn xác thực, bởi nguồn gốc các văn bản này đều khá mơ hồ.​


1. Về bản Dụ Cần vương duy nhất trong Châu bản triều Nguyễn

Sử nhà Nguyễn không ghi chép chi tiết nội dung các bản Dụ Cần vương cũng như chính xác có bao nhiêu lần xuống Dụ.
Đại Nam thực lục có lược ý tương đối chi tiết về hai bản Dụ, trong đó một bản được cho là do Tôn Thất Thuyết gửi Nguyễn Văn Tường và một bản gửi cho những người trong dòng dõi tông thất. Tuy nhiên Dụ Cần vương chính thức như các văn bản đã công bố đều không thấy ghi chép.

Khảo cứu khối Châu bản triều Nguyễn hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I chúng tôi chỉ tìm thấy duy nhất một bản Dụ đề ngày 12 tháng 6 năm Hàm Nghi nguyên niên (1885). Bản Dụ nằm trong tập văn bản của địa phương gửi về Kinh đô có thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 niên hiệu Hàm Nghi thứ nhất (1885). Nội dung của tập văn bản chủ yếu là các bản Tấu, Tư trình của Tuần phủ Trị Bình, Sơn phòng sứ Quảng Trị, Bố Chánh sứ Hà Tĩnh và một số tờ Bẩm của dân địa phương gửi về triều đình báo cáo tình hình hoạt động của Tôn Thất Thuyết và xa giá của vua Hàm Nghi tại Quảng Trị và Hà Tĩnh.

Bản Dụ gồm 2 trang, chữ viết ngay ngắn kiểu chữ chân đá thảo, văn phong ngắn gọn, súc tích, mang tính chất truyền mệnh lệnh, đóng dấu đầy đủ phù hợp với thể thức một văn bản hành chính. Nội dung cụ thể như sau:

Dụ rằng: Gần đây do người Pháp bức bách, (Trẫm) bất đắc dĩ phải rời Kinh khiến nhân tình không tránh khỏi kinh động. Các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc cần sớm phòng bị cho yên để lo việc sau này. Truyền cho lấy Hiệp biện Đại học sĩ sung Cơ Mật viên Đại thần Vũ Trọng Bình sung làm Chánh Khâm sai đại thần; Thự Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật, Thự Tả Tham tri Bộ Binh Trương Văn Đễ đều sung làm Phó Khâm sai Đại thần; Biện lý Bộ Công Nguyễn Văn Thái sung làm Tham biện, lập tức đến các nơi hiểu dụ để các tướng được yên, không được nói năng thiếu căn cứ làm mê hoặc lòng người. Các ngươi cố gắng phòng bị đợi cơ hội, việc này cần phải tùy thời thế giải quyết cho thỏa đáng để xứng với sự ủy thác. Khâm thử!
5-du-can-vuong-chau-ban-150452-030723-80.jpg


Bản Dụ Cần vương duy nhất trong Châu bản triều Nguyễn đề ngày 12 tháng 6 năm Hàm Nghi nguyên niên (1885). Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I/Châu bản triều Nguyễn


Về thể thức văn bản, tờ Dụ ghi rõ “Hàm Nghi nguyên niên lục nguyệt thập nhị nhật” tức ngày 12 tháng 6 năm Hàm Nghi thứ nhất (1885) rất đúng với cách ghi niên hiệu trong các văn bản hành chính triều Nguyễn. Tại cuối văn bản ghi “Cơ Mật viện cung lục” trường hợp này là giao cho Cơ Mật viên Đại thần Nguyễn Trọng Bình cung kính sao chép, “Phó Khâm sai đại thần Trương quý chức tuân phụng”, tức giao cho Trương Văn Đễ tuân mệnh thực hiện.

Điều đặc biệt, văn bản được đóng liên tiếp 6 hình dấu của cùng một con dấu ghi rõ “Võ Hiển điện Đại học sĩ quan phòng”, được bố trí thành 3 hàng dọc. Trong đó 3 hình dấu đóng trên phần nội dung tại các vị trí quan trọng ghi tên họ, chức vụ của các viên được giao trách nhiệm, 1 hình dấu đóng ở cuối phần nội dung. Đây là cách đóng dấu rất phù hợp với thể thức văn bản hành chính trong Châu bản triều Nguyễn để tránh việc tẩy chữa, thêm bớt tại những chỗ quan trọng. Tại phần niên đại một hình dấu được đóng lên vị trí ghi ngày tháng và một hình dấu đóng lên vị trí ghi tên người chịu trách nhiệm soạn thảo ban hành văn bản, cũng rất đúng thể thức.

