Đa Tình Công Tử
Bò lái xe
Lực lượng chủ đạo đi giành chính quyền tại Sài Gòn và nhiều địa phương ở Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám chính là Thanh niên Tiền phong. Đây là một lực lượng đặc biệt, được xây dựng và tổ chức bởi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một cảm tình viên Kộng sản, và được huấn luyện, vũ trang bởi chính người Nhật.
Để hiểu về Thanh niên Tiền phong, cần hiểu bối cảnh của cuộc đảo chính ngày 09/03/1945 của Nhật đối với Pháp. Đông Dương từ sau năm 1940 đã trở thành một thuộc địa trên danh nghĩa của Pháp, nhưng trên thực tế của Nhật. Sự đầu hàng của Pháp trước Đức Quốc Xã khiến cho Nhật có thể dễ dàng đóng quân ở Đông Dương, và yêu cầu chính quyền Pháp ở đây tham gia vào việc phòng thủ chung chống lại phe Đồng Minh. Vì lẽ đó mà Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng trở thành mục tiêu ném bom của máy bay Mỹ trong suốt Thế chiến. Khi người Nhật thất bại liên tục trên biển vào năm 1945, bộ tư lệnh Nhật đã tin rằng một cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào các lãnh thổ của Nhật là không thể tránh khỏi (đặc biệt là sau khi Philippines đã bị quân Đồng Minh chiếm lại). Chính vì vậy, người Nhật quyết định tăng cường sự thống trị của mình lên các lãnh thổ dễ bị đổ bộ, chẳng hạn như Đông Dương. Viện cớ người Pháp “không thành thật” trong việc thi hành hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, Nhật nổ súng trong một đêm, lật đổ Pháp tại Đông Dương. Diễn biến của cuộc đảo chính này được bác sĩ Ngô Văn Quỹ viết khá kĩ trong cuốn sách “Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau” do NXB Trẻ xuất bản năm 2001. Lúc này, nhận thấy một thời cơ cách mạng dần chín muồi (đó là Nhật đã lật được Pháp, mà Nhật vốn là một quốc gia phe Trục đang trên đà thất bại), Trung ương Đảng do Trường Chinh đứng đầu đã ra “Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12/03/1945. Nội dung chủ yếu của chỉ thị này đó là thay đổi khẩu hiệu từ chống Nhật, Pháp sang tập trung chống Nhật, nhằm thể hiện bản chất chống phát xít của phong trào cách mạng Việt Nam, tranh thủ phe Đồng Minh. Chỉ thị cũng yêu cầu cả nước chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong tinh thần chủ động chớp thời cơ bằng một lực lượng được xây dựng dần dần thông qua phát động chiến tranh du kích, chiếm cứ điểm, phá kho thóc v.v…
Đây là một chỉ thị quan trọng, tuy nhiên không hẳn là phù hợp cho bối cảnh cách mạng cả nước. Thực tế thì chỉ thị được hưởng ứng mạnh mẽ ở vùng nông thôn, đặc biệt là nông thôn phía Bắc sẽ chịu nạn đói hoành hành trong năm 1945 (một ngoại lệ là Quảng Ngãi, nơi du kích Ba Tơ chiếm được chính quyền khá sớm). Đường lối khởi nghĩa có phần Maoist (lấy nông thôn bao vây thành thị) này lại khó mà áp dụng ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Về sau, diễn biến của Cách mạng sẽ cho thấy chỉ khi có sự kết hợp của khởi nghĩa thành thị và nông thôn thì Cách mạng tháng Tám mới thành công. Đối với Nam Bộ, có lẽ nhờ tiếp cận chỉ thị này từ sớm qua liên lạc của bà Tám và ông Giáp mà Xứ ủy Tiền phong đã có khẩu hiệu “kháng Nhật, kiến quốc” khá sát với chỉ đạo của Pác Bó (tuy họ sẽ bị phe Giải phóng phê phán là thân Pháp).
