Công Hầu Bá Tử Nam. Phân phong tước vị

Hầu tước của phương Tây hay tước hầu của phương Đông là chức tước.
Khác với "chư hầu" là 1 danh xưng.
Ví dụ như xưng vương 1 cõi, nhưng vẫn là chư hầu của Hoàng Đế, trong khi đó thì chính xác là tước vương chứ không phải tước hầu.
Ngoài ra ở trên không bàn nhiều, vì mỗi triều đại tự phân định khác nhau.
Tao chỉ phân vân kiểu chức như là :
Xa kỵ tướng quân - phiêu kỵ tướng quân - Bộc xạ đại tướng quân.
Nếu bàn thì gói gọn ở Triều TQ hoặc 1 triều đại nào đó bàn nó dễ hơn.
À quên nó éo tap mình, tự đi ra để đỡ nhục.
Tây nó dịch chữ chư hầu là vassal - phụ thuộc, phụ dung. Nên chính xác thì chư hầu là cách gọi phiếm chỉ những ai thần phục một vị vua có chủ quyền, k phân biệt ông ta là đế hay vương.
Về chức tước của mấy ông kia, mai e viết giải thích cho
 
Phương Tây phức tạp hơn rất nhiều. Ví dụ, vua (emperor) của Thánh chế La Mã nhưng k có quyền áp đặt vs chư hầu (công tước, đại công tước, bá tước...) Nhưng vẫn ông đó khi đứng trên tước hiệu khác (Hoàng đế Áo) thì lại nắm quyền lực tuyệt đối. Đúng nghĩa vua chuyên chế
Mai tao viết tiếp...
Từ từ, emperor là hoàng đế mà bác.
 
Thật ra cũng k có gì là chính xác cả. Thời tây chu phân phong chư hầu thì tao thấy có vua nhà chu xưng vương (王),dưới là công - hầu - bá - tử - nam. Gọi chung là Ngũ Đẳng.
Ngũ đẳng tước ban đầu mang ý nghĩa liên quan tới đất phong rộng hay hẹp, quân đội nhiều hay ít - thiên tử đất vuông vạn dặm, có vạn cỗ xe. Công - hầu có ngàn dặm vuông, ngàn cỗ xe, bá - bảy chục dặm vuông, tử - nam được 50 dặm. Thật ra chỉ là chia cho có trật tự chứ chả có nhiều ý nghĩa. Vì thời đó quyền lực của vua rất nhỏ chỉ quản lý quanh khu vực ngày nay là miền Quan Trung. Một số chư hầu lớn là Công thần con cháu Hoàng tộc được ông ta phong đất cho. Đám còn lại đa phần là các tù trưởng bộ lạc cha truyền con nối được ông ta hợp pháp hóa một chức danh. Còn thực tế họ chiếm bao nhiêu đất nhà nước không quản được vì vốn dĩ chế độ phong kiến thời nhà Chu là chế độ cát cứ địa phương. Hơn nữa chiến tranh, liên miên nên lãnh thổ thay đổi liên tục. Nước Tề chỉ là hầu, nhưng diệt nước Kỷ 纪,nước Lai 莱, thì đất rộng gấp nhiều lần nước Lỗ tước Công.
Các vua chư hầu thời Xuân Thu đa phần đều là tước công (公), thật ra không chuẩn. Ví dụ nước Tề, nước Tần chỉ được phong là hầu, nước Lỗ được phong công (公), nước Tống cũng vậy. Vua nước Việt, nước Ngô xưng vương nhưng chỉ là tử (子). Công ( 公) mà họ xưng mang ý nghĩa là ông chủ, người có địa vị cao, k hẳn là tước công trong ngủ đẳng

Do năm tháng lâu xa, không khảo cứu được. Sách sử chép thời kỳ ấy (như kinh Xuân Thu của khổng tử) đa số là Ngụy thư viết sau giai đoạn đốt sách chôn nho, nên chỉ là đọc cho vui.

Về sau, Cách định tước hiệu này kéo dài đến thời Minh, Thanh vẫn còn. Ví dụ như đám Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân...được phong quốc công (国公),Lưu Bá Ôn được phong Thành Ý Bá (成懿伯).. Tuy nhiên áp dụng ntn tùy thời. Ví dụ nhà Hán bỏ công, bá, tử, nam. Vua là Hoàng đế, con cháu ông ta đc phong vương (王), dưới là chư hầu. Thì tất cả là hầu (候)hết -huyện hầu, hương hầu, đình hầu. Ae đọc Tam Quốc thấy nhiều người được phong là đình hầu - cấp thấp nhất của hầu (Phí Đình Hầu chẳng hạn). Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều đến thời Tống, Kim vẫn áp dụng như vậy. Không quay lại "5 bậc quận huyện" nữa.
Khá phức tạp nhỉ, thời Thanh, Hòa Thân cũng là dòng dõi quý tộc Mãn Châu, ban dầu đc phong tước Bá, sau dc phong tước Công.
Tao có tìm danh sách tước vị của các chư hầu nhà Chu, trên wiki có nói thời đỉnh cao nhất nhà Chu có khoảng 100 nước chư hầu. Nhưng 1 lần nghe ông Nguyễn Ngọc Ngạn giải thích, ông có nói thời Chu có đến gần 1000 nước cơ. Chả rõ chính xác là bao nhiêu, tao chỉ biết những cái tên hay dc nhắc đến trong Đông Chu liệt quốc thôi
Còn bọn châu Âu có lẽ là trùng lặp, cũng có 5 tước vị cho quý tộc nên dịch giả cũng dịch là Công tước, Hầu tước.... Còn đọc từ tiếng Anh mới chuẩn, ko biết còn cách dịch nào nữa ko?
 
