JoeBidenDC
Tâm hồn dẩm chúa
"Do không có hiệp định hòa bình nên về mặt kỹ thuật Triều Tiên và Hàn Quốc vẫn tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến"
Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến đầu tiên mà Liên Hiệp Quốc (LHQ), một tổ chức quốc tế, đã đóng vai trò quân sự. Tổ chức này mới được thành lập 5 năm về trước.
Chiến Tranh Triều Tiên bùng nổ vào ngày 25/6/1950 khi quân đội Bắc Triều Tiên theo chế độ ********, đã tràn qua biên giới, xâm lăng Nam Triều Tiên. LHQ đã gọi cuộc xâm lăng này là một vi phạm vào nền hòa bình thế giới và đã đòi hỏi quân đội ******** phải rút ra khỏi Nam Triều Tiên. Nhưng sau khi quân đội ******** Bắc Triều Tiên tiếp tục tấn công, Hoa Kỳ phải kêu gọi các quốc gia hội viên LHQ giúp đỡ quân sự cho Nam Triều Tiên. 16 quốc gia đã gửi quân tham chiến tới đây và 41 nước khác cũng đã chuyển tới các dụng cụ, thực phẩm và các tiếp liệu khác, trong khi đó Hoa Kỳ cung cấp 90 phần trăm binh lính, dụng cụ quân sự và các tiếp tế khác cho Nam Triều Tiên. Phía ********, ngoài Bắc Triều Tiên còn có Trung Cộng, trong khi Liên Xô trợ giúp Bắc Triều Tiên bằng các dụng cụ quân sự.
1. Các nguyên nhân của cuộc chiến
Vào năm 1895, Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên và từ năm 1910 đã biến miền đất này thành một phần đất bảo hộ của Nhật Bản. Sau khi lực lượng Đồng Minh đánh thắng Nhật Bản trong Thế Chiến Thứ Hai (1939-45), các lực lượng quân sự Hoa Kỳ và Liên Xô đã tiến vào bán đảo Triều Tiên và quân đội Nhật Bản đã đầu hàng, mạn bắc trước quân đội Liên Xô còn phía nam trước quân đội Hoa Kỳ. Hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ đã thiết lập trên bán đảo này hai chế độ chính trị tương phản nhau, miền bắc theo ******** còn miền nam theo nền dân chủ. Đất nước Triều Tiên từ này bị chia đôi, dọc theo biên giới tạm thời gần vĩ tuyến 38.
Vào năm 1947, Đại Hội Đồng LHQ tuyên bố rằng cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trên khắp đất nước Triều Tiên để chọn ra một chính quyền cho cả nước. Liên Xô đã phản đối đề nghị này và không cho phép bầu cử tại miền bắc. Vào ngày 10/5/1948, dân chúng Nam Triều Tiên đã bầu ra một quốc hội rồi từ đây có chính phủ của nước Cộng Hòa Triều Tiên (the Republic of Korea), với Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) làm Tổng Thống và nền cai trị dân chủ này bị tham nhũng và không hữu hiệu. Tới ngày 9/9, các người ******** tại miền bắc Triều Tiên cũng lập nên nước Dân Chủ Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên (the Democratic People’s Republic of Korea) bị cai trị dưới sự độc tài của Kim Nhật Thành (Kim Il Sung). Cả hai miền này đều coi là mình hợp pháp trên toàn lãnh thổ và quân đội của hai phía đã từng nhiều lần đụng độ với nhau dọc theo miền biên giới trong thời gian từ 1948 tới 1950. Trong năm 1949, Hoa Kỳ đã di chuyển quân lực khỏi Nam Triều Tiên và cho biết rằng từ đầu năm 1950, Triều Tiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của lực lượng phòng thủ của Hoa Kỳ tại châu Á. Vì thế các người ******** tin rằng đây là lúc phải hành động quân sự.