Điều thú vị là trong Hồi ký và những bài viết kể lại sự kiện tháng Tám 1945 ở Sài Gòn, ông Giàu không nhắc mấy đến chỉ thị này, mà chỉ nhắc nhiều đến tinh thần của Nghị quyết Trung ương VIII từ năm 1941 về thành lập Việt Minh. Đối với ông Giàu, Việt Minh như một tổ chức đủ lớn để cho ông nhiều lý lẽ hành động theo cách mà ông thấy phù hợp. Ông từ chối thành lập các đoàn quân du kích ở miền Nam để chiếm cứ điểm như chỉ thị tháng 03/1945 có yêu cầu. Ông cũng chưa một lần ra Bắc hay gặp liên lạc viên của Trung ương để nhận lệnh. Trái lại, lực lượng mà ông dựa vào để hành động lại là Thanh niên Tiền phong, và kim chỉ nam của ông ngoài Nghị quyết VIII thì còn là kinh nghiệm về giành chính quyền mà Lenin đúc kết trong Cách mạng tháng Mười Nga, và trong tác phẩm Bàn về Cách mạng viết về Cách mạng 1905.
Trở lại với nội tình Việt Nam sau đảo chính Pháp – Nhật, dưới danh nghĩa Đại Đông Á, Nhật mau chóng trao trả độc lập danh nghĩa cho vua Bảo Đại, hòng có điều kiện thành lập ở Việt Nam các lực lượng quân địa phương như cách họ làm ở Miến Điện hay Mãn Châu. Vua Bảo Đại sau đó chỉ định sử gia Trần Trọng Kim thành lập một chính quyền gọi là Đế Quốc Việt Nam. Đây là một chính quyền phôi thai vì cơ sở hoạt động của nó là một Đạo Dụ của Bảo Đại, còn bản hiến pháp thì được cho là sẽ do một hội nghị lập hiến thông qua nhưng cuối cùng đã không thành sự thật. Đặc biệt, chính quyền này có vẻ là một chính quyền liên Kỳ, nơi mỗi Kỳ đều có một đại diện của Bảo Đại đóng vai trò không khác gì các quan toàn quyền Pháp ngày xưa ở mỗi Kỳ (gọi là quan khâm sai). Tất nhiên, bên cạnh mỗi quan khâm sai ở mỗi Kỳ là một cố vấn Nhật Bản, người trên danh nghĩa sẽ “cố vấn” các quyết định quan trọng trong thời gian Việt Nam chưa có hiến pháp.
Ngoài ra, chính quyền này cũng là một chính quyền không có quân đội. Có lẽ người Nhật chưa mấy tin tưởng vào ông vua Tây học Bảo Đại nên không muốn tổ chức một đội quân có thể bắn lại họ khi Đồng Minh đổ bộ. Tuy nhiên, chính quyền Trần Trọng Kim lại thương lượng được với người Nhật thành lập một Bộ gọi là Bộ Thanh Niên, do luật sư Phan Anh lãnh đạo, cốt để rèn luyện thể thao, sức khỏe, kỹ năng cho thanh niên theo tinh thần của Hướng Đạo Sinh. Một lực lượng hàng triệu thanh niên vì vậy đã được huy động và thực tế, họ không khác gì một đội quân sẵn sàng cầm súng chiến đấu (tất nhiên, đội thanh niên này chưa có súng trong tay). Ở miền Bắc và Trung, luật sư Phan Anh tổ chức được đội Thanh niên Tiền tuyến (hay còn gọi là Thanh niên Phan Anh, Thanh niên Hoàng Diệu). Còn ở miền Nam, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được giao tổ chức Thanh niên Tiền phong, hoạt động như một tổ chức bán vũ trang, có nhiệm vụ bảo vệ xóm làng, địa phương. Thanh niên Tiền phong còn tham gia cứu hộ, cứu nạn trong các vụ oanh tạc của phe Đồng Minh ở miền Nam, và tham gia vận động của cải, lương thực ứng cứu cho miền Bắc trong nạn đói Ất Dậu. Theo thống kê, lực lượng này ở Sài Gòn là 20 vạn, và trên toàn cõi miền Nam là hơn 1 triệu. Quân số Nhật Bản ở toàn Đông Dương thời điểm này là vào khoảng 30 vạn quân. Nhạc hiệu của tổ chức là bài Lên Đàng của Lưu Hữu Phước. Cờ hiệu là cờ vàng sao đỏ. Đồng phục áo sơ mi trắng cọc tay, quần đùi trắng, nón cối trắng. Sẽ không quá khi nói Thanh niên Tiền phong chính là lực lượng quân đội của chính quyền Trần Trọng Kim tại Sài Gòn.