Thật ra cũng k có gì là chính xác cả. Thời tây chu phân phong chư hầu thì tao thấy có vua nhà chu xưng vương (王),dưới là công - hầu - bá - tử - nam. Gọi chung là Ngũ Đẳng.
Ngũ đẳng tước ban đầu mang ý nghĩa liên quan tới đất phong rộng hay hẹp, quân đội nhiều hay ít - thiên tử đất vuông vạn dặm, có vạn cỗ xe. Công - hầu có ngàn dặm vuông, ngàn cỗ xe, bá - bảy chục dặm vuông, tử - nam được 50 dặm. Thật ra chỉ là chia cho có trật tự chứ chả có nhiều ý nghĩa. Vì thời đó quyền lực của vua rất nhỏ chỉ quản lý quanh khu vực ngày nay là miền Quan Trung. Một số chư hầu lớn là Công thần con cháu Hoàng tộc được ông ta phong đất cho. Đám còn lại đa phần là các tù trưởng bộ lạc cha truyền con nối được ông ta hợp pháp hóa một chức danh. Còn thực tế họ chiếm bao nhiêu đất nhà nước không quản được vì vốn dĩ chế độ phong kiến thời nhà Chu là chế độ cát cứ địa phương. Hơn nữa chiến tranh, liên miên nên lãnh thổ thay đổi liên tục. Nước Tề chỉ là hầu, nhưng diệt nước Kỷ 纪,nước Lai 莱, thì đất rộng gấp nhiều lần nước Lỗ tước Công.
Các vua chư hầu thời Xuân Thu đa phần đều là tước công (公), thật ra không chuẩn. Ví dụ nước Tề, nước Tần chỉ được phong là hầu, nước Lỗ được phong công (公), nước Tống cũng vậy. Vua nước Việt, nước Ngô xưng vương nhưng chỉ là tử (子). Công ( 公) mà họ xưng mang ý nghĩa là ông chủ, người có địa vị cao, k hẳn là tước công trong ngủ đẳng

Do năm tháng lâu xa, không khảo cứu được. Sách sử chép thời kỳ ấy (như kinh Xuân Thu của khổng tử) đa số là Ngụy thư viết sau giai đoạn đốt sách chôn nho, nên chỉ là đọc cho vui.

Về sau, Cách định tước hiệu này kéo dài đến thời Minh, Thanh vẫn còn. Ví dụ như đám Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân...được phong quốc công (国公),Lưu Bá Ôn được phong Thành Ý Bá (成懿伯).. Tuy nhiên áp dụng ntn tùy thời. Ví dụ nhà Hán bỏ công, bá, tử, nam. Vua là Hoàng đế, con cháu ông ta đc phong vương (王), dưới là chư hầu. Thì tất cả là hầu (候)hết -huyện hầu, hương hầu, đình hầu. Ae đọc Tam Quốc thấy nhiều người được phong là đình hầu - cấp thấp nhất của hầu (Phí Đình Hầu chẳng hạn). Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều đến thời Tống, Kim vẫn áp dụng như vậy. Không quay lại "5 bậc quận huyện" nữa.
Đm chỗ này viết nhanh quá, sai 1 tý. Vương (王), đất vuông ngàn dặm, công (公)hầu (侯) đất vuông trăm dặm. Sửa gấp k sau ae có hiểu biết đọc được lại bảo tao bốc phét
 