2. Cuộc chiến bùng nổ
Khi xâm lăng Nam Triều Tiên, quân đội Miền Bắc có vào khoảng 135,000 lính. Nhiều binh lính này đã từng chiến đấu cho Trung Hoa và Liên Xô trong thời Thế Chiến Thứ Hai. Bắc Triều Tiên cũng có máy bay, súng đại bác và xe bọc thép. Quân lực Nam Triều Tiên khi đó vào khoảng 95,000 người, với một số máy bay và súng hạng nặng nhưng thiếu xe thiết giáp vì vậy vào thời gian đầu, quân lực Nam Triều Tiên không chống nổi sức tấn công của quân địch.
Khi cuộc chiến lên tới cao độ mạnh nhất, quân Bắc Triều Tiên lên tới 260,000 lính và Trung Cộng phái qua giúp 780,000 lính trong khi đó, Nam Triều Tiên và các lực lượng LHQ gồm 1,110,000 binh sĩ, với 590,000 thuộc Nam Triều Tiên, 480,000 của Hoa Kỳ, và 39,000 binh lính từ các nước Úc, Bỉ, Canada, Colombia, Ethiopia, Pháp, Anh, Hy Lạp, Luxembourg, Hòa Lan, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Nam Phi, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ.
Vào ngày chiến tranh bùng nổ, Hội Đồng Bảo An LHQ đã ra một nghị quyết đòi hỏi các toán quân ******** phải ngưng chiến và rút về vĩ tuyến 38. Khi đó Liên Xô là một trong 11 quốc gia thành viên của Hội Đồng Bản An, đã có thể phủ quyết nghị quyết kể trên, nhưng Liên Xô đã tẩy chay các buổi họp của Hội Đồng Bảo An vì phản đối thành viên Trung Hoa Quốc Gia trong Hội Đồng này và các đại biểu của Liên Xô đã vắng mặt khi cuộc bỏ phiếu diễn ra.
Bắc Triều Tiên đã không quan tâm đến đòi hỏi của Liên Hiệp Quốc, vẫn tiến quân và vào ngày 27/6, đã tiến gần ngoại ô của thủ đô Hán Thành (Seoul) của Nam Triều Tiên. Vào thời điểm này, chính quyền Hoa Kỳ sẵn sàng đối phó với tình thế vì sau đó 24 giờ, Tổng Thống Hoa Kỳ Harry S. Truman xác nhận lại chủ thuyết ngăn chặn làn sóng ******** của ông, áp dụng tại cả châu Á lẫn châu Âu, đã đòi hỏi quân ******** phải ngưng tiến quân.
Tổng Thống Truman đã ra lệnh cho Hạm Đội thứ 7 đi tuần trong vùng biển ngăn cách lục địa Trung Hoa và hòn đảo Đài Loan, tăng thêm viện trợ cho binh lực Pháp chống lại lực lượng Việt Minh tại Đông Dương, ra lệnh cho Tướng Douglas MacArthur gửi các tiếp liệu cho miền nam Triều Tiên và gửi đi một nghị quyết phản đối tới Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Khi Không Quân và Hải Quân Mỹ tới bán đảo Triều Tiên, lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ bắt đầu hành động từ ngày 30 tháng 6 và các máy bay Hoa Kỳ đã oanh tạc để làm chậm lại đà tiến của các đạo quân ********. Liên Hiệp Quốc kêu gọi các quốc gia thành viên giúp đỡ xứ Nam Triều Tiên. Quốc Hội Hoa Kỳ cũng yểm trợ các hành động của Tổng Thống Truman và các chính sách của LHQ nhưng không chính thức tuyên chiến với Bắc Triều Tiên.