Người Nhật ủng hộ và thực tế là có huấn luyện cho Thanh niên Tiền phong. Họ cũng cần một lực lượng dù là bán vũ trang sẵn sàng chiến đấu nếu quân Đồng Minh đổ bộ. Điều họ không ngờ rằng đa số các thành viên trong ban lãnh đạo Thanh niên Tiền phong thực tế là các cảm tình viên của Việt Minh. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ngay sát ngày khởi nghĩa thậm chí còn treo cờ đỏ búa liềm tại tư gia như sự thách thức phía Nhật. Luật sư Thái Văn Lung về sau sẽ hy sinh khi tham gia kháng chiến chống Pháp. Kỹ sư Kha Vạng Cân, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, đặc biệt là ba sinh viên Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước thì đều đã móc nối với Việt Minh và cá nhân ông Trần Văn Giàu để sẵn sàng huy động lực lượng này đi chiếm chính quyền.
Từ trái qua phải: Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, và Mai Văn Bộ
Nói một chút về bộ ba Huỳnh – Mai – Lưu này. Thời điểm khởi nghĩa tháng Tám, ba người đều có danh xưng là “sinh viên”, nhưng trên thực tế họ đã bỏ học từ năm 1943 theo vận động của một đại diện Việt Minh. Ông Huỳnh Văn Tiểng kể lại rằng vào năm 1943, khi còn theo học ở Viện đại học Đông Dương ở Hà Nội, ba ông và nhiều sinh viên khác có một cuộc họp với một đại diện của Tổng bộ Việt Minh (không rõ tên). Trong cuộc họp này, đại diện Việt Minh khuyên các sinh viên miền Nam nên… bỏ học để vào lại miền Nam chuẩn bị tranh đấu, và cần thiết phải lập một chính đảng cho giới trí thức gọi là Đảng Dân Chủ. Lời kêu gọi “bỏ học” đó được hưởng ứng và nhóm sinh viên miền Nam quyết định “xếp bút nghiên” về Nam tranh đấu. Họ sử dụng vỏ bọc hợp pháp như dạy học, nhạc sĩ v.v… để tuyên truyền lòng yêu nước. Các tác phẩm của bộ đôi Huỳnh Văn Tiểng và Lưu Hữu Phước trong thời gian này cũng đã trở thành quốc ca, quốc hiệu, nhạc lễ của cả hai chính thể Việt Nam sau này. Hoạt động của họ dưới danh nghĩa Đảng Dân Chủ đã lôi kéo được các trí thức khác như Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch tham gia (tương tự như miền Bắc, Đảng Dân Chủ huy động được Vũ Đình Hòe, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Vũ Trọng Khánh, Nghiêm Xuân Yêm v.v…) và cũng không thoát khỏi con mắt của Trần Văn Giàu. Tất nhiên, sự nghi kị ban đầu là có vì theo ông Giàu, ông không rõ nhóm này hoạt động tôn chỉ gì, mục đích ra sau. Nhưng dần dần thì ông Giàu đã nhìn thấy được nhóm thanh niên này sẽ rất hữu ích cho cuộc cách mạng về sau.
Như vậy, bên cạnh quần chúng nhân dân, công nhân trong các công đoàn, thì lực lượng chủ lực để đi cướp chính quyền ở Sài Gòn lại chính là lực lượng Thanh niên Tiền phong, vốn được xây dựng để phục vụ chính quyền Trần Trọng Kim, nhưng đã trở thành một phần của Việt Minh.
Tiến tới tổng khởi nghĩa
Trong hồi ký của mình, ông Trần Văn Giàu thừa nhận bản thân đã nhận định sai tình hình khi tin rằng Nhật Bản sẽ thua trận, nhưng ít nhất cũng sẽ trụ được đến cuối năm 1945. Nhận định này không phải không có cơ sở vì tuy thua liên miên trên các đảo, bầu trời Nhật Bản bị khống chế, và hải quân Nhật Bản xem như không còn tồn tại, lục quân Nhật Bản còn rất đông và nội địa Nhật Bản vẫn chưa bị xâm phạm. Cần nhớ rằng Đồng Minh chỉ đánh gục được Đức Quốc Xã và Phát xít Ý khi tiến hành các cuộc đổ bộ đẫm máu ở phía Tây, và tiến quân khủng khiếp ở phía Đông. Ngay cả Tổng tham mưu trưởng Đại tướng George Marshall của Mỹ cũng nhận định, một cuộc đổ bộ để đánh gục quân Nhật ở Thái Bình Dương sẽ tiêu tốn của Mỹ ít nhất 500.000 quân nhân.