Khá phức tạp nhỉ, thời Thanh, Hòa Thân cũng là dòng dõi quý tộc Mãn Châu, ban dầu đc phong tước Bá, sau dc phong tước Công.
Tao có tìm danh sách tước vị của các chư hầu nhà Chu, trên wiki có nói thời đỉnh cao nhất nhà Chu có khoảng 100 nước chư hầu. Nhưng 1 lần nghe ông Nguyễn Ngọc Ngạn giải thích, ông có nói thời Chu có đến gần 1000 nước cơ. Chả rõ chính xác là bao nhiêu, tao chỉ biết những cái tên hay dc nhắc đến trong Đông Chu liệt quốc thôi
Còn bọn châu Âu có lẽ là trùng lặp, cũng có 5 tước vị cho quý tộc nên dịch giả cũng dịch là Công tước, Hầu tước.... Còn đọc từ tiếng Anh mới chuẩn, ko biết còn cách dịch nào nữa ko?
Thôi đi ngủ mai bốc phét tiếp
1. Nhà Chu có nhiều hơn 1000 nước. Còn bao nhiêu nước phong công, phong hầu không quan trọng đâu. Vì sau cùng nó cũng xưng công rồi xưng vương hết mà, vua nhà Chu là cái loz gì đâu
2. Việc dịch các tước người châu Âu sang âm Hán Việt cho trùng vs ngũ đẳng của Trung quốc là có chủ ý cả. Cho dễ đọc, dễ nhớ thôi. Chứ người châu Âu nhiều tước vị hơn nhiều - đại công tước (grand duke), đại vương tử (grand prince), tuyển hầu tước (elector)...
 
Thế Monacrh giống vua các nước chư Hầu, còn King tương đương với tước Vương của nhà Chu đúng ko? Người họ Cơ ngồi ghế thiên tử ở Cảo Kinh ấy.
Châu Âu thì khác, nếu tiêu diệt và sáp nhập nhiều nước. Thì vua Châu Âu sẽ xưng vương hay hoàng đế La Mã, đối với nước Nga là Sa Hoàng. :embarrassed:
 
Phải, kể cả thời nhà Chu hay Châu Âu luôn. Không phải tước thấp thì phục tùng tước lớn. Nếu mạnh lên tiêu diệt và sát nhập nhiều nước thì nhà Chu xưng vương, Châu Âu xưng hoàng đế La Mã hay xưng vương. :embarrassed:
Thời sau La Mã thì sao? Lúc đó châu Âu chia làm nhiều nước khác nhau, có tự chủ riêng rồi
 
Thời sau La Mã thì sao? Lúc đó châu Âu chia làm nhiều nước khác nhau, có tự chủ riêng rồi
Thì vẫn xưng là hoàng đế La Mã, như hoàng đế đế chế La Mã thần thánh, Sa Hoàng cũng có nghĩa là hoàng đế La Mã. Napoleon cũng từng muốn xưng làm hoàng đế La Mã nên mới muốn thống nhất Châu Âu. :embarrassed:
 
Sai nhé. Bá trong tước bá (伯)khác vs bá trong tây bá của Chu Văn Vương hay bá trong Tây Sở Bá Vương. Bá (霸)nghĩa là bá chủ - người đứng đầu liệt hầu. 2 chữ này khác hẳn nhau về nghĩa
Còn tại sao gọi là chư hầu. Tao thấy người ta chép lần đầu chữ chư hầu (诸侯)là trong sử ký. Lúc đó đã không còn các tước công-bá-tử-nam nữa rồi. Nên chư hầu là cách gọi các lãnh chúa hợp lý nhất rồi
Bổ sung xíu - thời Chiến quốc, vua chư hầu xưng vương, tự cho ngang hàng vs vua nhà Chu rồi. Nước nhỏ như Hàn cũng Ngàn dặm, Ngụy ngàn 500 dặm, Yên Triệu 2000 dặm, Sở đất vuông 5000 dặm. Họ có chư hầu không? Có. Nhưng thời đó gọi chư hầu của vua là gì? Họ gọi là quân (君). Quân là vua một nước, nhưng k nhất thiết phải là nước có chủ quyền hoàn chỉnh. Cứ làm chủ một vùng, tự thu thuế, nắm đầu được dân trong xứ của mình thì đều gọi là quân được. Xưa người ta xếp - vua 1 xứ gọi chung là quốc quân (国君).
Hán tự thường nhất tự đa giải : Bá giả, bá dã.
伯者,霸也。
古稱諸侯的盟主。通「」。《左傳.成公二年》:「樹德而濟同欲焉,五伯之霸也。」唐.孔穎達.正義:「伯者,長也。言為諸侯之長也。鄭玄云:『天子衰,諸侯興,故曰霸。霸,把也。言把持王者之政教。』故其字或作伯,或作霸也。」
 
Sửa lần cuối:
Hán tự thường nhất tự đa giải : Bá giả, bá dã.