Vào ngày 1 tháng 7, một phần của Sư Đoàn 24 Bộ Binh Hoa Kỳ được không vận tới Pusan là thành phố tại mỏm phía nam của Triều Tiên. Ngày hôm sau, các toán quân bắt đầu di chuyển tới các vị trí chiến đấu gần Taejon, vào khoảng 121 cây số (75 dặm) phía nam của Hán Thành, còn các đạo quân của các quốc gia thành viên LHQ khác tới Nam Triều Tiên sau đó. Vào ngày 5/7, do quân ******** đã chiếm xong Hán Thành, các toán quân Mỹ đầu tiên đụng trận với quân Bắc Triều Tiên tại Osan, 48 cây số (30 dặm) phía nam của Hán Thành.
Qua ngày 8 tháng 7, với sự chấp thuận của Hội Đồng Bảo An LHQ, Tổng Thống Hoa Kỳ Truman đã bổ nhiệm Tướng Douglas MacArthur làm Tổng Tư Lệnh của Lực Lượng Quân Sự LHQ gồm các lực lượng quân sự của Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ và các đoàn quân từ các nước khác. Tướng MacArthur đã chỉ huy mọi cuộc hành quân từ tổng hành dinh của ông tại Tokyo, Nhật Bản. Ngày 13/7, Trung Tướng Walton H. Walker, chỉ huy trưởng của Lộ Quân thứ 8 của Hoa Kỳ, trở nên tư lệnh chiến trường của các lực Đồng Minh trên bộ tại Triều Tiên.
Các đơn vị của Quân Đoàn 1 Kỵ Binh và Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã đổ bộ lên đất Triều Tiên vào ngày 19/7 để trợ giúp các binh lính của Sư Đoàn 24 đang bị áp đảo nhưng rồi thành phố Taejon rơi vào tay quân ******** vào ngày 21/7.
3. Vòng Đai Fusan
VTT-36-KoreanWarC.gif
Trung Đoàn Thủy Quân Lục Chiến thứ nhất và Sư Đoàn Bộ Binh thứ hai của Lục Quân Hoa Kỳ tới Nam Triều Tiên trễ vào cuối tháng 7 rồi các lực lượng Đồng Minh bị đẩy lui về Vòng Đai Pusan vào ngày 2 tháng 8. Vòng đai này là chiến tuyến ở góc đông nam của Nam Triều Tiên, được kéo dài từ thành phố Pohang nằm trên bờ biển đông nam, phía tây tới Taegu và phía nam và đông nam tới Pusan. Con sông Naktong là biên giới của vùng chiến địa này.
Các trận đánh nhau tại Vòng Đai Pusan đã là một khúc quanh của cuộc chiến. Phe Bắc Triều Tiên thiệt hại vào khoảng 58,000 quân và rất nhiều quân dụng khi tiến tới vùng này. Việc tăng nhanh lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã giúp cho Tướng Walker cách dùng quân uyển chuyển. Quân Bắc Triều Tiên đã cố gắng chọc thủng vòng đai trong khi Tướng Walker đã dùng các lực lượng trừ bị duy trì tuyến phòng thủ chính. Trên không, các máy bay Mỹ đã oanh tạc các đường tiếp tế của địch quân. Các chiến xa và đại bác Hoa Kỳ tới Pusan càng nhiều, khiến cho việc phòng thủ Pusan được củng cố.
Quân Bắc Triều Tiên thấy lực lượng Đồng Minh đạt được ưu thế quân lực, nên đã mở cuộc tấn công chính, vượt qua được con sông Naktong vào ngày 6/8 nhưng lực lượng Mỹ đã phản công và tránh cho phòng tuyến không bị chọc thủng khi quân Bắc Triều Tiên tới gần thành phố Taegu và rồi các tổn thất nặng nề khiến cho đạo quân ******** miền Bắc này phải rút ra vào ngày 25/8. Quân ******** còn tấn công Vòng Đai Pusan một lần nữa vào ngày 3 tháng 9, chiếm được Pohang 3 ngày sau rồi lực lượng Đồng Minh ngăn chặn được họ vào ngày 8/9.