Điều mà ông Giàu và nhiều người không ngờ tới đó là hai quả bom nguyên tử ném vào Hiroshima và Nagasaki trong những ngày đầu tháng 08/1945. Liên Xô tức tốc tuyên chiến và tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật trên toàn cõi Mãn Châu đẩy nhanh sự gục ngã của ý chí chiến đấu của Nhật Bản. Với sự trung thành cuối cùng dành cho Nhật Hoàng, phe quân phiệt Nhật phất cờ trắng đầu hàng vì lo ngại chính bản thân Tokyo sẽ bị ném bom. Nhật Bản thất bại chỉ sau hai quả bom tạo nên cú sốc to lớn cho toàn bộ quân đội Nhật ở khắp nơi tại Đông Á. Tin tức Nhật đầu hàng cũng là một đòi hỏi cho các nhà cách mạng ở Việt Nam phải hành động. Câu hỏi bây giờ đó là ai đủ dũng cảm để chớp thời cơ, giành chính quyền. Ở đây, mình trộm nghĩ rằng Việt Nam đã có phần may mắn khi tuy Cách mạng diễn ra không thống nhất trên cả nước, nhưng nhìn chung vẫn đã quy về một mối là Việt Minh giành chính quyền. Mình không hình dung được điều gì sẽ xảy ra nếu ở mỗi Kỳ, các lực lượng chính trị khác nhau giành được chính quyền.
Quay trở lại, chúng ta đều biết rằng Nam Bộ lúc này gần như không kịp có tin tức về những mệnh lệnh khởi nghĩa hay quân lệnh từ Pác Bó. Vì vậy, họ phải hành động độc lập. Đối với người Kộng sản, họ có hai lựa chọn. Lựa chọn 1 phù hợp với tinh thần, kỷ luật đảng, đó là chờ lệnh từ Trung ương và hành động. Làm như vậy có thể mất thời cơ, nhưng đảm bảo có sự thông suốt từ Bắc vào Nam. Lựa chọn 2 là căn cứ tình hình thực tế và triển khai khởi nghĩa. Tất nhiên, những người theo lựa chọn này phải đối mặt với rủi ro rằng họ hành động một mình, và một Khởi nghĩa Nam kỳ khác sẽ lại lặp lại.
Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thập thì có thể thấy rằng Xứ ủy Giải phóng đã chọn làm theo Lựa chọn 1 bằng việc cử ra tới 4 đại biểu dự Đại hội Tân Trào. Xứ ủy Tiền phong một mặt vẫn cử người ra dự Đại hội Tân Trào, mặt khác với tính cách sôi nổi của Trần Văn Giàu, đã quyết định chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Một ủy ban khởi nghĩa năm người do Trần Văn Giàu lập ra để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Ông Giàu lý luận rằng khởi nghĩa ở Nam kỳ chỉ thành công nếu nó nổ ra đầu tiên và thành công ở Sài Gòn. Quan điểm cách mạng từ thành phố lớn rồi lan rộng ra nông thôn phù hợp hoàn toàn với những gì ông được dạy ở đại học Phương Đông Moskva, vì đó chính là cách mà Lenin đã chỉ đạo cuộc Cách mạng tháng Mười 1917.
Tuy nhiên, các thành viên khác trong Ủy ban khởi nghĩa (bao gồm cả các đại diện của Thanh niên Tiền phong) không muốn khởi nghĩa mà không có sự đồng ý của Xứ ủy Tiền phong. Vì vậy, một cuộc họp mở rộng của Xứ ủy Tiền phong đã diễn ra tại Chợ Đệm, Hóc Môn vào đêm 16, rạng sáng ngày 17/08/1945. Lịch sử chính thống gọi là Hội nghị Chợ Đệm.
Sử liệu về Hội nghị Chợ Đệm, tiếc thay, lại quá hiếm hoi. Đa số những gì diễn ra tại Hội nghị đều do ông Trần Văn Giàu và một phần nào đó là ông Chín Trọng, bí thư Đảng bộ Tân An, kể lại. Vì vậy, ở phần này, mình lưu ý rằng diễn biến của Hội nghị Chợ Đệm là thông qua lời kể của ông Giàu được in trong Hồi ký của ông, và trong bộ sách “Mùa thu rồi, Ngày hăm ba” in năm 1995 (do ông Giàu chủ biên, có sự tham gia của ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Hưởng, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Trần Văn Trà, và một nhân vật viết lại lời kể của nhân chứng có tên là Tô Lâm – nhưng không biết chính xác đây là ai).