古稱諸侯的盟主。通「」。《左傳.成公二年》:「樹德而濟同欲焉,五伯之霸也。」唐.孔穎達.正義:「伯者,長也。言為諸侯之長也。鄭玄云:『天子衰,諸侯興,故曰霸。霸,把也。言把持王者之政教。』故其字或作伯,或作霸也。」
Ok. Vậy tao nhầm chỗ này. K phải 2 chữ mà 1 chữ 2 nghĩa. Tks mày
 
Thế Monacrh giống vua các nước chư Hầu, còn King tương đương với tước Vương của nhà Chu đúng ko? Người họ Cơ ngồi ghế thiên tử ở Cảo Kinh ấy.
K mầy. Duke, prince, count..đều là monarch hết, k phải king hay emperor mới là monarch
 
Về các danh hiệu dành cho những người cai trị ở Châu Âu
Đầu tiên cứ tạm gọi họ là lãnh chúa hết bởi vì sự khác biệt giữa lãnh chúa và các danh xưng khác của quý tộc châu Âu ở chỗ họ sở hữu đèn cai trị một lãnh thổ thực tế.
I - Khởi đầu phải nói qua một chút tại sao lại có các danh xưng của các lãnh chúa
Đế quốc La Mã là quốc gia đầu tiên thống nhất được châu Âu Bắc phi và vùng tiểu á tiền á. Vị vua đầu tiên của đế quốc La Mã Augustus xưng là Imperator Caesar Augustus - lấy theo nhà độc tài của cộng hòa La Mã. Cả Imperator Caesar hay Augustus đều trở thành danh xưng mang ý nghĩa là nhà vua tối cao của một đế quốc.
1. Đối với người La Mã và các hậu duệ của họ đế quốc tây La Mã, đế quốc Đông La Mã ,đế Quốc Hy Lạp đế quốc Byzantine. Họ sử dụng danh xưng Augustus
2. Người Đức người áo và người Nga cũng như một số các nước nhỏ khác như Bulgaria hay Serbia trong một số thời kỳ sử dụng các danh xưng tương tự Caesar - đó là Kaiser với người Đức, Áo, Tsar vs người Nga, Bulgaria và Serbia
3. Các quốc gia còn lại khi chuyển Tự tên gọi Hoàng đế của mình đều dịch chung là emperor một cách đọc chệch của Imperator.
Điều này cho thấy vai trò trong tình chính danh của người phương Tây cũng không hề kém so với Trung Hoa. Họ đều coi mình là hậu duệ của đế quốc La Mã dù theo cách này hoặc cách khác
Ngoài ra còn một điểm nữa là do sức mạnh của cơ đốc giáo trong giai đoạn chung cổ là hết sức lớn cho nên chỉ có những quốc gia mà được giáo hoàng hoặc Thượng phụ Constantinople công nhận mới được coi là hoàng đế. Điều này xảy ra với hoàng đế của đế quốc Charlemagne hay đế chế La Mã dân tộc Đức hay Sa Hoàng Nga
II - Sự sụp đổ của đế quốc tây la mã sự xâm nhập của các bộ lạc Germans và châu Âu Trung cổ
Đế quốc tây La Mã từng sở hữu rất nhiều vùng đất thuộc Tây và Nam Âu ngày nay như Pháp Tây ban Nha Bồ Đào Nha, Anh, Thụy Sĩ Italia nhiều vùng thuộc Nam tư cũ. Tuy nhiên sau đó là một giai đoạn đế quốc bị trượt dài họ phải rút khỏi Britannia, rồi bị các bộ lạc người Đức chiếm các vùng thuộc Pháp (người Franks) Tây ban Nha (Visigoth) Trung Âu và Nam Âu (Ostragoth) và cuối cùng bị tiêu diệt năm 476 (nhớ k chính xác lắm, mang máng vậy)
Do các bộ lạc dân tộc Đức không thống nhất nên xảy ra tình trạng các lãnh chúa người Đức chiếm hữu các vùng nhỏ không Theo sự quản lý chung như hình thái một quốc gia ổn định sau này. Phải đến khi những người franks thống nhất các vùng đất thuộc Pháp miền đất thấp (Benelux ngày nay)một phần đáng kể của nước Đức áo Thụy Sĩ miền Bắc Italia... Thì họ mới xây dựng được một nhà nước tương đối hoàn chỉnh bán tập quyền. Tuy nhiên cuộc vui ngắn chẳng tày gang. Do không có cơ chế phân chia lãnh thổ và chuyển ngôi như sau này nên đế quốc của Charlemagne đã bị chia nhỏ thành ba nước cho ba người cháu trai là Lothair I, Charles hói và Louis Người Đức. Hiệp ước Verdun dấu chấm hết cho đế quốc carolingian của người franks. Châu Âu chính thức quay lại giai đoạn phong kiến cát cứ.
Điểm khác biệt của giai đoạn này là các hoàng đế của đế quốc La Mã thần thánh dân tộc Đức chỉ có hư vị - dù mang danh nghĩa là người kế thừa của đế chế La Mã xưa. Các vùng lãnh thổ nhỏ được chia sẻ bởi những lãnh chúa địa phương. Họ tự thu thuế cai trị dân của mình tuyển mộ lính (châu âu trung cổ vốn ban đầu không có chế độ tòng quân bắt buộc mà chỉ là mộ lính đánh thuê được trả lương - kiểu hiệp sĩ vậy). Trải qua một giai đoạn rất dài từ thế kỉ X cho tới thế kỷ XIV, XV các quốc gia dần dần được thống nhất lại và hình thành nên bản sắc dân tộc (ví dụ Anh, Pháp sau chiến tranh trăm năm). Đối với nước đức quá trình này kéo dài tới mãi thế kỉ 19 dưới sự ảnh hưởng của Vương Quốc Phổ.
III - các danh hiệu của các lãnh chúa châu Âu
Báo chí Việt Nam vẫn dịch các danh hiệu của người châu Âu giống như ngũ Đẳng của người Trung Hoa - công tước, bá tước, hầu tước, Nam tước, tử tước. Tuy nhiên trên thực tế số lượng danh hiệu của các lãnh chúa nhiều hơn khá nhiều
1. Hoàng đế - là người cai trị đế Quốc có địa vị cao nhất và thường phải được giáo hoàng hoặc Thượng phụ Constantinople công nhận. Tuy nhiên về sau thì điều này không còn trở nên chặt chẽ nữa. Châu Âu có một vài nước có vua xưng là hoàng đế là Nga, Áo (sau này trở thành nhà nước lưỡng hợp áo hung), Đức. Về danh nghĩa Napoleon và Napoleon III Pháp cũng xưng là hoàng đế nhưng là hoàng đế của người Pháp chứ không phải của đế quốc Pháp.
2. Quốc Vương - về mặt quyền lực không hề thấp hơn hoàng đế ví dụ quốc vương của Anh Tây ban Nha hay Pháp, Thụy Điển. Tuy nhiên về mặt danh xưng họ chỉ danh xưng là vua (king).
3. Đại Công tước/đại thân vương - họ sở hữu các lãnh địa rộng lớn và thực tế là hoàn toàn độc lập với Vương Quốc. So với công tước họ sở hữu quyền lực lớn hơn một chút so với công tước khác khi thường đứng đầu một liên minh các công Quốc, bá Quốc.... Ví dụ Đại Công tước Matxcơva đại công tước Novgorod
4. Công tước - họ sở hữu các quốc gia riêng của mình nhiều công ước sở hữu các lãnh địa rất lớn. Có một số các công tước thuộc Đức sau này đã chuyển thành quốc vương của các quốc gia như Bavaria hay Wuttenberg.
5. Từ công tước cho tới tử tước: họ cũng cai trị các lãnh địa riêng của mình tuy nhiên không hoàn toàn độc lập và sở hữu nhiều quyền lực giống như các công tước. Nhiều khi họ chỉ sở hữu những vùng lãnh thổ rộng vài km² 1-2 tòa lâu đài...
6. Ở nước Đức còn có thêm một danh hiệu nữa đó là tuyển hâù tước (elector) - những người có quyền bầu Hoàng đế đế chế la mã thần thánh
IV - các cuộc chiến tranh và sự sở hữu các lãnh địa của các lãnh chúa
Các cuộc chiến tranh giành lãnh thổ giữa các lãnh chúa châu Âu dẫn đến việc một lãnh chúa sẽ sở hữu nhiều vùng đất khác và do đó họ sở hữu đồng thời nhiều danh hiệu cùng một lúc. Khác với các vị vua Châu Á sáp nhập lãnh thổ sẽ không thêm vào danh hiệu của mình danh hiệu lãnh chúa địa phương mình chiếm được
Một ví dụ đơn giản là hoàng đế Nga - trong danh sưng của mình ông ta sở hữu rất nhiều các tước hiệu như Đại Công tước Smolensk, đại công tước Litva, công tước livonia, Đại Công tước phần Lan, Đại Công tước Novgorod, sa Hoàng Siberia, sa hoàng Kazan, sa hoàng Ba Lan...
 