4. Cuộc đổ bộ Inchon
Cuộc đổ bộ Inchon là một chiến thuật làm thay đổi cục diện của chiến trường. Vào giữa tháng 9 năm 1950, binh lính Hoa Kỳ thuộc Quân Đoàn 10 (the 10th Corps) có Thủy Quân Lục Chiến cùng đi, được chuyển vận từ Nhật Bản, đã đổ bộ lên Inchon, một địa điểm trên bờ biển tây bắc của Nam Triều Tiên. Tướng MacArthur đã chỉ huy cuộc hành quân này. Chiến thuật này đòi hỏi phải trù liệu rất tỉ mỉ bởi vì mực nước biển tại Inchon thay đổi hơn 9 mét, khi mực nước thủy triều lên cao, một con tầu đổ bộ sẽ lên tới gần bờ nhưng khi mực nước thủy triều xuống, con tầu sẽ mắc cạn trên lớp bùn dầy. Đoàn quân đổ bộ từ Inchon này đã cắt ngang đội quân ******** tại miền Bắc và đang vây hãm miền Pusan, khiến cho quân ******** hoàn toàn rối loạn, phải tìm cách sớm rút lui về miền bắc bởi vì đường tiếp tế đã bị cắt đứt. Cuộc đổ bộ Inchon là một trong các cuộc hành quân táo bạo và thành công nhất trong lịch sử chiến tranh, đã xác nhận “thiên tài quân sự” của Tướng MacArthur, vị tướng 5 sao và 71 tuổi.
Sau đó, Thiếu Tướng Edward M. Almond thuộc Quân Đoàn 10 đã điều động quân tiến về thủ đô Hán Thành (Seoul). Sau một trận đánh ác liệt, Tướng MacArthur công bố Hán Thành đã được chiếm lại vào ngày 26/9. Đồng thời, các đạo quân của Tướng Walter đánh ra ngoài vòng đai Pusan, gây nên các tổn thất rất nặng nề cho quân địch. Vào ngày 28/9, hai đạo quân Đồng Minh đã tiếp xúc được với nhau gần Hán Thành. Tướng MacArthur đã thông báo cho Bắc Triều Tiên phải đầu hàng, nhưng phía quân địch bác bỏ đề nghị.
Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến đầu tiên mà Liên Hiệp Quốc (LHQ), một tổ chức quốc tế, đã đóng vai trò quân sự. Tổ chức này mới được thành lập 5 năm về trước.
Chiến Tranh Triều Tiên bùng nổ vào ngày 25/6/1950 khi quân đội Bắc Triều Tiên theo chế độ ********, đã tràn qua biên giới, xâm lăng Nam Triều Tiên. LHQ đã gọi cuộc xâm lăng này là một vi phạm vào nền hòa bình thế giới và đã đòi hỏi quân đội ******** phải rút ra khỏi Nam Triều Tiên. Nhưng sau khi quân đội ******** Bắc Triều Tiên tiếp tục tấn công, Hoa Kỳ phải kêu gọi các quốc gia hội viên LHQ giúp đỡ quân sự cho Nam Triều Tiên. 16 quốc gia đã gửi quân tham chiến tới đây và 41 nước khác cũng đã chuyển tới các dụng cụ, thực phẩm và các tiếp liệu khác, trong khi đó Hoa Kỳ cung cấp 90 phần trăm binh lính, dụng cụ quân sự và các tiếp tế khác cho Nam Triều Tiên. Phía ********, ngoài Bắc Triều Tiên còn có Trung Cộng, trong khi Liên Xô trợ giúp Bắc Triều Tiên bằng các dụng cụ quân sự.
1. Các nguyên nhân của cuộc chiến
Vào năm 1895, Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên và từ năm 1910 đã biến miền đất này thành một phần đất bảo hộ của Nhật Bản. Sau khi lực lượng Đồng Minh đánh thắng Nhật Bản trong Thế Chiến Thứ Hai (1939-45), các lực lượng quân sự Hoa Kỳ và Liên Xô đã tiến vào bán đảo Triều Tiên và quân đội Nhật Bản đã đầu hàng, mạn bắc trước quân đội Liên Xô còn phía nam trước quân đội Hoa Kỳ. Hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ đã thiết lập trên bán đảo này hai chế độ chính trị tương phản nhau, miền bắc theo ******** còn miền nam theo nền dân chủ. Đất nước Triều Tiên từ này bị chia đôi, dọc theo biên giới tạm thời gần vĩ tuyến 38.