Về con dấu, đây là quan phòng chức danh của Tôn Thất Thuyết, tại thời điểm đó ông đang giữ quan hàm Võ Hiển điện Đại học sĩ lãnh Thượng thư Bộ Binh. Xét về quy cách sử dụng con dấu, triều Nguyễn quy định “các chỉ dụ, tấu chương, sổ sách thì dùng ấn Ngự tiền chi bảo"[1], có nghĩa rằng trường hợp này bản Dụ phải được đóng ấn “Ngự tiền chi bảo” của Hoàng đế nhưng ở đây dùng ấn quan phòng của Tôn Thất Thuyết là không hợp thức.

Tuy nhiên xét về thực tế, sau khi cuộc tấn công Tòa Khâm sứ thất bại, Tôn Thất Thuyết vội xin nhà vua xuất hành, “trong lúc gấp gáp chỉ kịp mang theo ấn Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát và 2 quả ấn kiềm”[2], như vậy không phải do điều kiện kháng chiến nên không có đầy đủ kim bảo của nhà vua để đóng lên văn bản cho hợp thức. Có lẽ đây là ý đồ có chủ đích của Tôn Thất Thuyết, trong trường hợp này ông thay mặt nhà vua ban Dụ trên danh nghĩa một đại thần, kiêm người đứng đầu Bộ Binh để truyền mệnh lệnh và giao nhiệm vụ cho quan binh với vai trò thủ lĩnh của cuộc kháng chiến.

Về nội dung, bản Dụ này vừa mang tính chất một “Lệnh dụ” truyền mệnh lệnh cho quan viên đi làm nhiệm vụ, vừa mang tính chất một “Hiểu dụ” kêu gọi vỗ yên binh tướng các nơi tránh xao động, bình tĩnh chuẩn bị tốt lực lượng chờ thời cơ đánh giặc.

Về niên đại, bản Dụ ghi rõ năm Hàm Nghi thứ nhất tháng 6 ngày 12, điều này cũng phù hợp vì thời điểm đó vua Hàm Nghi mặc dù đã xuất bôn nhưng triều đình vẫn giữ niên hiệu Hàm Nghi cho đến tháng 10 mới chuyển sang niên hiệu Đồng Khánh[3].

Qua xem xét nội dung và hình thức của văn bản cũng như đối chiếu với ghi chép của Thực lục có thể khẳng định đây là văn bản gốc, xác thực, không phải bản ngụy tạo. Ngoài ra cũng có thể khẳng định đây là bản Dụ do Tôn Thất Thuyết thay mặt nhà vua ban hành. Xét về bối cảnh là hợp lý bởi mặc dù vua Hàm Nghi là danh nghĩa chính thức nhưng Tôn Thất Thuyết mới thực chất giữ vai trò thủ lĩnh của phong trào Cần vương.


6-phu-chinh-dai-than-ton-that-thuyet-150452-030723-80.jpg


Tôn Thất Thuyết, Phụ chính đại thần phò tá vua Hàm Nghi trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ 19.

2. Một vài nhận định

Tóm lại, xem xét cả 3 bản Dụ (Chiếu) đã công bố và bản Dụ Cần vương duy nhất nằm trong khối Châu bản triều Nguyễn thời vua Hàm Nghi có thể tạm đưa ra một vài nhận định như sau:

Về nội dung: cả 3 bản Dụ (Chiếu) Cần vương đã công bố trước đây đều có một điểm nhất quán đó là vạch tội quân Pháp xâm lược, kêu gọi sĩ phu, nhân dân đồng lòng phò vua giúp nước chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp. Điều này là phù hợp với bối cảnh lịch sử tại Việt Nam lúc đó. Tuy nhiên tại mỗi văn bản đều có một số chi tiết mâu thuẫn với chính sử hoặc không phù hợp trong lối hành văn dạng Chiếu, Dụ. Đặc biệt bản Chiếu Cần vương thứ 3 cho rằng vua Hàm Nghi đã sang nước Đức cầu viện sự giúp đỡ là khó thuyết phục.

Về thể thức: Trừ bản Dụ thứ 2 không có bản gốc chữ Hán, hai bản Dụ (Chiếu) còn lại đã công bố nguyên bản chữ Hán nhưng đều không phù hợp với thể thức một văn bản hành chính chuẩn mực. Bản Dụ Cần vương thứ nhất mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho là xác thực, xét về cách thức hành văn cũng khá phù hợp, tuy nhiên văn bản không có bất cứ hình dấu nào theo nguyên tắc là không hợp thức với một văn bản hành chính, nhất là văn bản có tính pháp quy dạng mệnh lệnh. Bản Chiếu Cần vương năm 1889 thậm chí còn sai hoàn toàn thể thức từ cách sắp xếp chữ Hán đến con dấu hay họa tiết trang trí.