VN cũng thế
Trần Hưng Đạo đc phong Quốc công tiết chế
Trần Quốc Toàn đc phong Hoài Văn Hầu
Tao thấy giờ bàn về việc phân biệt Chức tước, địa vị, hay cấp quan lại thì hay hơn.
Mày chọn 1 triều đại đi bàn cho nó cụ thể.
Ví dụ như thời nhà Trần VN đi.
Theo như Wiki :
  • Hoàng thái tử (皇太子): tước vị dành cho người kế vị Hoàng đế.
  • Đại vương (大王) / Vương (王): dành cho hoàng tử, các anh em và con trai khác của Hoàng đế.
  • Trưởng công chúa (長公主) / Công chúa (公主): dành cho hoàng nữ, chị em hoặc con gái của Hoàng đế.
  • Quốc công (國公) / Khai quốc công (開國公): dành tặng công thần.
  • Thượng vị hầu (上位侯): dành cho con trai các thân vương.
  • Liệt hầu (列侯): dành cho tôn thất và công thần.
  • Á hầu (亞侯).
  • Quan nội hầu (關內侯): có phẩm trật bổng lộc, nhưng không thể thừa kế thế tập.
  • Minh Tự (明字): một dạng tước Bá thời Trung Quốc cổ đại; cận thị Hoàng đế thì thêm chữ Nội (內).
  • Đại liêu ban (大僚班): dành tặng công thần; cận thị Hoàng đế thì thêm chữ Nội (內).
  • Thân vương ban (亲王班): dành tặng công thần.
  • Chư vệ (諸衛): dành tặng công thần; cận thị Hoàng đế thì thêm chữ Nội (內).
  • Thượng chế (上製): dành tặng công thần; cận thị Hoàng đế thì thêm chữ Nội (內).
  • Thấp nữa là Sùng ban (崇班), Cung phụng (供奉), Hầu cấm (侍禁), Nội điện trực (內殿直) và Điện trực (殿直).