Lấy từ nguồn: Nguồn
Để hiểu về Thanh niên Tiền phong, cần hiểu bối cảnh của cuộc đảo chính ngày 09/03/1945 của Nhật đối với Pháp. Đông Dương từ sau năm 1940 đã trở thành một thuộc địa trên danh nghĩa của Pháp, nhưng trên thực tế của Nhật. Sự đầu hàng của Pháp trước Đức Quốc Xã khiến cho Nhật có thể dễ dàng đóng quân ở Đông Dương, và yêu cầu chính quyền Pháp ở đây tham gia vào việc phòng thủ chung chống lại phe Đồng Minh. Vì lẽ đó mà Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng trở thành mục tiêu ném bom của máy bay Mỹ trong suốt Thế chiến. Khi người Nhật thất bại liên tục trên biển vào năm 1945, bộ tư lệnh Nhật đã tin rằng một cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào các lãnh thổ của Nhật là không thể tránh khỏi (đặc biệt là sau khi Philippines đã bị quân Đồng Minh chiếm lại). Chính vì vậy, người Nhật quyết định tăng cường sự thống trị của mình lên các lãnh thổ dễ bị đổ bộ, chẳng hạn như Đông Dương. Viện cớ người Pháp “không thành thật” trong việc thi hành hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, Nhật nổ súng trong một đêm, lật đổ Pháp tại Đông Dương. Diễn biến của cuộc đảo chính này được bác sĩ Ngô Văn Quỹ viết khá kĩ trong cuốn sách “Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau” do NXB Trẻ xuất bản năm 2001. Lúc này, nhận thấy một thời cơ cách mạng dần chín muồi (đó là Nhật đã lật được Pháp, mà Nhật vốn là một quốc gia phe Trục đang trên đà thất bại), Trung ương Đảng do Trường Chinh đứng đầu đã ra “Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12/03/1945. Nội dung chủ yếu của chỉ thị này đó là thay đổi khẩu hiệu từ chống Nhật, Pháp sang tập trung chống Nhật, nhằm thể hiện bản chất chống phát xít của phong trào cách mạng Việt Nam, tranh thủ phe Đồng Minh. Chỉ thị cũng yêu cầu cả nước chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong tinh thần chủ động chớp thời cơ bằng một lực lượng được xây dựng dần dần thông qua phát động chiến tranh du kích, chiếm cứ điểm, phá kho thóc v.v…
Đây là một chỉ thị quan trọng, tuy nhiên không hẳn là phù hợp cho bối cảnh cách mạng cả nước. Thực tế thì chỉ thị được hưởng ứng mạnh mẽ ở vùng nông thôn, đặc biệt là nông thôn phía Bắc sẽ chịu nạn đói hoành hành trong năm 1945 (một ngoại lệ là Quảng Ngãi, nơi du kích Ba Tơ chiếm được chính quyền khá sớm). Đường lối khởi nghĩa có phần Maoist (lấy nông thôn bao vây thành thị) này lại khó mà áp dụng ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Về sau, diễn biến của Cách mạng sẽ cho thấy chỉ khi có sự kết hợp của khởi nghĩa thành thị và nông thôn thì Cách mạng tháng Tám mới thành công. Đối với Nam Bộ, có lẽ nhờ tiếp cận chỉ thị này từ sớm qua liên lạc của bà Tám và ông Giáp mà Xứ ủy Tiền phong đã có khẩu hiệu “kháng Nhật, kiến quốc” khá sát với chỉ đạo của Pác Bó (tuy họ sẽ bị phe Giải phóng phê phán là thân Pháp).
Điều thú vị là trong Hồi ký và những bài viết kể lại sự kiện tháng Tám 1945 ở Sài Gòn, ông Giàu không nhắc mấy đến chỉ thị này, mà chỉ nhắc nhiều đến tinh thần của Nghị quyết Trung ương VIII từ năm 1941 về thành lập Việt Minh. Đối với ông Giàu, Việt Minh như một tổ chức đủ lớn để cho ông nhiều lý lẽ hành động theo cách mà ông thấy phù hợp. Ông từ chối thành lập các đoàn quân du kích ở miền Nam để chiếm cứ điểm như chỉ thị tháng 03/1945 có yêu cầu. Ông cũng chưa một lần ra Bắc hay gặp liên lạc viên của Trung ương để nhận lệnh. Trái lại, lực lượng mà ông dựa vào để hành động lại là Thanh niên Tiền phong, và kim chỉ nam của ông ngoài Nghị quyết VIII thì còn là kinh nghiệm về giành chính quyền mà Lenin đúc kết trong Cách mạng tháng Mười Nga, và trong tác phẩm Bàn về Cách mạng viết về Cách mạng 1905.