Vào năm 1947, Đại Hội Đồng LHQ tuyên bố rằng cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trên khắp đất nước Triều Tiên để chọn ra một chính quyền cho cả nước. Liên Xô đã phản đối đề nghị này và không cho phép bầu cử tại miền bắc. Vào ngày 10/5/1948, dân chúng Nam Triều Tiên đã bầu ra một quốc hội rồi từ đây có chính phủ của nước Cộng Hòa Triều Tiên (the Republic of Korea), với Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) làm Tổng Thống và nền cai trị dân chủ này bị tham nhũng và không hữu hiệu. Tới ngày 9/9, các người ******** tại miền bắc Triều Tiên cũng lập nên nước Dân Chủ Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên (the Democratic People’s Republic of Korea) bị cai trị dưới sự độc tài của Kim Nhật Thành (Kim Il Sung). Cả hai miền này đều coi là mình hợp pháp trên toàn lãnh thổ và quân đội của hai phía đã từng nhiều lần đụng độ với nhau dọc theo miền biên giới trong thời gian từ 1948 tới 1950. Trong năm 1949, Hoa Kỳ đã di chuyển quân lực khỏi Nam Triều Tiên và cho biết rằng từ đầu năm 1950, Triều Tiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của lực lượng phòng thủ của Hoa Kỳ tại châu Á. Vì thế các người ******** tin rằng đây là lúc phải hành động quân sự.
2. Cuộc chiến bùng nổ
Khi xâm lăng Nam Triều Tiên, quân đội Miền Bắc có vào khoảng 135,000 lính. Nhiều binh lính này đã từng chiến đấu cho Trung Hoa và Liên Xô trong thời Thế Chiến Thứ Hai. Bắc Triều Tiên cũng có máy bay, súng đại bác và xe bọc thép. Quân lực Nam Triều Tiên khi đó vào khoảng 95,000 người, với một số máy bay và súng hạng nặng nhưng thiếu xe thiết giáp vì vậy vào thời gian đầu, quân lực Nam Triều Tiên không chống nổi sức tấn công của quân địch.
Khi cuộc chiến lên tới cao độ mạnh nhất, quân Bắc Triều Tiên lên tới 260,000 lính và Trung Cộng phái qua giúp 780,000 lính trong khi đó, Nam Triều Tiên và các lực lượng LHQ gồm 1,110,000 binh sĩ, với 590,000 thuộc Nam Triều Tiên, 480,000 của Hoa Kỳ, và 39,000 binh lính từ các nước Úc, Bỉ, Canada, Colombia, Ethiopia, Pháp, Anh, Hy Lạp, Luxembourg, Hòa Lan, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Nam Phi, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ.
Vào ngày chiến tranh bùng nổ, Hội Đồng Bảo An LHQ đã ra một nghị quyết đòi hỏi các toán quân ******** phải ngưng chiến và rút về vĩ tuyến 38. Khi đó Liên Xô là một trong 11 quốc gia thành viên của Hội Đồng Bản An, đã có thể phủ quyết nghị quyết kể trên, nhưng Liên Xô đã tẩy chay các buổi họp của Hội Đồng Bảo An vì phản đối thành viên Trung Hoa Quốc Gia trong Hội Đồng này và các đại biểu của Liên Xô đã vắng mặt khi cuộc bỏ phiếu diễn ra.