Như Wiki viết như vầy thì Đại Vương - Vẫn còn dưới Hoàng Thái Tử và trên Quốc Công.
Như mày nói : Trần Hưng Đạo được phong là Tiết Chế Quốc Công Trần Hưng Đạo, một dạng khai quốc công thần nhưng vẫn có chức danh dưới Hoàng thái tử và Vương hầu.


Hoặc trong triều cực thịnh của nhà Trần là Trần Thái Tông thì có :

Hệ thống quan lại gồm các văn võ đại thần (Tam thái, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã, Tư đồ, Tư không)
-Tể tướng (được thêm danh hiệu là Tả hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự),
-Thứ tướng (được thêm danh hiệu là Tham tri chính sự, Nhập nội hành khiển, hoặc Tả phù hữu bật),
- Các chức quan văn trong triều (Thượng thư các bộ, Tả hữu tham tri, Tả hữu gián nghị, Trung thư thị lang, Thị lang các bộ, Tả - - Hữu ty lang trung, Viên ngoại lang, Ngự sử đại phu, Ngự sử trung tướng,...),
Quan võ trong triều (Phiêu kỵ thượng tướng quân, Cấm vệ thượng tướng quân, Kim ngô đại tướng quân, Võ vệ đại tướng quân, Phó đô tướng quân,...),
Quan văn địa phương (An phủ sứ, Tri phủ, Thông phán, Thiêm phán,...),
quan võ địa phương (Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ, Thủ ngự sứ, Quan sát sứ, Đô hộ, Đô thống, Tổng quản,...).
Vua Thái Tông còn đặt lệ: cứ 15 năm thì xét duyệt quan lại 1 lần, cứ 10 năm thì thăng lên 1 tướng cho các quan, và cứ 15 năm thì thăng lên 1 chức.
Vậy thì thời Trần sẽ không có chư hầu, cũng không có các chức danh như Bá-Tử-Tước, có lẽ vì lúc đó vẫn còn nhận làm chư hầu nhà Nguyên TQ.
Nhưng thú vị là quan lại ngoài chức tước còn có sắc ban danh hiệu, việc này khi nhìn vào bia mộ các quan thì mày sẽ thấy 1 dọc các tước chức, danh hiệu nhiều đến rối rắm.
 
Hoàng Thái tử không phải tước vị anh. Đó là danh hiệu của trữ quân (tự quân)
Hoàng Thái tử là một hoàng tử nhưng cao hơn các hoàng tử khác. Bản chất là một thân vương không sở hữu đất Phong và cai trị đất Phong như một vương tử thông thường
Đối với các quốc gia nói tiếng anh họ đều dịch là prince hết
 
Ở phương tây có hai chữ để dịch chữ Vương - prince (thân vương-親王),king (quốc vương 国王)
Đại Vương, thân vương, Vương..đều là vương k cai trị quốc gia (親王), về bản chất là hư danh, giống nhau. Chỉ là thêm cái tên vào cho oai. Hoàng tử con vua được phong vương nhiều khi còn không có đất Phong, k được về nước phong. Chỉ có cái danh hão
 
Hoàng Thái tử không phải tước vị anh. Đó là danh hiệu của trữ quân (tự quân)
Hoàng Thái tử là một hoàng tử nhưng cao hơn các hoàng tử khác. Bản chất là một thân vương không sở hữu đất Phong và cai trị đất Phong như một vương tử thông thường
Đối với các quốc gia nói tiếng anh họ đều dịch là prince hết
Gom lại nói sử vịt cho đám GenZ trong này nó học.
Đám Châu Âu thì do từ ngữ và tiếng nói nên nó đơn điệu.
Về phần đất phong và cai trị đất phong thì như trên rồi, chỉ cần có tước là sẽ có đất phong và được lập thái ấp.Kiểu tự nuôi trồng cày cấy, nuôi người nuôi quân riêng.
 