Trở lại với nội tình Việt Nam sau đảo chính Pháp – Nhật, dưới danh nghĩa Đại Đông Á, Nhật mau chóng trao trả độc lập danh nghĩa cho vua Bảo Đại, hòng có điều kiện thành lập ở Việt Nam các lực lượng quân địa phương như cách họ làm ở Miến Điện hay Mãn Châu. Vua Bảo Đại sau đó chỉ định sử gia Trần Trọng Kim thành lập một chính quyền gọi là Đế Quốc Việt Nam. Đây là một chính quyền phôi thai vì cơ sở hoạt động của nó là một Đạo Dụ của Bảo Đại, còn bản hiến pháp thì được cho là sẽ do một hội nghị lập hiến thông qua nhưng cuối cùng đã không thành sự thật. Đặc biệt, chính quyền này có vẻ là một chính quyền liên Kỳ, nơi mỗi Kỳ đều có một đại diện của Bảo Đại đóng vai trò không khác gì các quan toàn quyền Pháp ngày xưa ở mỗi Kỳ (gọi là quan khâm sai). Tất nhiên, bên cạnh mỗi quan khâm sai ở mỗi Kỳ là một cố vấn Nhật Bản, người trên danh nghĩa sẽ “cố vấn” các quyết định quan trọng trong thời gian Việt Nam chưa có hiến pháp.
Ngoài ra, chính quyền này cũng là một chính quyền không có quân đội. Có lẽ người Nhật chưa mấy tin tưởng vào ông vua Tây học Bảo Đại nên không muốn tổ chức một đội quân có thể bắn lại họ khi Đồng Minh đổ bộ. Tuy nhiên, chính quyền Trần Trọng Kim lại thương lượng được với người Nhật thành lập một Bộ gọi là Bộ Thanh Niên, do luật sư Phan Anh lãnh đạo, cốt để rèn luyện thể thao, sức khỏe, kỹ năng cho thanh niên theo tinh thần của Hướng Đạo Sinh. Một lực lượng hàng triệu thanh niên vì vậy đã được huy động và thực tế, họ không khác gì một đội quân sẵn sàng cầm súng chiến đấu (tất nhiên, đội thanh niên này chưa có súng trong tay). Ở miền Bắc và Trung, luật sư Phan Anh tổ chức được đội Thanh niên Tiền tuyến (hay còn gọi là Thanh niên Phan Anh, Thanh niên Hoàng Diệu). Còn ở miền Nam, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được giao tổ chức Thanh niên Tiền phong, hoạt động như một tổ chức bán vũ trang, có nhiệm vụ bảo vệ xóm làng, địa phương. Thanh niên Tiền phong còn tham gia cứu hộ, cứu nạn trong các vụ oanh tạc của phe Đồng Minh ở miền Nam, và tham gia vận động của cải, lương thực ứng cứu cho miền Bắc trong nạn đói Ất Dậu. Theo thống kê, lực lượng này ở Sài Gòn là 20 vạn, và trên toàn cõi miền Nam là hơn 1 triệu. Quân số Nhật Bản ở toàn Đông Dương thời điểm này là vào khoảng 30 vạn quân. Nhạc hiệu của tổ chức là bài Lên Đàng của Lưu Hữu Phước. Cờ hiệu là cờ vàng sao đỏ. Đồng phục áo sơ mi trắng cọc tay, quần đùi trắng, nón cối trắng. Sẽ không quá khi nói Thanh niên Tiền phong chính là lực lượng quân đội của chính quyền Trần Trọng Kim tại Sài Gòn.