Bắc Triều Tiên đã không quan tâm đến đòi hỏi của Liên Hiệp Quốc, vẫn tiến quân và vào ngày 27/6, đã tiến gần ngoại ô của thủ đô Hán Thành (Seoul) của Nam Triều Tiên. Vào thời điểm này, chính quyền Hoa Kỳ sẵn sàng đối phó với tình thế vì sau đó 24 giờ, Tổng Thống Hoa Kỳ Harry S. Truman xác nhận lại chủ thuyết ngăn chặn làn sóng ******** của ông, áp dụng tại cả châu Á lẫn châu Âu, đã đòi hỏi quân ******** phải ngưng tiến quân.
Tổng Thống Truman đã ra lệnh cho Hạm Đội thứ 7 đi tuần trong vùng biển ngăn cách lục địa Trung Hoa và hòn đảo Đài Loan, tăng thêm viện trợ cho binh lực Pháp chống lại lực lượng Việt Minh tại Đông Dương, ra lệnh cho Tướng Douglas MacArthur gửi các tiếp liệu cho miền nam Triều Tiên và gửi đi một nghị quyết phản đối tới Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Khi Không Quân và Hải Quân Mỹ tới bán đảo Triều Tiên, lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ bắt đầu hành động từ ngày 30 tháng 6 và các máy bay Hoa Kỳ đã oanh tạc để làm chậm lại đà tiến của các đạo quân ********. Liên Hiệp Quốc kêu gọi các quốc gia thành viên giúp đỡ xứ Nam Triều Tiên. Quốc Hội Hoa Kỳ cũng yểm trợ các hành động của Tổng Thống Truman và các chính sách của LHQ nhưng không chính thức tuyên chiến với Bắc Triều Tiên.
Vào ngày 1 tháng 7, một phần của Sư Đoàn 24 Bộ Binh Hoa Kỳ được không vận tới Pusan là thành phố tại mỏm phía nam của Triều Tiên. Ngày hôm sau, các toán quân bắt đầu di chuyển tới các vị trí chiến đấu gần Taejon, vào khoảng 121 cây số (75 dặm) phía nam của Hán Thành, còn các đạo quân của các quốc gia thành viên LHQ khác tới Nam Triều Tiên sau đó. Vào ngày 5/7, do quân ******** đã chiếm xong Hán Thành, các toán quân Mỹ đầu tiên đụng trận với quân Bắc Triều Tiên tại Osan, 48 cây số (30 dặm) phía nam của Hán Thành.
Qua ngày 8 tháng 7, với sự chấp thuận của Hội Đồng Bảo An LHQ, Tổng Thống Hoa Kỳ Truman đã bổ nhiệm Tướng Douglas MacArthur làm Tổng Tư Lệnh của Lực Lượng Quân Sự LHQ gồm các lực lượng quân sự của Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ và các đoàn quân từ các nước khác. Tướng MacArthur đã chỉ huy mọi cuộc hành quân từ tổng hành dinh của ông tại Tokyo, Nhật Bản. Ngày 13/7, Trung Tướng Walton H. Walker, chỉ huy trưởng của Lộ Quân thứ 8 của Hoa Kỳ, trở nên tư lệnh chiến trường của các lực Đồng Minh trên bộ tại Triều Tiên.
Các đơn vị của Quân Đoàn 1 Kỵ Binh và Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã đổ bộ lên đất Triều Tiên vào ngày 19/7 để trợ giúp các binh lính của Sư Đoàn 24 đang bị áp đảo nhưng rồi thành phố Taejon rơi vào tay quân ******** vào ngày 21/7.
3. Vòng Đai Fusan
VTT-36-KoreanWarC.gif
Trung Đoàn Thủy Quân Lục Chiến thứ nhất và Sư Đoàn Bộ Binh thứ hai của Lục Quân Hoa Kỳ tới Nam Triều Tiên trễ vào cuối tháng 7 rồi các lực lượng Đồng Minh bị đẩy lui về Vòng Đai Pusan vào ngày 2 tháng 8. Vòng đai này là chiến tuyến ở góc đông nam của Nam Triều Tiên, được kéo dài từ thành phố Pohang nằm trên bờ biển đông nam, phía tây tới Taegu và phía nam và đông nam tới Pusan. Con sông Naktong là biên giới của vùng chiến địa này.