Về các danh hiệu dành cho những người cai trị ở Châu Âu
Đầu tiên cứ tạm gọi họ là lãnh chúa hết bởi vì sự khác biệt giữa lãnh chúa và các danh xưng khác của quý tộc châu Âu ở chỗ họ sở hữu đèn cai trị một lãnh thổ thực tế.
I - Khởi đầu phải nói qua một chút tại sao lại có các danh xưng của các lãnh chúa
Đế quốc La Mã là quốc gia đầu tiên thống nhất được châu Âu Bắc phi và vùng tiểu á tiền á. Vị vua đầu tiên của đế quốc La Mã Augustus xưng là Imperator Caesar Augustus - lấy theo nhà độc tài của cộng hòa La Mã. Cả Imperator Caesar hay Augustus đều trở thành danh xưng mang ý nghĩa là nhà vua tối cao của một đế quốc.
1. Đối với người La Mã và các hậu duệ của họ đế quốc tây La Mã, đế quốc Đông La Mã ,đế Quốc Hy Lạp đế quốc Byzantine. Họ sử dụng danh xưng Augustus
2. Người Đức người áo và người Nga cũng như một số các nước nhỏ khác như Bulgaria hay Serbia trong một số thời kỳ sử dụng các danh xưng tương tự Caesar - đó là Kaiser với người Đức, Áo, Tsar vs người Nga, Bulgaria và Serbia
3. Các quốc gia còn lại khi chuyển Tự tên gọi Hoàng đế của mình đều dịch chung là emperor một cách đọc chệch của Imperator.
Điều này cho thấy vai trò trong tình chính danh của người phương Tây cũng không hề kém so với Trung Hoa. Họ đều coi mình là hậu duệ của đế quốc La Mã dù theo cách này hoặc cách khác
Ngoài ra còn một điểm nữa là do sức mạnh của cơ đốc giáo trong giai đoạn chung cổ là hết sức lớn cho nên chỉ có những quốc gia mà được giáo hoàng hoặc Thượng phụ Constantinople công nhận mới được coi là hoàng đế. Điều này xảy ra với hoàng đế của đế quốc Charlemagne hay đế chế La Mã dân tộc Đức hay Sa Hoàng Nga
II - Sự sụp đổ của đế quốc tây la mã sự xâm nhập của các bộ lạc Germans và châu Âu Trung cổ
Đế quốc tây La Mã từng sở hữu rất nhiều vùng đất thuộc Tây và Nam Âu ngày nay như Pháp Tây ban Nha Bồ Đào Nha, Anh, Thụy Sĩ Italia nhiều vùng thuộc Nam tư cũ. Tuy nhiên sau đó là một giai đoạn đế quốc bị trượt dài họ phải rút khỏi Britannia, rồi bị các bộ lạc người Đức chiếm các vùng thuộc Pháp (người Franks) Tây ban Nha (Visigoth) Trung Âu và Nam Âu (Ostragoth) và cuối cùng bị tiêu diệt năm 476 (nhớ k chính xác lắm, mang máng vậy)
Do các bộ lạc dân tộc Đức không thống nhất nên xảy ra tình trạng các lãnh chúa người Đức chiếm hữu các vùng nhỏ không Theo sự quản lý chung như hình thái một quốc gia ổn định sau này. Phải đến khi những người franks thống nhất các vùng đất thuộc Pháp miền đất thấp (Benelux ngày nay)một phần đáng kể của nước Đức áo Thụy Sĩ miền Bắc Italia... Thì họ mới xây dựng được một nhà nước tương đối hoàn chỉnh bán tập quyền. Tuy nhiên cuộc vui ngắn chẳng tày gang. Do không có cơ chế phân chia lãnh thổ và chuyển ngôi như sau này nên đế quốc của Charlemagne đã bị chia nhỏ thành ba nước cho ba người cháu trai là Lothair I, Charles hói và Louis Người Đức. Hiệp ước Verdun dấu chấm hết cho đế quốc carolingian của người franks. Châu Âu chính thức quay lại giai đoạn phong kiến cát cứ.
Điểm khác biệt của giai đoạn này là các hoàng đế của đế quốc La Mã thần thánh dân tộc Đức chỉ có hư vị - dù mang danh nghĩa là người kế thừa của đế chế La Mã xưa. Các vùng lãnh thổ nhỏ được chia sẻ bởi những lãnh chúa địa phương. Họ tự thu thuế cai trị dân của mình tuyển mộ lính (châu âu trung cổ vốn ban đầu không có chế độ tòng quân bắt buộc mà chỉ là mộ lính đánh thuê được trả lương - kiểu hiệp sĩ vậy). Trải qua một giai đoạn rất dài từ thế kỉ X cho tới thế kỷ XIV, XV các quốc gia dần dần được thống nhất lại và hình thành nên bản sắc dân tộc (ví dụ Anh, Pháp sau chiến tranh trăm năm). Đối với nước đức quá trình này kéo dài tới mãi thế kỉ 19 dưới sự ảnh hưởng của Vương Quốc Phổ.