Người Nhật ủng hộ và thực tế là có huấn luyện cho Thanh niên Tiền phong. Họ cũng cần một lực lượng dù là bán vũ trang sẵn sàng chiến đấu nếu quân Đồng Minh đổ bộ. Điều họ không ngờ rằng đa số các thành viên trong ban lãnh đạo Thanh niên Tiền phong thực tế là các cảm tình viên của Việt Minh. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ngay sát ngày khởi nghĩa thậm chí còn treo cờ đỏ búa liềm tại tư gia như sự thách thức phía Nhật. Luật sư Thái Văn Lung về sau sẽ hy sinh khi tham gia kháng chiến chống Pháp. Kỹ sư Kha Vạng Cân, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, đặc biệt là ba sinh viên Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước thì đều đã móc nối với Việt Minh và cá nhân ông Trần Văn Giàu để sẵn sàng huy động lực lượng này đi chiếm chính quyền.

Nói một chút về bộ ba Huỳnh – Mai – Lưu này. Thời điểm khởi nghĩa tháng Tám, ba người đều có danh xưng là “sinh viên”, nhưng trên thực tế họ đã bỏ học từ năm 1943 theo vận động của một đại diện Việt Minh. Ông Huỳnh Văn Tiểng kể lại rằng vào năm 1943, khi còn theo học ở Viện đại học Đông Dương ở Hà Nội, ba ông và nhiều sinh viên khác có một cuộc họp với một đại diện của Tổng bộ Việt Minh (không rõ tên). Trong cuộc họp này, đại diện Việt Minh khuyên các sinh viên miền Nam nên… bỏ học để vào lại miền Nam chuẩn bị tranh đấu, và cần thiết phải lập một chính đảng cho giới trí thức gọi là Đảng Dân Chủ. Lời kêu gọi “bỏ học” đó được hưởng ứng và nhóm sinh viên miền Nam quyết định “xếp bút nghiên” về Nam tranh đấu. Họ sử dụng vỏ bọc hợp pháp như dạy học, nhạc sĩ v.v… để tuyên truyền lòng yêu nước. Các tác phẩm của bộ đôi Huỳnh Văn Tiểng và Lưu Hữu Phước trong thời gian này cũng đã trở thành quốc ca, quốc hiệu, nhạc lễ của cả hai chính thể Việt Nam sau này. Hoạt động của họ dưới danh nghĩa Đảng Dân Chủ đã lôi kéo được các trí thức khác như Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch tham gia (tương tự như miền Bắc, Đảng Dân Chủ huy động được Vũ Đình Hòe, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Vũ Trọng Khánh, Nghiêm Xuân Yêm v.v…) và cũng không thoát khỏi con mắt của Trần Văn Giàu. Tất nhiên, sự nghi kị ban đầu là có vì theo ông Giàu, ông không rõ nhóm này hoạt động tôn chỉ gì, mục đích ra sau. Nhưng dần dần thì ông Giàu đã nhìn thấy được nhóm thanh niên này sẽ rất hữu ích cho cuộc cách mạng về sau.
Như vậy, bên cạnh quần chúng nhân dân, công nhân trong các công đoàn, thì lực lượng chủ lực để đi cướp chính quyền ở Sài Gòn lại chính là lực lượng Thanh niên Tiền phong, vốn được xây dựng để phục vụ chính quyền Trần Trọng Kim, nhưng đã trở thành một phần của Việt Minh.
Tiến tới tổng khởi nghĩa
Trong hồi ký của mình, ông Trần Văn Giàu thừa nhận bản thân đã nhận định sai tình hình khi tin rằng Nhật Bản sẽ thua trận, nhưng ít nhất cũng sẽ trụ được đến cuối năm 1945. Nhận định này không phải không có cơ sở vì tuy thua liên miên trên các đảo, bầu trời Nhật Bản bị khống chế, và hải quân Nhật Bản xem như không còn tồn tại, lục quân Nhật Bản còn rất đông và nội địa Nhật Bản vẫn chưa bị xâm phạm. Cần nhớ rằng Đồng Minh chỉ đánh gục được Đức Quốc Xã và Phát xít Ý khi tiến hành các cuộc đổ bộ đẫm máu ở phía Tây, và tiến quân khủng khiếp ở phía Đông. Ngay cả Tổng tham mưu trưởng Đại tướng George Marshall của Mỹ cũng nhận định, một cuộc đổ bộ để đánh gục quân Nhật ở Thái Bình Dương sẽ tiêu tốn của Mỹ ít nhất 500.000 quân nhân.