Các trận đánh nhau tại Vòng Đai Pusan đã là một khúc quanh của cuộc chiến. Phe Bắc Triều Tiên thiệt hại vào khoảng 58,000 quân và rất nhiều quân dụng khi tiến tới vùng này. Việc tăng nhanh lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã giúp cho Tướng Walker cách dùng quân uyển chuyển. Quân Bắc Triều Tiên đã cố gắng chọc thủng vòng đai trong khi Tướng Walker đã dùng các lực lượng trừ bị duy trì tuyến phòng thủ chính. Trên không, các máy bay Mỹ đã oanh tạc các đường tiếp tế của địch quân. Các chiến xa và đại bác Hoa Kỳ tới Pusan càng nhiều, khiến cho việc phòng thủ Pusan được củng cố.
Quân Bắc Triều Tiên thấy lực lượng Đồng Minh đạt được ưu thế quân lực, nên đã mở cuộc tấn công chính, vượt qua được con sông Naktong vào ngày 6/8 nhưng lực lượng Mỹ đã phản công và tránh cho phòng tuyến không bị chọc thủng khi quân Bắc Triều Tiên tới gần thành phố Taegu và rồi các tổn thất nặng nề khiến cho đạo quân ******** miền Bắc này phải rút ra vào ngày 25/8. Quân ******** còn tấn công Vòng Đai Pusan một lần nữa vào ngày 3 tháng 9, chiếm được Pohang 3 ngày sau rồi lực lượng Đồng Minh ngăn chặn được họ vào ngày 8/9.
4. Cuộc đổ bộ Inchon
Cuộc đổ bộ Inchon là một chiến thuật làm thay đổi cục diện của chiến trường. Vào giữa tháng 9 năm 1950, binh lính Hoa Kỳ thuộc Quân Đoàn 10 (the 10th Corps) có Thủy Quân Lục Chiến cùng đi, được chuyển vận từ Nhật Bản, đã đổ bộ lên Inchon, một địa điểm trên bờ biển tây bắc của Nam Triều Tiên. Tướng MacArthur đã chỉ huy cuộc hành quân này. Chiến thuật này đòi hỏi phải trù liệu rất tỉ mỉ bởi vì mực nước biển tại Inchon thay đổi hơn 9 mét, khi mực nước thủy triều lên cao, một con tầu đổ bộ sẽ lên tới gần bờ nhưng khi mực nước thủy triều xuống, con tầu sẽ mắc cạn trên lớp bùn dầy. Đoàn quân đổ bộ từ Inchon này đã cắt ngang đội quân ******** tại miền Bắc và đang vây hãm miền Pusan, khiến cho quân ******** hoàn toàn rối loạn, phải tìm cách sớm rút lui về miền bắc bởi vì đường tiếp tế đã bị cắt đứt. Cuộc đổ bộ Inchon là một trong các cuộc hành quân táo bạo và thành công nhất trong lịch sử chiến tranh, đã xác nhận “thiên tài quân sự” của Tướng MacArthur, vị tướng 5 sao và 71 tuổi.
Sau đó, Thiếu Tướng Edward M. Almond thuộc Quân Đoàn 10 đã điều động quân tiến về thủ đô Hán Thành (Seoul). Sau một trận đánh ác liệt, Tướng MacArthur công bố Hán Thành đã được chiếm lại vào ngày 26/9. Đồng thời, các đạo quân của Tướng Walter đánh ra ngoài vòng đai Pusan, gây nên các tổn thất rất nặng nề cho quân địch. Vào ngày 28/9, hai đạo quân Đồng Minh đã tiếp xúc được với nhau gần Hán Thành. Tướng MacArthur đã thông báo cho Bắc Triều Tiên phải đầu hàng, nhưng phía quân địch bác bỏ đề nghị.