Về tính pháp lý: Dụ hay Chiếu là loại văn bản mang tính quy phạm chỉ có nhà vua được ban hành, vì vậy dù có giao cho tổ chức hay cá nhân nào thay mặt nhà vua soạn thảo thì cũng đòi hỏi sự chặt chẽ về pháp lý. Trường hợp này Tôn Thất Thuyết thay mặt nhà vua ban Dụ là có thể chấp nhận trong điều kiện chiến tranh và nhà vua còn quá trẻ, dù vậy vẫn phải tuân thủ văn ngôn và thể thức của Chiếu, Dụ.

Về bản Dụ duy nhất nằm trong tập Châu bản triều Hàm Nghi, có thể xác định đây là văn bản gốc, có đầy đủ con dấu, phù hợp với thể thức văn bản hành chính của triều Nguyễn. Khác với nội dung 3 văn bản đã công bố trình bày khá dài dòng, bản Dụ này nội dung ngắn gọn súc tích, ngôn từ dứt khoát, thực chất như một tờ lệnh bổ nhiệm và giao nhiệm vụ cho các “Khâm sai đại thần” tức các vị trí quan trọng do nhà vua đặc phái đại diện cho triều đình đi thực thi chức trách. Bản Dụ cũng nói rõ nguyên nhân nhà vua phải xuất bôn, đồng thời hiểu dụ tướng lĩnh tại các địa phương yên lòng tránh xao động chuẩn bị tốt lực lượng chờ cơ hội đánh giặc.

Với những nội dung và hình thức như vậy, văn bản này có thể coi như một bản Dụ Cần vương chính thức, góp thêm một tư liệu quan trọng khẳng định quyết tâm kháng chiến của vua Hàm Nghi và các thủ lĩnh phong trào Cần vương. Văn bản cũng đồng thời làm phong phú thêm nguồn tư liệu còn đang khá thiếu hụt cho việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử này./.




Tài liệu tham khảo:

1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, cơ sở dữ liệu Châu bản triều Nguyễn.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (chính biên).

3. Kỷ yếu Hội thảo khoa học lịch sử "Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường", Đại học Sư phạm tp.HCM, 1996.

4. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 140, 1971.

5. Tạp chí Xưa & Nay, số 128, 2002.

6. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3 (563), 2023.


1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 50.
[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ ngũ kỷ, quyển 8.
[3] Từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất, sau khi Kinh thành có việc, đến trước ngày mồng 10 tháng 8, Xuất đế (Hàm Nghi) đã dời ra ngoài rồi, trong triều đình và ngoài các tỉnh không biết lệ thuộc vào đâu và từ sau ngày mồng 10 tháng ấy đến cuối tháng 9, vua Cảnh tông Thuần hoàng đế ta (Đồng Khánh) dẫu đã nối ngôi vua mà tuyên bố bảo Dụ, nhưng trong nước còn chưa biết, niên hiệu vẫn chép là Hàm Nghi. Vả phương nam phương bắc đều vâng Dụ vua Hàm Nghi dấy quân Cần vương, những kẻ khởi sự đều cầm nắm làm cớ để khởi binh. Còn từ sau ngày mồng 1 tháng 10 năm ất Dậu [1885] là niên hiệu Đồng Khánh (Đại Nam thực lục).
 
Ngu Lồn, theo nhà Thanh. bế quan toả cảng làm đất nước tụt hậu.

Ông tôn thất Thuyết có phải là cái ông mà mấy lần phế truat vua và Lập vua mới không?

Thời xưa toàn dùng chữ hán nhỉ, ước gì không có chữ hán thì bây giờ có thể đi Trung Quốc chơi mà không phải lo về vấn đề ngôn ngữ
Thuyết là kẻ mất dạy, lưu manh, giết vua.
 
Ông tôn thất Thuyết có phải là cái ông mà mấy lần phế truat vua và Lập vua mới không?

Thời xưa toàn dùng chữ hán nhỉ, ước gì không có chữ hán thì bây giờ có thể đi Trung Quốc chơi mà không phải lo về vấn đề ngôn ngữ
nhìn mặt xem tướng số xem

tao thấy giống vinh râu vãi
 
Nó làm cái chiếu này, đánh pháp đéo lại nên quay ra đánh dân Công giáo.
Võ khí thì cầm dao, bên Pháp thì cầm súng 6 nòng, vậy mà bảo binh lính xung lên. Đm nó, xung lên rồi củng thua, cứ như Nhật và Thái, mở cửa làm ăn thu thuế là xong mẹ rồi.
 

Có thể bạn quan tâm

Top