Điều mà ông Giàu và nhiều người không ngờ tới đó là hai quả bom nguyên tử ném vào Hiroshima và Nagasaki trong những ngày đầu tháng 08/1945. Liên Xô tức tốc tuyên chiến và tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật trên toàn cõi Mãn Châu đẩy nhanh sự gục ngã của ý chí chiến đấu của Nhật Bản. Với sự trung thành cuối cùng dành cho Nhật Hoàng, phe quân phiệt Nhật phất cờ trắng đầu hàng vì lo ngại chính bản thân Tokyo sẽ bị ném bom. Nhật Bản thất bại chỉ sau hai quả bom tạo nên cú sốc to lớn cho toàn bộ quân đội Nhật ở khắp nơi tại Đông Á. Tin tức Nhật đầu hàng cũng là một đòi hỏi cho các nhà cách mạng ở Việt Nam phải hành động. Câu hỏi bây giờ đó là ai đủ dũng cảm để chớp thời cơ, giành chính quyền. Ở đây, mình trộm nghĩ rằng Việt Nam đã có phần may mắn khi tuy Cách mạng diễn ra không thống nhất trên cả nước, nhưng nhìn chung vẫn đã quy về một mối là Việt Minh giành chính quyền. Mình không hình dung được điều gì sẽ xảy ra nếu ở mỗi Kỳ, các lực lượng chính trị khác nhau giành được chính quyền.
Quay trở lại, chúng ta đều biết rằng Nam Bộ lúc này gần như không kịp có tin tức về những mệnh lệnh khởi nghĩa hay quân lệnh từ Pác Bó. Vì vậy, họ phải hành động độc lập. Đối với người Kộng sản, họ có hai lựa chọn. Lựa chọn 1 phù hợp với tinh thần, kỷ luật đảng, đó là chờ lệnh từ Trung ương và hành động. Làm như vậy có thể mất thời cơ, nhưng đảm bảo có sự thông suốt từ Bắc vào Nam. Lựa chọn 2 là căn cứ tình hình thực tế và triển khai khởi nghĩa. Tất nhiên, những người theo lựa chọn này phải đối mặt với rủi ro rằng họ hành động một mình, và một Khởi nghĩa Nam kỳ khác sẽ lại lặp lại.
Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thập thì có thể thấy rằng Xứ ủy Giải phóng đã chọn làm theo Lựa chọn 1 bằng việc cử ra tới 4 đại biểu dự Đại hội Tân Trào. Xứ ủy Tiền phong một mặt vẫn cử người ra dự Đại hội Tân Trào, mặt khác với tính cách sôi nổi của Trần Văn Giàu, đã quyết định chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Một ủy ban khởi nghĩa năm người do Trần Văn Giàu lập ra để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Ông Giàu lý luận rằng khởi nghĩa ở Nam kỳ chỉ thành công nếu nó nổ ra đầu tiên và thành công ở Sài Gòn. Quan điểm cách mạng từ thành phố lớn rồi lan rộng ra nông thôn phù hợp hoàn toàn với những gì ông được dạy ở đại học Phương Đông Moskva, vì đó chính là cách mà Lenin đã chỉ đạo cuộc Cách mạng tháng Mười 1917.
Tuy nhiên, các thành viên khác trong Ủy ban khởi nghĩa (bao gồm cả các đại diện của Thanh niên Tiền phong) không muốn khởi nghĩa mà không có sự đồng ý của Xứ ủy Tiền phong. Vì vậy, một cuộc họp mở rộng của Xứ ủy Tiền phong đã diễn ra tại Chợ Đệm, Hóc Môn vào đêm 16, rạng sáng ngày 17/08/1945. Lịch sử chính thống gọi là Hội nghị Chợ Đệm.
Sử liệu về Hội nghị Chợ Đệm, tiếc thay, lại quá hiếm hoi. Đa số những gì diễn ra tại Hội nghị đều do ông Trần Văn Giàu và một phần nào đó là ông Chín Trọng, bí thư Đảng bộ Tân An, kể lại. Vì vậy, ở phần này, mình lưu ý rằng diễn biến của Hội nghị Chợ Đệm là thông qua lời kể của ông Giàu được in trong Hồi ký của ông, và trong bộ sách “Mùa thu rồi, Ngày hăm ba” in năm 1995 (do ông Giàu chủ biên, có sự tham gia của ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Hưởng, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Trần Văn Trà, và một nhân vật viết lại lời kể của nhân chứng có tên là Tô Lâm – nhưng không biết chính xác đây là ai).

Lấy từ nguồn: Nguồn