III - các danh hiệu của các lãnh chúa châu Âu
Báo chí Việt Nam vẫn dịch các danh hiệu của người châu Âu giống như ngũ Đẳng của người Trung Hoa - công tước, bá tước, hầu tước, Nam tước, tử tước. Tuy nhiên trên thực tế số lượng danh hiệu của các lãnh chúa nhiều hơn khá nhiều
1. Hoàng đế - là người cai trị đế Quốc có địa vị cao nhất và thường phải được giáo hoàng hoặc Thượng phụ Constantinople công nhận. Tuy nhiên về sau thì điều này không còn trở nên chặt chẽ nữa. Châu Âu có một vài nước có vua xưng là hoàng đế là Nga, Áo (sau này trở thành nhà nước lưỡng hợp áo hung), Đức. Về danh nghĩa Napoleon và Napoleon III Pháp cũng xưng là hoàng đế nhưng là hoàng đế của người Pháp chứ không phải của đế quốc Pháp.
2. Quốc Vương - về mặt quyền lực không hề thấp hơn hoàng đế ví dụ quốc vương của Anh Tây ban Nha hay Pháp, Thụy Điển. Tuy nhiên về mặt danh xưng họ chỉ danh xưng là vua (king).
3. Đại Công tước/đại thân vương - họ sở hữu các lãnh địa rộng lớn và thực tế là hoàn toàn độc lập với Vương Quốc. So với công tước họ sở hữu quyền lực lớn hơn một chút so với công tước khác khi thường đứng đầu một liên minh các công Quốc, bá Quốc.... Ví dụ Đại Công tước Matxcơva đại công tước Novgorod
4. Công tước - họ sở hữu các quốc gia riêng của mình nhiều công ước sở hữu các lãnh địa rất lớn. Có một số các công tước thuộc Đức sau này đã chuyển thành quốc vương của các quốc gia như Bavaria hay Wuttenberg.
5. Từ công tước cho tới tử tước: họ cũng cai trị các lãnh địa riêng của mình tuy nhiên không hoàn toàn độc lập và sở hữu nhiều quyền lực giống như các công tước. Nhiều khi họ chỉ sở hữu những vùng lãnh thổ rộng vài km² 1-2 tòa lâu đài...
6. Ở nước Đức còn có thêm một danh hiệu nữa đó là tuyển hâù tước (elector) - những người có quyền bầu Hoàng đế đế chế la mã thần thánh
IV - các cuộc chiến tranh và sự sở hữu các lãnh địa của các lãnh chúa
Các cuộc chiến tranh giành lãnh thổ giữa các lãnh chúa châu Âu dẫn đến việc một lãnh chúa sẽ sở hữu nhiều vùng đất khác và do đó họ sở hữu đồng thời nhiều danh hiệu cùng một lúc. Khác với các vị vua Châu Á sáp nhập lãnh thổ sẽ không thêm vào danh hiệu của mình danh hiệu lãnh chúa địa phương mình chiếm được
Một ví dụ đơn giản là hoàng đế Nga - trong danh sưng của mình ông ta sở hữu rất nhiều các tước hiệu như Đại Công tước Smolensk, đại công tước Litva, công tước livonia, Đại Công tước phần Lan, Đại Công tước Novgorod, sa Hoàng Siberia, sa hoàng Kazan, sa hoàng Ba Lan...
Giải thích rất chi tiết, mày rảnh thì viết về các bậc chư hầu, quý tộc nuôi môn khách trong nhà như tao đã đề cập trên kia. Tao thấy đa phần bọn này chỉ ăn ko ngồi rồi, đéo dc tích sự gì. Số môn khách đc việc rất ít.
 
Giải thích rất chi tiết, mày rảnh thì viết về các bậc chư hầu, quý tộc nuôi môn khách trong nhà như tao đã đề cập trên kia. Tao thấy đa phần bọn này chỉ ăn ko ngồi rồi, đéo dc tích sự gì. Số môn khách đc việc rất ít.
Môn khách là một khái niệm rất đặc trưng của thời chiến quốc các triều đại về sau không nuôi môn khách nữa và ý nghĩa của chữ môn khách đó cũng không giống đời sau. Ví dụ tứ công tử Xuân thân Quân Mạnh thường Quân tín lăng Quân... Nuôi rất nhiều thực khách hay môn khách.. chỉ để quảng bá thương hiệu của mình nhiều người chả có tác dụng gì dù nuôi đến cả ngàn người. Chỉ có rất ít người có tác dụng thực tế. Cái này mày có thể đọc lại trong sử ký tư Mã Thiên
 

Có thể bạn quan tâm

Top